curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 
NHỮNG GIỜ ĐỊNH MỆNH DỐI TRÁ
 
CỦA TÚ GÀN NGUYỄN CẦN 
  • Phạm Phú Bổn

Từ khoảng hơn mười năm nay, cứ vào dịp đầu tháng 11,  tại California là nơi đông tín đồ Công giáo Việt Nam nhất ở nước ngoài, lại có lễ cầu hồn cho ông Ngô Đình Diệm. Cầu hồn tưởng niệm trong nhà thờ cho một người đồng đạo đã mất là chuyện dĩ nhiên, và cũng là chuyện không thể tránh được, vì đó là dịp để cho những bầy tôi đảng Cần Lao cũ của Ngô triều quây quần vài chục người tóc đã điểm sương, kể chuyện xưa để mà tiếc nuối thời vàng son hét ra lửa từ gần nửa thế kỷ trước.

Nhưng cũng vào dịp đó, thế nào cũng có vài bầy tôi Công giáo cũ của ông Diệm, như ngày xưa loại già thì có Nguyễn văn Chức và Cao thế Dung, còn bây giờ thì như  Tôn Thất Thiện và Vũ Quang Ninh; còn loại sồn sồn thì như Nguyễn hữu Công, Nguyễn Lý Tưởng, viết trên báo hay nói trên đài vài bài phụ họa. Đặc biệt có Tú Gàn, aka Nguyễn Cần, bình luận gia cột trụ của báo Sàigòn Nhỏ, thế nào cũng cúng cho ông Diệm một bài gọi là “nghiên cứu lịch sử”, “tìm hiểu sự thật” hay “lật lại hồ sơ cũ”. Nhưng ý đồ thật sự của Tú Gàn Nguyễn Cần là chỉ muốn tuyên truyền lừa bịp những người nhẹ dạ, hoặc không sống trong thời Đệ  nhất Cọng hòa để chứng kiến những sai trái và tàn độc của chế độ nầy, hoặc bây giờ dù ở nước ngoài mà tài liệu cũng như nhân chứng còn đầy ra đó, nhưng lại lười biếng không chịu tìm tòi tra cứu để tìm hiểu đến nơi đến chốn. Với ý đồ đó và với đối tượng đó, Tú Gàn bỏ nghề thẩm phán cũ để lợi dụng sự nhẹ dạ chính trị, lười biếng nghiên cứu và khả năng tra cứu giới hạn của độc giả Việt Nam, mà thức đêm ngồi viết vài trang giấy để oằn lưng gánh ra chợ bán vài lần, nhất là lần bán vào dịp đầu tháng 11 mỗi năm.

Tháng 11 năm 2002 nầy, Tú Gàn viết một bài lấy tên là “Những Giờ Định Mệnh” đăng trên báo Saigòn Nhỏ số ra ngày 1 tháng 11 năm 2002, mà nội dung được rao bán nằm ngay ở những dòng đầu tiên của bài viết: “Các tài liệu phát hiện gần đây cho thấy Hoa Kỳ đã hoạch định cuộc đảo chánh lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm kể từ năm 1961, khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm từ chối không cho Hoa Kỳ đổ quân vào Việt Nam để mở rộng chiến tranh, và biến cố Phật giáo vào tháng 5 năm 1963 được coi là một cơ hội tốt nhất để Hoa Kỳ thi hành quyết định của mình. Cuộc đảo chánh nầy đã được cơ quan CIA hoạch định rất chu đáo từng chi tiết không để một kẽ hở nào” (nhấn mạnh của PPB). Đây là đề tài chính trị và lịch sử rất quyến rũ cho những người nghiên cứu lịch sử cận đại của Hoa Kỳ hay Việt Nam, và những người đang làm chính trị. Đây cũng là đề tài liên quan đến biến cố 1960, chính biến 1963, chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ, hoạt động của CIA, phong trào đấu tranh đòi bình quyền tôn giáo của Phật giáo Việt Nam, và chế độ Ngô Đình Diệm.

Vì đã có quá nhiều tài liệu, sách vở, báo chí, văn bản, chứng nhân đề cập đến các chủ điểm to lớn nầy rồi nên điều hấp dẫn mà Tú Gàn đặc biệt hứa hẹn với độc giả là chính ngay từ bảy chữ  đầu tiên của bài viết, “Các tài liệu phát hiện gần đây”. Vậy thì các tài liệu “gần đây” nào viết về “Hoa Kỳ đã hoạch định cuộc đảo chánh lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm kể từ năm 1961”, và các tài liệu nào chứng minh  từ năm 1961, khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm từ chối không cho Hoa Kỳ đổ quân vào Việt Nam để mở rộng chiến tranh” vừa được giải mật hay vừa được công bố mà Tú Gàn tìm ra? Những tài liệu loại nầy, nếu kiếm được và đáng tin, sẽ trở nên các văn bản sống chết đối với một số người Công giáo Việt Nam trong nỗ lực tội nghiệp muốn sơn son trét phấn cho xác chết của ông Diệm, người mà họ cố bào chữa những tội ác lịch sử bằng cách tạo ra huyền thoại rằng chính quyền ông Diệm không phải là con đẻ, rồi trở thành con tốt chống Cọng tiền phương của Mỹ, nhưng vì không chịu cho Mỹ đem quân vào Việt Nam nên ông Diệm bị CIA của Mỹ “trực tiếp điều khiển” Phật giáo và các tướng lãnh Việt Nam lật đổ ông.

Nhưng đọc hết bài viết hơn 6,000 chữ của Tú Gàn đăng trên báo Sàigòn Nhỏ để cúng ông Diệm năm nay, độc giả vừa giận vì bị lừa, vừa thương hại Tú Gàn, đã già rồi mà còn phải sống những giờ phút dối trá với mình, với người.

Do đó, bài viết nầy là để chứng minh sự dối trá đó của Tú Gàn, nhưng quan trọng hơn, là để giải thích thêm vì sao những người như Tú Gàn thì không thể không dối trá được.

NHỮNG DỐI TRÁ CỦA TÚ GÀN NGUYỄN CẦN

1. Đầu tiên, sau khi đọc hết toàn bài “Những giờ định mệnh” của Tú Gàn, độc giả đã thấy ngay mình bị lừa: Điều mà Tú Gàn rao bán lúc mở đầu bài viết là “Hoa Kỳ đã hoạch định cuộc đảo chánh lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm kể từ năm 1961” không được tác giả trình bày như là trọng tâm của bài viết. Tú Gàn chỉ viết 51 chữ trên hơn 6000 chữ về điều nầy: Cuộc đảo chánh ngày 11-11-1960 do Đảng Đại Việt chủ mưu là một sự trắc nghiệm để CIA biết ai là những kẻ trung thành với Tổng thống Ngô Đình Diệm và tìm cách biến họ thành những tay sai của CIA trong việc lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Chấm, không tài liệu, không dẫn chứng trong suốt bài viết !

Sau đó, khi có một lần đề cập đến những nhân vật chủ chốt có quan hệ đến biến cố 1960 nầy như các ông Nguyễn Chánh Thi và Vương Văn Đông, hoặc chính biến 1963 với nhiều tên của các tướng tá Việt Nam Cọng Hòa cũ, cũng không thấy nhắc đến chuyện CIA nghiên cứu (để trắc nghiệm) như thế nào, phương pháp trắc nghiệm của CIA ra sao, hay tệ lắm thì dẫn chứng một tài liệu về một ý định, một kế hoạch như thế của CIA. Tuyệt nhiên không có, Tú Gàn chỉ cần “phán” một tiếng là trở thành ... sự thật lịch sử !

2. Nhưng Tú Gàn lại rất cần tiền đề ngụy tạo nầy, dù thật ra có nó hay không thì phần còn lại của bài viết cũng vô giá trị. Tại vì phần còn lại là nỗ lực của Tú Gàn khiên cưỡng dùng một thứ logic bệnh hoạn để nối kết các sự cố và nhân vật của biến cố 1-11-63 hầu chứng minh rằng CIA đã “hoạch định chu đáo từng chi tiết, không để một kẽ hở nào” trong việc lật đổ ông Diệm. Nỗ lực đó gồm 5 tài liệu thành văn và một số điều Tú Gàn ... tự nói ra, hay nghe ông già Thanh niên Cọng hòa Cao Xuân Vĩ, bầy tôi ruột của cố vấn chính trị kiệm trùm mật vụ Ngô Đình Nhu, kể lại !

Xin nói về 5 tài liệu thành văn trước:

  • Thứ nhất là cuốn Việt Nam Nhân Chứng của ông Trần Văn Đôn, một cuốn sách không có gì là mới “phát hiện gần đây” cả (do Xuân Thu xuất bản vào năm 1989, 13 năm rồi!). Tú Gàn trích dẫn hai phát biểu của ông Lucien Conein, một nhân viên CIA mà Tú Gàn gọi là “điều khiển trực tiếp cuộc đảo chánh” (nhấn mạnh của PPB), trong khi cả trăm tài liệu Việt và Mỹ chỉ mô tả nhiệm vụ của ông nầy là liên lạc giữa tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn và (chỉ) nhóm ông Dương văn Minh (mà thôi).

Tú Gàn trích dẫn hai lần: Lần đầu, ngay đầu bài viết, Tú Gàn cho biết sau khi hai ông Diệm và Nhu trốn thoát khỏi Dinh Gia Long, ông Conein hỏi “Hai ông ấy đi đâu ? Phải bắt lại cho kỳ được, vì rất quan trọng”, thế là theo Tú Gàn, CIA trở thành kẻ “hoạch định chu đáo từng chi tiết, không để một kẽ hở nào” cho cuộc cách mạng 1963 ! Lần thứ nhì, cuối bài viết, khi viết về những giây phút cuối cùng của ông Diệm, Tú Gàn viết: “Ông Diệm không ngờ quyết định nầy là quyết định chấm dứt cuộc đời của ông. Trong cuốn “Việt Nam Nhân Chứng”, Tướng Trần Văn Đôn cho biết, Lucien Conein, người điều khiển trực tiếp cuộc đảo chánh, đã nói với các tướng đảo chánh bằng tiếng Pháp “On ne fait pas d’omelette sans casser les oeufs” {Người ta không thể làm món trứng rán mà không đập bể những cái trứng (trang 228)}”.

Tuy nhiên, đọc trang 228 của cuốn Việt Nam Nhân Chứng, ta thấy Tú Gàn đã gian dối ba chuyện :

  1. Thứ nhất, ông Đôn đã viết hai câu (mà Tú Gàn trích dẫn) liên tục sát cạnh nhau, và câu tiếng Pháp thì được để trong ngoặc nguyên văn như sau : “Hai ông ấy đi đâu ? Phải bắt lại cho kỳ được, vì rất quan trọng (On ne fait pas d’omelette sans casser les oeufs)”, trong đó, câu tiếng Việt chỉ là phần diễn ý riêng của tướng Đôn từ câu tiếng Pháp. Nhưng Tú Gàn đã cắt đôi câu viết của ông Đôn ra làm hai phần, rồi đặt vào hai hoàn cảnh hoàn toàn khác nhau, một ở đầu bài một ở cuối bài, cho hợp với ý đồ của mình để lừa độc giả.

  2. Thứ nhì, ngay trước câu nầy, ở trang 227, ông Đôn mô tả rằng khi nhận được tin hai ông Diệm Nhu trốn thoát, ông Đôn vội ra lệnh cho một số đơn vị truy lùng, đặc biệt ông còn liên lạc với Không quân và tướng Nguyễn Khánh yêu cầu cho phi cơ truy tìm ở Quân đoàn II là vùng trách nhiệm của tướng Khánh và cũng là địa phận mà các tướng lãnh đoán ông Nhu sẽ từ đấy  trốn qua Lào. Rồi ông Đôn viết tiếp: “Trong lúc đó, ông Conein theo dõi tôi, cứ hỏi: Hai ông ấy đi đâu ? ...”. Như vậy, câu hỏi của Conein không thể là một mệnh lệnh “điều khiển” tướng Đôn như Tú Gàn gian dối muốn mô tả vì chính tướng Đôn, trước đó, đã lấy quyết định bắt lại cho được hai ông Diệm Nhu và đã chỉ thị cho các đơn vị bạn thi hành rồi.

  3. Thứ ba, cách sắp đặt thứ tự các mệnh đề của Tú Gàn rất xảo quyệt:

- Bắt đầu câu bằng “Ngoài ra, Tướng Trần Văn Đôn cho biết Lucien Conein

- Tú Gàn thêm vào giữa hai dấu phẩy “,người điều khiển trực tiếp cuộc đảo chánh,”

- Tiếp tục ý của tướng Đôn “đã nói với các tướng đảo chánh bằng tiếng Pháp ...” để mập mờ tạo cho người đọc cảm tưởng là chính ông Đôn (chứ không phải Tú Gàn thêm ý riêng của mình) xác nhận Lucien Conein là người điều khiển trực tiếp cuộc đảo chánh, trong khi suốt toàn bộ cuốn sách, ông Đôn không bao giờ viết (hay ngay cả hàm ý) như vậy cả.

Chỉ một đoạn văn ngắn mà Tú Gàn cắt câu, chuyển vế, thêm ý, đổi nghĩa câu văn trích dẫn nguyên thủy như vậy thì ta phải nói Tú Gàn không còn một chút liêm sỉ nào nữa. Một người mà không còn liêm sỉ thì cực kỳ nguy hiểm vì không có gì xấu xa mà họ không dám làm !

  • Tài liệu thứ nhì là cuốn Việt Nam 1954-1975, Những sự thật chưa hề nhắc tới của hai bầy tôi khác của ông Diệm là Hoàng Lạc và Hà Mai Việt, cũng thuộc loại sách xuất bản lâu rồi. Phần trích dẫn nói về chuyện tướng Nguyễn Cao Kỳ chuẩn bị máy bay để nếu chính biến không thành công thì 2 tướng Minh và Là sẽ đi trốn. Lẽ dĩ nhiên, chẳng thấy Tú Gàn cho biết 2 tác giả nầy trích dẫn từ đâu ra, và chuyện ông Kỳ chuẩn bị máy bay nầy thì dính líu gì đến CIA “điều khiển trực tiếp”.

  • Tài liệu thứ ba là President Kennedy, Profile of Power của Richard Reeves. Đây là cuốn sách chẳng  “phát hiện gần đây” chút nào cả vì đã được Simon & Schuster Trade xuất bản lần đầu vào năm 1993 (cũng 9 năm rồi nên Tú Gàn dấu kín chi tiết phát hành !) và (theo www.amazon.com) đã được Touchstone Book, Inc. xuất bản với bìa mềm từ tháng 11 năm 1994. Mới đây, (theo Barnes & Noble) lại được Simon & Schuster Trade tái bản vào tháng 4 năm 2002. Tú Gàn dịch một đoạn ở trang 651: “Người Mỹ, vì các mục tiêu thực tế, đã cai quản đất nước. Các tướng lãnh Việt Nam cười trước các máy quay phim, nhưng lo lắng và chờ đợi tiền và chỉ thị từ Washington, thủ đô mới của Nam Việt Nam” để tìm cách nối nhận định nầy của ông Reeves với ý đồ của Tú Gàn rằng CIA “điều khiển trực tiếp” và “hoạch định chu đáo từng chi tiết, không để một kẽ hở nào” cuộc chính biến 1-11-63. Nhưng cách nối nầy không vững vì Tú Gàn đã không dịch những đoạn trước và sau đoạn trích dẫn đó :

  1. Từ cuối trang 650, ông Reeves trích công điện của Tòa Bạch Ốc cho phép đại sứ Cabot Lodge chuyển lời tới các tướng lãnh rằng “Cái chết của hai ông Diệm Nhu, dù họ đã thất bại như thế nào, đã tạo ra một chấn động tại Mỹ và nếu có người đoan quyết rằng vụ ám sát nầy là do một hay nhiều thành viên cao cấp của chế độ sắp tới (chủ xướng) thì thật là nguy hiểm cho thế đứng và danh tiếng của họ. Dù sau những tháng đàn áp và càng lúc càng bất lực (của chế độ Diệm) thì nhân dân và chính phủ Mỹ cũng sẽ nhớ đến cống hiến của ông Diệm cho tự do trong nhiều năm trước”. Đọc câu nầy thì ta thấy chính phủ Mỹ chỉ muốn thay đổi chính sách và nhân sự của chính phủ nhưng vẫn duy trì ông Diệm như yêu sách của họ từ những ngày đầu của cuộc khủng hoảng (mà một trong những điều kiện là vợ chồng Ngô Đình Nhu phải ra nước ngoài). Nhưng quan trọng hơn, câu nầy cho ta thấy các tướng lãnh đã lấy những quyết định mà chính phủ Mỹ cũng không biết trước.

  2. Cuối trang 652, ông Reeve trích một điện tín riêng của đại sứ Lodge gửi cho Tổng thống Kennedy ngày 6-11-63, trong đó có một câu quan trọng : “... Cuộc đảo chánh nầy là của người Việt Nam và là một biến cố thuận lòng dân, mà lúc đã phát động rồi thì chúng ta có muốn quản lý nó hay ngăn chận nó cũng không được, và phải khó khăn lắm thì chúng ta mới ảnh hưởng được lên  nó mà thôi”. Đêm đó, ông Kennedy cũng đã trả lời riêng rằng : ... Hành sử của riêng ngài đã làm rõ rằng chúng ta chỉ muốn cải tiến, và khi chính phủ Diệm không thực hiện được những cải tiến nầy thì chúng ta cần đối diện và chấp nhận khả năng rằng lập trường của chúng ta có thể đã khích lệ một sự thay đổi chính phủ ...”. Cuộc đối thoại nầy, một lần nữa, lại cho thấy chính phủ Mỹ đã chỉ đóng một vai trò gián tiếp và bị động trong kế hoạch và diễn tiến của chính biến 1963.

  3. Cuối cùng, và đây là điều quan trọng, dù nhận định cá nhân của ông Reeves mà Tú Gàn trích dẫn có chủ quan bao nhiêu thì nó cũng nói lên một điều chua xót hơn nhiều cho nhân dân miền Nam. Đó là hậu quả tất yếu của một giai tầng lãnh đạo đã chịu làm con tốt đầu chống Cọng cho Mỹ kể từ năm 1955, khi Mỹ thay Pháp bồng ông Diệm về cho làm Thủ Tướng, để rồi các chính quyền “Diệm không Diệm” [1] sau nầy chỉ thừa kế tiếp hệ quả của nó mà thôi. Trước đó, thì ông Diệm cũng đã “lo lắng và chờ đợi tiền và chỉ thị từ Washington” nhưng có thể không lộ liểu vì tình trạng đất nước chưa bi thảm như từ năm 1960 đến 1963, khi ông Diệm đã phá nát sinh lực văn hóa và sức mạnh chính trị của miền Nam trước khi bắt tay với Cọng sản miền Bắc. 

Do đó, nội dung những thông tin trao đổi giữa các viên chức cao cấp của chính phủ Mỹ và nhận định riêng của Richard Reeves trong cả ba trang 650, 651 và 652 chỉ làm sáng tỏ thêm tình trạng mất chính nghĩa của các lực lượng phi dân tộc đã cầm quyền tại miền Nam từ 1955 đến 1975, và riêng cho Tú Gàn, chẳng soi sáng được gì thêm cho luận cứ CIA “hoạch định chu đáo từng chi tiết, không để một kẽ hở nào” trong chính biến 1963 mà Tú Gàn bịa ra cả.

  • Tài liệu thứ tư được nhắc thoáng trong hai dòng, không ghi xuất xứ cũng chẳng cho biết tác giả, mà Tú Gàn muốn chứng minh với người đọc vai trò “trực tiếp điều khiển” của Mỹ là: “Trong cuốn Lodge in Vietnam, bà Blair có cho biết khi cuộc đảo chánh bắt đầu, ông Lodge đã ra đứng ngoài hành lang điều khiển (bằng điện thoại. - Thêm vào của PPB cho rõ nghĩa câu của Tú Gàn), để những mệnh lệnh của ông không bị ghi băng”. Thật ra thì đề tựa đầy đủ của cuốn nầy là Lodge in Vietnam: A Patriot Abroad của Anne Blair, một nữ tác giả người Úc, do Yale University Press xuất bản vào tháng 7 năm 1995 (là củ đã 7 năm, kết quả lớn nhất của nỗ lực cập nhật kiến thức “phát hiện gần đây” của Tú Gàn !) . Đây là một cuốn sách rất mỏng, chỉ 169 trang viết và 30 trang Cước chú và Ghi chú, đề cập đến hoạt động của ông Cabot Lodge trong giai đoạn từ lúc Tổng thống Kennedy bổ nhiệm ông làm đại sứ tại Nam Việt Nam cho đến lúc ông thất cử chức ứng viên Tổng thống trong đại hội bầu cử sơ bộ của đảng Cọng Hòa vào tháng 7 năm 1964. Câu của Tú Gàn “dịch” về “khi cuộc đảo chánh bắt đầu” nằm ở ba trang 68, 69 và 70 của Chương 3 (Silence and Correctness, chỉ vỏn vẹn 23 trang và 63 cước chú) , hoàn toàn không có câu nào như Tú Gàn viết cả. Đoạn duy nhất có đề cập đến “ông Lodge đã ra đứng ngoài hành lang” nằm ở cuối Chương như sau: “Đêm mồng 1 tháng 11, theo thói quen  ông Lodge đi ngủ sớm trong khi cuộc khủng hoảng chính trị Việt Nam mở màn. Trọng pháo tiếp tục nổ suốt đêm. Bà con của những người giúp việc Việt Nam rón rén chạy trốn vào khuôn viên tư dinh. Lúc 5 giờ sáng, ông Lodge ra hành lang để quan sát thành phố và đứng đó cho đến khi giao tranh chấm dứt lúc 7 giờ sáng  Tú Gàn trắng trợn bịa thêm chuyện “đứng ngoài hành lang điều khiển để những mệnh lệnh của ông không bị ghi băng” và gian dối gán cho bà Blair kể lại chuyện nầy. Thật là vô liêm sỉ !

  • Tài liệu cuối cùng là The Vietnam War, 1945-1990 của Marilyn Young thì chính Tú Gàn không đề trích dẫn đâu cả mà tự mình viết để tóm tắt rằng “ông Diệm đã làm hỏng chính sách của Hoa Kỳ về phương diện chiến thuật nên được Hoa Kỳ thay thế bằng một nhóm tướng lãnh. Khác với ông Diệm, họ lệ thuộc vào Hoa Kỳ và vì thế sẵn sàng theo những lời cố vấn”. Đối với độc giả, vì câu nầy không thấy đề là trích nguyên văn của Marilyn Young, do đó khó có thể liên hệ một lời phê phán chính trị chung chung như thế với vai trò của CIA từ 1961 đến 1963, nên độc giả, một lần nữa, lại bị Tú Gàn lạc dẫn vào một ý đồ chính trị khác.

      Thật ra, Marilyn Young (mà Tú Gàn viết sai là Marilin) vốn là một nữ giáo sư về Sử tại đại học New York University, và cuốn The Vietnam War, 1945-1990 của bà được Harpers Collins xuất bản từ năm 1991 (nghĩa là 11 năm rồi, cũng chẳng có gì là “mới phát hiện” cả !). Trang 104, bà Young viết như sau mà Tú Gàn đã nhập nhằng đánh cắp của bà ta: “And since Vietnamese realities were irrelevant to American policy, failures of policy  were generally analyzed as tactical. Thus Diem was a tactical  failure, readily replaceable by a junta whose origine, far more than was the case with Diem, made it  entirely dependent on the United States and therefore ready to follow its advice without a quarrel”.

      So với câu “dịch” trong bài Những giờ Định mệnh, ta thấy Tú Gàn gian dối hai điểm :

  1. Nâng ông Diệm vào thế chủ động độc lập khi dịch “ông Diệm đã làm hỏng” để che dấu vai trò tay sai cho Mỹ của ông Diệm, trong khi ý của bà Young, trong mạch văn của câu nầy ( Do đó, Diệm được xem như  là một thất bại chiến thuật ) lại đặt ông Diệm vào thế bị động khi người Mỹ phân tách chánh sách của chính phủ .

  2. Khi chấm câu, rồi bắt đầu bằng một câu mới bằng cách thêm chữ “Khác” :  Khác với ông Diệm, họ lệ thuộc thuộc vào Hoa Kỳ và vì thế sẵn sàng theo những lời cố vấn” là Tú Gàn đã cắt đứt câu văn liên mạch của bà Young. Bà chỉ muốn nói rõ rằng những tướng lãnh cầm quyền sau nầy thì gốc gác (whose origine) còn gắn bó vào Mỹ nhiều hơn ông Diệm đã từng gắn bó (far more than was the case with Diem). Nghĩa là ông Diệm hay các tướng lãnh thì gốc gác không khác gì nhau, có khác chăng là kẽ nhiều người ít mà thôi.

      Cũng như tiểu xảo đã sử dụng trong trường hợp trích dẫn sách của ông Trần Văn Đôn ở trên, Tú Gàn lại dùng một cái chấm để cắt đôi câu của bà Young, lấy nửa câu sau để sửa cả ý lẫn lời theo ý đồ riêng của mình, rồi gán ghép ngược lại cho bà Young để công khai lừa bịp thiên hạ. Ngoài ra, điều rất đáng nói ra mà Tú Gàn lại cố tình “quên” nói là bà Marilyn Young, trong cuốn nầy, đã phê phán nặng nề chế độ độc tài và thối nát của ông Diệm đến nơi đến chốn (từ trang 52 đến 104). Xin độc giả cứ vui      vẻ vào thư viện đọc cuốn nầy kẻo phụ lòng Tú Gàn đã “dịch” úp úp mở mở để ...  giới thiệu !

Ba cuốn sau của các tác giả Mỹ thì Tú Gàn không những viết sai tên tác giả, viết thiếu tên tác phẩm mà còn dấu kín không cho biết tên nhà xuất bản, năm phát hành, trích trang mấy, để độc giả biết có phải là tài liệu “vừa mới phát hiện” không và có khả tín không ! Ngoài ra, cả năm trích dẫn trực tiếp hay do Tú Gàn diễn dịch nói trên, ngoài chuyện cố tình dịch sai, đổi lời, sửa ý rất gian dối, lại đều chẳng dính líu gì đến khẳng định khoác lác của Tú Gàn ở đầu bài viết là CIA “điều khiển trực tiếp” và “hoạch định chu đáo từng chi tiết, không để một kẽ hở nào” cả.

Nói tóm lại, về những trích dẫn trong các tài liệu thành văn, người đọc có thể vất vào sọt rác. Và về Tú Gàn, thì ta có thể kết luận sơ khởi được rồi: vừa dốt nát vừa dối trá, chỉ trông cậy vào tính lười biếng hoặc khả năng tra cứu bị giới hạn của độc giả để thi hành trò viết lách lừa lọc của mình.

 3. Phần còn lại của bài viết là màn độc thoại của Tú Gàn để cố gắng chứng minh có bốn nhân vật là đối tượng nằm trong kế hoạch của CIA nhằm tìm  biết ai là những kẻ trung thành với Tổng thống Ngô Đình Diệm và tìm cách biến họ thành những tay sai của CIA trong việc lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm”. Đó là các ông Nguyễn Khánh, Nguyễn văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm và Đặng văn Quang.

Thế là Tú Gàn kể lung tung về bốn nhân vật đó đã được ông Diệm thăng quan tiến chức như thế nào ( đại loại như không dẫn một bằng chứng nào, tự nhiên  “Biết ông Diệm và ông Nhu tin tưởng tướng Khánh và tướng Khiêm, CIA móc nối ngay”,  hoặc “Năm 1962, có lẽ do sự sắp xếp của CIA, Đại tá Thiệu đã xin gia nhập Đảng Cần Lao để được ông Nhu tin tưởng hơn” – Nhấn mạnh chữ có lẽ của PPB, hoặc suốt bài viết không nhắc nhở gì hết đến ông Đặng Văn Quang, tự nhiên đến câu cuối cùng của bài viết lại thêm tên của ông ta với ba tướng kia là “nhân viên tình báo của CIA” ) , nhưng cuối cùng, trong ngày 1-11-63, người thì chẳng chịu cứu giá, người thì cầm quân đánh vào dinh Gia Long. Sau đó, Tú Gàn nối hai nhóm sự kiện nầy lại với nhau: “Trung thành” nên được thăng chức, và đánh vào dinh Gia Long để “lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm”, bằng một gạch nối tưởng tượng và ngớ ngẩn : Đấy, kế hoạch “biến họ (những kẻ trung thành) thành những tay sai của CIA” đấy!

Phương pháp luận của Tú Gàn vừa què quặt vừa ấu trĩ trên 4 điểm :

  • Thời gian tính : Năm 1961, sinh mệnh chính trị của chế độ Diệm đã lung lay đâu mà CIA tính chuyện lật đổ. Ngô đình Thục chưa quyết liệt diệt trừ Phật giáo, Ngô đình Nhu chưa bắt tay với Cọng sản, hai phi công Phạm phú Quốc và Nguyễn văn Cử chưa ném bom dinh Độc Lập, nhà văn Nhất Linh chưa tự vẩn, Việt Cọng vẫn chưa khống chế được nông thôn một cách quy mô, ngược lại Mỹ lại bắt đầu đưa thêm cố vấn vào Việt Nam, ... thì CIA làm kế hoạch lật đổ ông Diệm làm gì ?

  • Thực tiễn chính trị : Về mặt lý thuyết, không phải không có trường hợp một cơ quan tình báo “trồng người” như kiểu Tú Gàn lý luận, dù rất hiếm hoi. Tuy nhiên, thực tiễn chính trị của Mỹ và của miền Nam dưới chế độ Diệm vào năm 1961 làm cho lý luận nầy trở nên ấu trĩ: Mỹ đang thấm đòn vì vụ “Vịnh con heo” tại Cuba, Mỹ đang ào ạt đổ quân viện và kinh viện vào cho chế độ Diệm, Mỹ đang muốn duy trì sự ổn định chính trị tại Việt Nam để đối phó với Mặt Trận Giải phóng đã được hai tuổi. Nhưng quan trọng hơn cả, chế độ công an trị của Diệm đang ở cao điểm sau binh biến 11-11-1960 với 5 cơ quan mật vụ [2] bao trùm từ Bến Hải đến Cà Mau. Đó là chưa nói đến Thanh niên Thanh nữ Cọng hòa, Phong trào Cách mạng Quốc gia, Phụ nữ Liên đới, Đảng Cần Lao của hai vợ chồng trùm mật vụ Ngô Đình Nhu, và nguy hiểm hơn hết là hệ thống giáo dân do các họ Đạo đan chụp xuống miền Nam. Trong thực tiễn công an trị đó, trong sự vắng mặt của một lực lượng chính trị và/hoặc nhân dân đối lập đó, CIA nào mà tìm cách móc nối những người trung thành với ông Diệm để đề nghị phản ông Diệm, và sĩ quan trung thành nào mà dám hay muốn bàn tính chuyện lật đổ ông Diệm với CIA dù trong lòng họ có căm thù chế độ chăng nữa. Tú Gàn chỉ mô tả một vài liên hệ rồi cố tình diễn dịch bừa bãi cho ăn khớp với ý đồ của mình mà thôi.

  • Thực tế Lịch sử : Bốn nhân vật mà Tú Gàn gán cho là “những nhân viên tình báo của CIA”, thì chỉ có ông Nguyễn văn Thiệu là trực tiếp và tích cực tham gia từ đầu chiến dịch lật đổ nhà Ngô, còn ba vị kia đều bị động, thậm chí miễn cưỡng như trường hợp ông Đặng văn Quang. Và động cơ tham gia của ông Thiệu thì nhiều nhưng chắc chắn là không phải thi hành chỉ thị của CIA để lật đổ ông Diệm. Vả lại, sau nầy, trong nền đệ nhị Cọng hòa, chính những nhân vật nầy lại cấu kết với nhau và với lực lượng chính trị Công giáo để “phục hồi tinh thần Ngô Đình Diệm” [3]. 

  • Chứng liệu : Viết bừa bãi ở Việt Nam cho các đầu óc Phát Diệm Hố Nai đọc thì được, nhưng ra đến nước ngoài, nhất là tại Mỹ và Pháp là hai nước đã có những liên hệ lịch sử oan trái với Việt Nam, lại có hệ thống văn khố quy mô và có quyền nghiên cứu tìm tòi (Right to know và Information Act) được khuyến khích và được tôn trọng, thế mà Tú Gàn vẫn giữ cái thói “thẩm phán nửa mùa” thích gì phán vậy thì thật là tội nghiệp. Khi Tú Gàn nói đến kế hoạch của CIA, nói đến những nhân vật cụ thể với những lời cáo buộc cụ thể thì phải dẫn chứng, tối thiểu thì cũng phải trích dẫn từ một nguồn tài liệu đáng tin nào đó. Nhưng tuyệt nhiên toàn bài viết không có một chứng liệu nào khả tín cả mà chỉ toàn là những khẳng định của Tú Gàn hoặc những “kể lại” không cách nào phối kiểm được. Nếu 5 tài liệu bằng giấy trắng mực đen ở trên mà Tú Gàn còn gian dối sửa ý và ngụy tạo thêm lời được, thì những gì Tú Gàn tự nói ra hay nghe kể lại làm sao mà tin được. Ai biết được Tú Gàn bịp bợm lưu manh thì vất bài vào sọt rác, nhưng còn những độc giả không có điều kiện tra cứu hoặc lười biếng suy nghĩ thì cứ thế mà tin. Tú Gàn chỉ mong thế và chỉ ... cần số người đó thôi !

4. Gian dối sau cùng là Tú Gàn viết bài nầy chỉ để ngụy biện cho một luận điểm mà Giáo hội Công giáo Việt Nam, từ thời Đệ nhị Cọng hòa, đã bắt đầu : Phục hồi tinh thần Ngô Đình Diệm. Để xin Vatican phong thánh cho ông Diệm chăng ? Để tạo cơ sở tinh thần cho một lực lượng chính trị Công giáo cầm quyền tương lai chăng ? Hay chỉ để làm cái cớ mà tiếp tục sách lược ... liên tôn nhưng thù nghịch Phật giáo ?

Mà “phục hồi” thì trước hết phải đánh bóng con người chính trị của Ngô Đình Diệm, trong đó chiêu bài những người Công giáo như Tú Gàn hay sử dụng là “Ông Diệm tôn trọng chủ quyền quốc gia, không chịu cho Mỹ mang quân tham chiến nên chính phủ Mỹ, qua CIA, lật đổ ông ta”. Do đó mới có những bài như “Những giờ định mệnh” nầy, mới có những tuyên bố ngu xuẩn loại CIA “điều khiển trực tiếp” hay CIA “hoạch định chu đáo từng chi tiết, không để một kẽ hở nào”.

Nhờ là người Công giáo, ông Diệm được Mỹ bồng về để làm con tốt đầu chống Cọng cho Mỹ là điều chính những người Mỹ có thẩm quyền ở trong cuộc xác nhận [4] , cả dòng họ Ngô Đình và những công cụ mật vụ của họ tàn ác với nhân dân miền Nam như thế nào thì nhân dân miền Nam đã biết và đã tỏ thái độ [5] , ông Diệm đã phản bội Hiến pháp, quân đội và nhân dân miền Nam để thỏa hiệp với Cọng sản như thế nào thì người trong cuộc đã nói ra rồi [6] . Vậy thì làm sao một đám bầy tôi xơ xác hiện nay bóp méo sự thật để biện hộ cho ông ta được nữa. Tú Gàn và những người đồng đạo nên suy nghĩ thật chân thành câu nói sau đây của nhà văn Doãn Quốc Sỹ trong cuốn "Người Việt Đáng Yêu" : “Bảo là người Mỹ đã giết Diệm. Không ! Diệm đã chết trong lòng dân tộc từ lâu. Người Mỹ chỉ đến lượm cái xác sống của y

Có hay không có Mỹ thì ông Diệm cũng bị nhân dân miền Nam quật ngã. Lý do chính không ở đâu xa, những người như Tú Gàn hãy nhìn vào gương thì sẽ thấy thủ phạm ngay !

Riêng về chuyện “Mỹ muốn gửi quân tham chiến nhưng ông Diệm không chịu” mà những người Công giáo như  Tú Gàn muốn dối trá đời sau thì tôi chỉ xin kể năm tài liệu sau đây để chôn luôn cái huyền thoại nhảm nhí đó.

Thực sự là từ năm 1961, Mỹ đã không muốn gửi quân tham chiến rồi. Ngược lại, ngay từ năm 1960, chính ông Diệm thì lại đã từng xin quân Mỹ vào Việt Nam :

  1. Trong ngày binh biến 11-11-1960 của binh chủng Nhảy Dù, “Từ sáng sớm nay, Tổng thống Diệm đã nhờ Linh mục người Bỉ De Jaeger ... chuyển lời yêu cầu Thủy quân Lục chiến Mỹ đến để bảo vệ kiều dân Mỹ và chiếm giữ phi trường Sài Gòn” [7] . Trong năm 1960, kiều dân Mỹ được bao nhiêu ở Sài Gòn, và chính Tòa Đại sứ còn thấy không cần phải bảo vệ cho Mỹ kiều tại Sài Gòn thì ông Diệm xin Thủy quân Lục chiến Mỹ vào phi trường Tân Sơn Nhất để làm gì ngoài chuyện nhờ quân Mỹ hù dọa quân Nhảy Dù Việt Nam và chuẩn bị nhờ Mỹ lại “bồng” ông ra nước ngoài ... tị nạn.

  2. Tháng 10-1961, ông Nguyễn Đình Thuần, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, trong buổi họp ngày 13-10-1961 với Tòa Đại sứ Mỹ đã yêu cầu gửi “thêm các phi đoàn khu trục AD6 ... Gửi phi công dân sự Mỹ ... Gửi quân tác chiến hoặc “cố vấn tác chiến” cho quân VNCH. Một phần quân số nầy sẽ đóng ở gần vĩ tuyến 17 ... Cũng xin Trung hoa Quốc gia gửi một sư đoàn quân tác chiến ...” [8] 

  3. Tháng 11-1961, Tống thống Mỹ Kennedy “tuyệt đối không chấp nhận việc gửi quân tác chiến Mỹ sang Việt Nam”. [9] 

  4. Tháng 9-1963, Bộ Quốc phòng Mỹ  tuyên bố sớm kế hoạch đang được chuẩn bị để rút 1,000 quân Mỹ vào cuối năm 1963”. [10] 

  5. Tháng 10-1963, Bộ trưởng McNamara và tướng Taylor báo cáo cho ông Kennedy rằng chương trình huấn luyện của Mỹ tại Việt Nam sẽ tiến triển đến mức “1,000 quân nhân Mỹ đang đóng tại Việt Nam sẽ có thể được rút về vào cuối năm nay”. [11] 

Ba tài liệu cuối được trích từ In Retrospect của ông McNamara, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, và cuốn In Retrospect là cuốn mà kẻ thù chính trị của ông McNamara xăm xói từng chữ từng câu nên ông không thể dẫn chứng sai trái được. Ngoài ra, 1,000 “quân nhân” Mỹ mà ông McNamara nhắc đến thuộc về một lực lượng Mỹ đông đảo hơn đã được ông Diệm “mời” vào Việt Nam từ lâu: 16,000 cố vấn quân sự . Phân biệt được hai chữ “quân nhân tác chiến” và “cố vấn” trong bối cảnh hình thành chế độ Đệ Nhất Cọng hòa là nhìn ra được bản chất liên hệ Thầy-Trò Cha-Con của chế độ Diệm với chính quyền Mỹ.

Nói tóm lại, bài viết Những giờ định mệnh  của Tú Gàn đặt cơ sở trên một tiền đề hoang tưởng, sử dụng một phương pháp luận què quặt, minh họa bằng những chứng cớ lạc dẫn ngụy tạo gian dối, và viết với kỹ thuật xảo quyệt để tuyên truyền cho một ý đồ chính trị đen tối. Một bài như thế mà viết để chạy tội cho ông Diệm thì tội nghiệp cho cái phần hồn ông Diệm lắm lắm ...

TẠI SAO TÚ GÀN NGUYỄN CẦN KHÔNG THỂ KHÔNG DỐI TRÁ ?

Giáo sư Nguyễn Ngọc Quỳ, chuyên viên nghiên cứu và giáo sư dạy về Sử Việt Nam tại Paris, trong bài viết “Tản mạn chung quanh cuốn Trần Lục” (www.giaodiem.com) để vạch rõ những sai lầm của 4 Đức Ông, 8 Linh Mục và 6 trí thức Công giáo đã ngụy biện tìm cách vinh danh cho ông Cha theo Tây bán nước Trần Lục nầy là “vĩ nhân của dân tộc và nhân loại”, có đặt một câu hỏi rất then chốt. Đó là trong quá trình gần 20 năm tra cứu tài liệu để đi dạy cho Tây, mỗi lần đánh giá các tài liệu sử của một tác giả Công giáo Việt Nam thì ông lại thấy dối trá, ngụy tạo, và có dụng ý tuyên truyền thay vì để mô tả lại lịch sử như nó đã thật sự xảy ra. Giáo sư Quỳ tự hỏi : “Tại sao chỉ người Công giáo lại có loại ứng xử quái đản rất đậm nét, đều khắp và có tính quy luật như thế ? Và tại sao khi thêm thuộc tính “Việt Nam” vào đặc tính “Công giáo”của họ, thì cường độ đậm nét, đều khắp và có tính quy luật nầy lại gia tăng lên gấp bội ?”. Và ông đã dè dặt đưa ra giả thuyết rằng “ứng xử tâm lý đó đã trở thành vận động có tính quy luật trong tâm thức tôn giáo của người Công giáo Việt Nam.  Họ muốn thành thật cưỡng chống cũng không được!”.

Thật vậy, từ nghiên cứu tài tử như Cao văn Luận , Cao thế Dung , Lê Triết , Đỗ Mạnh Tri , đến bán tài tử như Lê Hữu Mục , Hoàng Lộc , Hà Mai Việt , Linh mục Vũ Đình Hoạt , Nguyễn Hữu Công , đến những tay chính trị hoạt đầu như Nguyễn văn Chức , Tôn thất Thiện , Nguyễn Gia Kiểng , Vũ Quang Ninh , độc giả mà thiếu nghiên cứu và yếu bóng vía thì biết là họ ngụy biện đấy, dối trá đấy, nhưng không có tài liệu và luận cứ để phản bác lại. Hoặc dù có đi nữa thì cũng không muốn nói ra vì sợ cái lưỡi gươm “phá hoại đoàn kết tôn giáo để chống Cọng” đang được chính lực lượng chính trị Công giáo hải ngoại treo lủng lẳng trên đầu mọi người, trừ đầu của giáo dân. Cho nên những người gọi là “làm nghiên cứu” của Giáo hội Công giáo Việt Nam thì cứ tiếp tục múa gậy vườn hoang, và những sự thật lịch sử đen tối có dính líu đến Công giáo Việt Nam đã bị họ trình bày dối trá thì cứ bị những người Công giáo khác tiếp tục nhai đi nhai lại sự dối trá đó. Họ cho rằng cứ lập đi lập lại mãi thì thế nào chẳng có người nhẹ dạ tin theo.

Trường hợp dối trá của Tú Gàn Nguyễn Cần, hay loại người như ông ta, thì dễ giải thích hơn nhiều, không cần phải dè dặt nữa. Vì Tú Gàn Nguyễn Cần hội đủ cả 4 điều kiện sau đây, mà điều nào cũng tràn đầy ăm ắp cả :

  1. Thứ nhất, Nguyễn Cần là bầy tôi cũ của dòng họ Ngô Đình. Nhiệm vụ của ông ta là trả thù cho chủ cũ bằng hai cách: Bôi nhọ những người đã lật đổ ông Diệm như Tướng lãnh, Phật giáo, Đảng phái quốc gia và Mỹ ( không thấy Cọng sản nằm trong danh sách nầy ) ; đồng thời đánh bóng ông Diệm là người ái quốc, chính sách ông Diệm thì độc lập với Mỹ, ... Cái truyền thống trung quân mù quáng của Nguyễn Cần, cọng thêm tình cảm đồng hương, đồng đạo và đồng chí, đã làm cho ông ta thấy mình mang một “sứ mạng lịch sử” thật thiêng liêng, một “nhiệm vụ tử đạo” thật cao cả. Cho nên dù có biết mình dối trá thì Nguyễn Cần vẫn được cái tâm thức bầy tôi thiêng liêng cao cả kia biện minh cho rồi ! Càng bị thiên hạ lên án thì Nguyễn Cần càng thấy mình sắp thành thánh ... tử đạo.

  2. Thứ nhì là Nguyễn Cần viết bài chính trị để phục vụ cho một mục đích chính trị cụ thể: Phải phục hồi cái gọi là “Tinh thần Ngô Đình Diệm” để làm nền móng đạo đức và tư cách chính thống cho lực lượng chính trị Công giáo bây giờ cũng như sau nầy. Mà muốn “phục hồi” thì trước hết Tú Gàn phải tìm cách bôi nhọ những đối thủ có thật hay do ông ta tưởng tượng ra: Đối thủ đầu tiên là những người đã biết cái sự thật nhơ nhuốc và tàn độc của “tinh thần Ngô Đình Diệm” mà đối tượng trước mắt là các Tướng lãnh và Phật giáo.

  3. Thứ ba, Nguyễn Cần viết bài chính trị, làm báo cộng đồng trong một môi trường không có hoặc khó có người kiểm chứng, phê phán và chế tài. Đó cũng là một môi trường mà lãnh vực nghiên cứu, nhất là “nghiên cứu” chính trị, thì ô nhiễm về mặt nội dung và vô giá trị về mặt khả tín. Mạnh ai nấy nói, ghét người nào chửi người đó, đơn điệu, thiếu tự do, phản dân chủ và không có một thể thống hay lương tâm nghề nghiệp nào nữa.

      Điển hình là trong một sinh hoạt trí thức cao cấp như lãnh vực nghiên cứu văn học, khoa học, chính trị mà có những bài viết,  những hiện tượng “quái đản” (để dùng từ của giáo sư Quỳ) không thể tưởng tượng nổi, thế mà vẫn được báo chí đăng tải, và có một số độc giả có đầu mà không có óc gật gù khen lấy khen để.   

      Xin minh họa bằng vài chuyện khó tin nhưng có thật trong cả ngàn chuyện dài “nhân dân tự vệ” khác của cộng đồng hải ngoại : 

  • Nguyễn Du viết truyện Kiều tuyệt hay là nhờ được gợi hứng từ Kinh Thánh” ( Lê Hữu Mục )

  • Quyển Kinh Thánh sẽ  là cẩm nang trong sứ mạng  phục hưng con người và đạo lý tại Việt Nam” [12]   

  •  Nhân quyền chỉ có thể là quyền được làm con Chúa” [13]   

  • Dưới miền Nam California, có ông Mai Thanh Truyết, hội trưởng một hội Khoa học Kỹ thuật nào đó tại California, đăng báo “nghiên cứu” về đề tài chuyên ngành của mình mà sai trái và lươn lẹo đến nổi bị 4 bài báo của giáo sư  Nguyễn Văn Tuấn tại Úc vạch mặt và “dạy” cho một bài học [14] . Thế là ông Truyết vội mon men đi nắm gấu áo các Cha để “nghiên  cứu” đấu tranh cho tự do tôn giáo hầu ... bớt ngượng.

  • Nghe lời một ông thầy thuốc đông y ở Paris và một ông tướng hồi hưu của Cọng sản ở  Việt Nam, nhiều người vội hung hăng tố cáo Cọng sản Việt Nam “bán đất dâng biển” cho Tàu. Rồi đến khi Cọng sản Việt Nam phổ biến Hiệp ước biên giới thì có ông Nguyễn Văn Canh ở trên miền Bắc California nầy, là thành viên của một ủy ban có cái tên rất phản kinh tế là “Nghiên cứu Phát triển Kinh tế Việt Nam hậu Cọng sản” lại ngây ngô viết bài đòi hỏi nhà nước Việt Nam “phải giải thích rõ ràng” những điều khoản trong Hiệp ước mà không tự hỏi vậy thì trước kia mình lấy tài liệu nào làm cơ sở để tố cáo người ta.

            Ngoại trừ một vài biệt lệ hiếm hoi, với một không khí nghiên cứu ô nhiễm như thế, với một thành phần “nghiên cứu gia” vô trách nhiệm như thế, với một trình độ nghiệp vụ xuống cấp như thế, thì Nguyễn Cần dối trá cái gì mà không được, xuyên tạc cái gì mà chẳng hy vọng có người nghe theo. Nguyễn Cần chỉ cần vài mươi năm nữa, khi thời đại mờ dần, khi nhân chứng mất hết, khi tài liệu khó tìm hơn, sẽ có những hậu duệ của ông ta lục lại tài liệu cũ, sử dụng những thông tin gian dối và luận cứ ngụy biện của ông ta bây giờ để ... giết lịch sử !   

Cuối cùng, Nguyễn Cần là người Công giáo Cần Lao Việt Nam. Và đây mới là điểm mấu chốt chỉ đạo và vận động toàn bộ ứng xử trí thức và tâm lý của Nguyễn Cần.

  • Được nhào nặn trong một hệ thống thần học và tín lý cực kỳ độc ác, phi lý, và giáo điều, những người Công giáo Việt Nam không biết gì hơn ngoài chuyện vâng lời Cha ( ở trên trời và dưới đất ) dạy phải bảo vệ quyền lợi của Giáo hội, dù điều đó có đi ngược với lý trí, đạo lý và lương tâm con người. [15]

  • Lại xét quá trình hình thành và phát triển của giáo hội Công giáo tại Việt Nam trong 600 năm qua, ta chỉ thấy bán nước, phản bội, và làm tay sai cho ngoại bang [16] mà cao điểm là chế độ Công giáo Cần lao Ngô Đình Diệm với 9 năm độc tài giáo trị tại miền Nam Việt Nam.

  • Cuối cùng, gần gũi hơn, khi xét những hoạt động tôn giáo và chính trị cụ thể của Giáo hội nầy kể từ năm 1954 cho đến 1975 ở trong nước, rồi cho đến nay ở hải ngoại, ta lại chỉ thấy dối trá, cuồng tín, xuyên tạc và ngụy tạo [17] 

Dĩ nhiên chúng ta có rất nhiều người Việt Nam tốt lành , và cũng dĩ nhiên trên thế giới có một số người Công giáo thánh thiện. Nhưng khi một người Việt Nam cùng một lúc mang hai thuộc tính “Cần lao” và “Công giáo” nầy trong quá trình đào tạo nhân cách của họ, lại đặt nó trong lò luyện não giáo điều Vatican và lớn dậy trong 600 năm làm tay sai ngoại bang bán nước, nhất là giai đoạn 50 năm qua, thì Nguyễn Cần không thể có một bản chất nào khác hơn là dối trá, và chỉ dối trá. 

Trong 4 điều kiện nói trên thì 2 điều kiện đầu là động cơ, là lý do bức xúc thúc đẩy Tú Gàn Nguyễn Cần phải bôi nhọ kẻ thù và phục hồi xác chết Ngô Đình Diệm. Điều kiện tiếp theo là môi trường thuận tiện và công cụ hữu hiệu để Tú Gàn Nguyễn Cần hoàn thành ý đồ đó. Nhưng quan trọng hơn cả là điều kiện cuối cùng, điều kiện có tính bản chất, khiến Tú Gàn Nguyễn Cần không còn một điểm chận cuối cùng, mà ta gọi là nhất điểm lương tâm, giúp ông ta biết hỗ thẹn để làm người lương thiện.

Một người có động cơ thật thôi thúc, hội đủ những công cụcơ hội cực kỳ thuận tiện, lại mang đậm bản chất và truyền thống trong tim óc rồi thì không thể ứng xử khác được. Ví von cho có vẻ giống các tòa án Mỹ thì He is condemned to tell the lie,  the whole lie, nothing but the lie.

Thật ra, cái tính dối trá nội sinh (built-in) nầy của Tú Gàn Nguyễn Cần phải được nhìn từ một lăng kính đạo lý, xét từ một quan điểm xã hội học hơn : Con hư là tại cha mẹ, Tú Gàn Nguyễn Cần như đứa con nít chỉ biết vâng lời người lớn ... thôi. Về mặt đạo lý con người và tư duy cá nhân, cha mẹ của Tú Gàn Nguyễn Cần hiện giờ đang ngồi chễm chệ ở Vatican chứ đâu xa. Cho nên từ nay, cứ mỗi lần Tú Gàn Nguyễn Cần nghĩ bậy, nói dối, làm ác thì ta cứ lột áo Giáo Hoàng , aka Đức Thánh Cha, rồi mang Cha ra giữa chợ văn chương chữ nghĩa “nện” cho ba hèo về tội không biết dạy con. 

Thế là vui rồi, nên xin riêng thành thật cảm ơn Tú Gàn Nguyễn Cần lần nầy. Và hẹn với Giáo Hoàng, aka Đức Thánh Cha, lần sau !

Phạm Phú Bổn
Santa Clara – 11/2002

Cước Chú:

[1] Cụm từ “Diệm không Diệm” nầy là của ký giả Robert Shaplen trong The Cult of Diem, New York Times, số ra ngày 14/5/72.

[2] Đoàn Công tác Đặc biệt miền Trung của Ngô đình Cẩn, Tổng nha Cảnh sát Công an của Nguyễn văn Là, Nha An ninh Quân đội của Đỗ Mậu, Phòng Nghiên cứu Chính trị của Trần Kim Tuyến, và Lực lượng Đặc biệt của Lê Quang Tung.

[3] Xem chương XIX, “Chế độ Thiệu: Chế độ Diệm không Diệm”, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, Hoành Linh Đỗ Mậu, Văn Nghệ phát hành, 1993.

[4] Xem thêm Vietnam, A political History của Joseph Buttinger, In the Midst of War của Edward Lansdale, The Pentagon Papers của Neil Sheehan, The Life and Times of Cardinal Francis Spellman của John Cooney, và Le Dragon d’Annam của Bảo Đại.

[5] Xem thêm Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của Hoành Linh Đỗ Mậu, Chín năm Máu lửa dưới Chế độ Ngô Đình Diệm của Trần Tương, Cần Lao Cách mạng Đảng của Chu Bằng Lĩnh, Việt Nam Đệ nhất Cọng hòa Toàn thư của Nguyễn Mạnh Quang,  Lịch sử Tranh đấu của Phật giáo Việt Nam của Kiêm Đạt.

[6] Xem thêm War of the Vanquished của đại sứ Ba Lan Mieczylaw Maneli.

[7] Văn khố Bộ Ngoại giao Mỹ - Công điện của ông Durbrow, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, gửi cho Bộ Ngoại giao lúc 3 giờ chiều ngày 11-11-1960.

[8] The Pentagon Papers, Battam Books, 1971 - Điện văn của Tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn gửi Bộ   Ngoại giao ngày 13-10-1961.

[9] In Retrospect, McNamara, trang 39 - Random House, 1995.

[10] In Retrospect, McNamara, trang 78 - Random House, 1995.

[11] In Retrospect, McNamara, trang 80 - Random House, 1995.

[12] Tuyên bố của cựu Nghị sĩ Nguyễn văn Chức, Tổng  Thư ký Liên đoàn Công Giáo Việt Nam tại Mỹ, nhân dịp Giáo hoàng  qua  chủ tọa một buổi lễ tại bang  Colorado.

[13] Trích từ buổi nói chuyện của Đức ông Nguyễn Đức Tiến thuộc giáo phận Orange County, phát thanh trên đài VNCR cho người Việt  tại Little  Saigon, California, sáng ngày lễ Chúa giáng sinh, 25-12-1998.

[14] Bài đầu tiên của loạt bài nầy được đăng trên báo Người Việt vào tháng 1/2002. Ba bài sau được phổ biến rộng rãi trong và ngoài nước trên mạng lưới Internet.

[15] Xin đọc Công giáo Chính sử của Trần Chung Ngọc, Công giáo, Huyền thoại và Tội ác và Công giáo trên bờ vực thẳm của Charlie Nguyễn, Thực chất của Giáo hội La Mã của Nguyễn Mạnh Quang, Vatican Thú Tội và Xin lỗi và Đối thoại với Giáo hoàng Gioan Phao lồ Đệ nhị của nhiều tác giả do Giao Điểm xuất bản.

[16] Xin đọc ‘Thập giá và Lưỡi gươm’ của Trần Tam Tỉnh, ‘Tìm về Dân tộc’ của Lý chánh Trung, ‘Đạo Thiên Chúa và Chủ nghĩa Thực dân tại Việt Nam’ của Cao Huy Thuần, ‘Lịch sử bang giao Pháp Việt’ của Nguyễn văn Thọ, ‘Việt Nam Pháp thuộc Sử’ của Phan Khoang, ‘Nguyễn Trường Tộ, Thực chất con người và Di thảo’ và ‘Trần Lục, Thực chất con người và Sự nghiệp’ của Bùi Kha và Trần Chung Ngọc, ‘Pétrus Trương Vĩnh Ký, Nhìn từ những khía cạnh và Nhận thức khác nhau’ của 7 tác giả, và một số sách của Vũ Ngự Chiêu do Văn Hóa, Texas, xuất bản.

[17] Xin đọc ‘Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi’ của Đỗ Mậu, ‘Việt Nam Đệ nhất Cọng hòa Toàn thư’ của Nguyễn Mạnh Quang, ‘Vạch mặt những con Thò lò chính trị’ của Lê Trọng Văn, truy cập trang nhà www.giaodiem.com, và khách quan theo dõi nghiên cứu chính những sách, báo và đài do những người Công giáo chủ trương tại hải ngoại.

 

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........