-
- CỘNG SẢN VÔ THẦN
- PHẬT GIÁO CŨNG VÔ THẦN
- VẬY THÌ SAO ??
Hai
chữ “vô thần” hầu như bao giờ cũng đi liền với hai chữ “Cộng sản”
trong những bản văn chống Cộng ở hải ngoại, và ngay cả ở trong nước. Không biết Cộng sản nghĩ sao chứ riêng
tôi, mỗi khi tôi đọc đến bốn chữ “Cộng sản vô thần” tôi lại mỉm
cười thương hại cho sự đần độn trí thức của các tác giả viết ra
những từ này. Bởi vì “vô thần”
là biểu hiện của tự hào, của danh dự, của sự tiến bộ trí thức. Phần phân tích sau đây sẽ chứng minh luận
cứ này.
Kết hợp Vô Thần với Cộng Sản
là một thủ đoạn tuyên truyền xuyên tạc xảo quyệt mà Ki Tô Giáo nói
chung, đặc biệt là Công Giáo La Mã, dùng để gây hận thù tôn giáo, mê
hoặc đám tín đồ thấp kém mê tín và cuồng tín, trong sách lược chống
Cộng trước đây. Ngoài ra, khai thác
lòng sùng tín đượm màu mê tín của giáo dân, giáo hội Công giáo cũng còn
cho “Đức mẹ Maria” hiện ra ở Fatima để chống Cộng với 3 điều bí
mật: 1) Cảnh tượng của hỏa ngục; 2) tiên đoán Nga Sô sẽ cải đạo
theo Công giáo; và 3) một bí mật không được tiết lộ cho đến năm 1960,
nhưng tòa Thánh đã dấu kín cho đến cuối thế kỷ 20, và khi John Paul II
tiết lộ thì không ai biết đó là thật hay giả (Xin đọc Công Giáo Chính
Sử, Chương VII, Mục 7.1: Huyền Thoại
Fatima), nhưng điều chắc là, theo một số chuyên gia về Công giáo, thì điều
“bí mật” sau cùng này là điều giáo hội phịa ra để đánh bóng vai
trò của John Paul II trước tình trạng suy thoái hiện thời của giáo hội.
Nhưng thực tế lịch sử thì sao? Chúng ta biết, đã có thời hầu hết
các nước theo Ki Tô Giáo “hữu thần” ở Âu Châu đã chịu ảnh hưởng
không ít thì nhiều của “Cộng Sản vô thần”: Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung
Gia Lợi, Ý, Nam Tư , Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Bỉ, Đan Mạch,
một phần nước Đức, và ngay cả trưởng nữ của giáo hội Công giáo: nước
Pháp. Điển hình là ở Ba Lan, sau khi
chế độ Cộng sản sụp đổ, Ba Lan vẫn “sợ đen hơn đỏ”.
Chúng ta cũng biết, giáo hoàng John
Paul II đã tuyên bố chẳng làm gì có hỏa ngục, hỏa ngục không phải là
một nơi chốn trong lòng đất. Sự kiện
này đã chứng tỏ những lời mô tả hỏa ngục của đức mẹ ở Fatima là
láo lếu, do giáo hội dàn dựng trước đây.
Và chúng ta cũng đã biết, chính quyền
Nga đã ra đạo luật đặt Công giáo ra ngoài vòng pháp luật, không làm gì
có chuyện Nga Sô cải đạo theo Công giáo.
Những sự kiện lịch sử trên đã
chứng tỏ rằng những người theo Cộng Sản ở Âu Châu cũng như ở khắp
nơi trên thế giới không hẳn là Vô Thần, và những sự hiện ra của bà
Maria trên thế giới, điển hình là ở Fatima và La Vang, chẳng qua chỉ là
những trò bày đặt của giáo hội để nuôi dưỡng lòng sùng tín Maria của
giáo dân. Thật vậy, những điều bí
mật và tiên đoán mà bà Maria tiết lộ cho 3 em bé mù chữ ở Fatima rút cuộc
đều sai bét.. Chúng bắt buộc phải
sai vì chuyện đức mẹ hiện ra ở Fatima hay bất cứ ở đâu đều là chuyện
hoang đường, và những lời giáo hội đặt vào miệng đức mẹ chỉ là
những lời lừa bịp tín đồ vì ngày nay chúng đã chứng tỏ là không có
điều nào đúng. Chúng ta cũng còn nhớ
chuyện bức tượng của đức mẹ khóc chảy máu mắt vì thương sót nhân
loại (Đức mẹ quyền phép vô cùng nhưng chỉ biết khóc đến chảy máu mắt). Chỉ phiền có một điều là người ta đã
mang máu mắt của Đức Mẹ đi phân tích DNA và chứng minh được rằng đó
là máu của ...đàn ông. Giáo hội
không hề quan tâm đến sự kiện khoa học này, chỉ cần làm sao cho tín đồ
tin là được rồi. Đó là bản chất
của một tôn giáo “mạc khải”, “tông truyền”, “thánh thiện”, là
“thân thể của Chúa”, là “hiền thê của Chúa”, một tôn giáo thường
tự nhận là “văn minh tiến bộ” nhất thế giới.
Tại sao Ki Tô Giáo lại chống Cộng
một cách điên cuồng bất kể thủ đoạn như vậy? Thật là dễ hiểu, vì lý thuyết của
Marx đã vạch trần bộ mặt thật của Ki Tô Giáo, kết quả là đưa Ki Tô
Giáo vào con đường suy thoái không có cách nào cứu vãn. Hiện tượng này thật là rõ rệt, không
những chỉ ở Âu Châu, cái nôi của Ki Tô Giáo, mà còn ở khắp nơi trên
thế giới, kể cả Bắc Mỹ. Học giả
Công giáo Joseph L. Daleiden đã viết trong cuốn Sự Mê Tín Cuối Cùng (The
Final Superstition, Prometheus Books, New York, 1994):
“Căn nguyên sự thù ghét của giáo hội Công giáo đối với Cộng Sản là
giáo hội ý thức được rằng Cộng Sản, về ảnh hưởng, là một địch
thủ tôn giáo.” (The root of the (Catholic) Church’s antipathy toward Communism is
its realization that Communism is, in effect, a rival religion).
Cũng vì vậy mà Ki Tô Giáo, nhất
là Công giáo, đã dùng mọi thủ đoạn, khai thác sự cuồng tín và mê muội
của tín đồ, gây căm thù trong đầu óc họ đối với Cộng sản mà Ki
Tô giáo gán cho hai chữ Vô Thần, hàm ý Cộng sản chống Thần của Ki Tô
Giáo. Cùng một sách lược, trước sự phát triển của Phật Giáo ở Tây
phương, giáo hoàng John Paul II đã viết cuốn Bước Qua ngưỡng Cửa Hi Vọng
trong đó ông ta phê bình: “Phật giáo đại để là một hệ thống “vô
thần”” (Buddhism is in large measure an “atheistic” system). Câu viết đần
độn lắt léo này chỉ có mục đích
đồng nhất hóa “vô thần” của Cộng Sản với “vô thần” của Phật
Giáo để giữ đám tín đồ đừng đi theo Phật Giáo. Giáo hội cũng tận dụng mọi phương tiện
truyền thông tuyên truyền để tẩy não đám tín đồ có đầu mà không
có óc, cấy vào đầu óc họ một ý niệm là “Vô thần tất nhiên phải
xấu, chỉ có tôn giáo “hữu thần” mới là tốt” trong khi sự thực lại
trái ngược hẳn lại. Những người
vô thần nổi tiếng từ xưa tới nay đều là những bậc thông thái, có đạo
đức, chứ không tàn bạo, ngu đần, vô đạo đức như một số giáo
hoàng thờ thần trong cái tôn giáo thờ thần là Công giáo như lịch sử đã
chứng minh. Và trong những xã hội Ki
Tô Giáo “hữu thần”, tỷ lệ những tội ác như giết người, cướp của,
loạn luân, con giết cha mẹ, cha mẹ giết con, ma túy v..v.. đã vượt trội
những xã hội “vô thần”.
Theo định nghĩa, Vô thần có nghĩa
là không tin, từ chối, không chấp nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa
(Atheism = Disbelief in or denial of the existence of God).
Thiên Chúa ở đây phải hiểu là Thiên Chúa của Ki Tô Giáo. Vô thần
không có nghĩa là chống Thiên Chúa, vì chống một cái không hiện hữu là
một chuyện vô ích. Nói cho đúng ra,
Vô Thần, nếu có chống, là chống sự mê tín của con người vào một
Thiên Chúa do chính con người bày đặt ra.
Khi Marx đưa ra nhận định “Tôn
giáo là thuốc phiện của quần chúng” thì Marx đã nói lên một sự kiện. Người ta thường hiểu lầm và thường
xuyên tạc lời nói trên của Marx, cho rằng Marx muốn nói đến mọi tôn
giáo trên thế giới. Thực ra, Marx chỉ
muốn nói đến Ki Tô Giáo, một tôn giáo mà Marx đã biết rõ vì Marx sinh
ra trong truyền thống tôn giáo này. Thật
vậy, chúng ta cần biết đến định nghĩa về tôn giáo của Tây phương. Theo tự điển The American Heritage
Dictinonary của Mỹ thì định nghĩa của Tôn Giáo là: “Niềm tin và sự
kính ngưỡng vào một quyền năng siêu nhiên được biết như là một đấng
sáng tạo và cai quản vũ trụ” (Religion = Belief in and reverence for a
supernatural power recongnized as the creator and governor of the universe). Lẽ dĩ nhiên, các tôn giáo Đông phương
như Phật Giáo, Lão Giáo, Khổng Giáo đều không nằm trong định nghĩa này. Mặt khác, không có bằng chứng nào chứng
tỏ Marx đã nghiên cứu hay hiểu biết về các tôn giáo Đông phương trên.
Do đó, bất cứ người nào có đôi
chút kiến thức cũng phải hiểu rằng: CS là một hệ thống chính trị xã
hội – kinh tế (Communism is a socio-economic political system) trong khi Vô Thần
là một lập trường đối với các tôn giáo (thần giáo), đặc biệt là
Ki Tô Giáo (Atheism is a position taken in respect to religion, especially Western
religion.), và Vô Thần đã có từ trên 2000 năm nay, như sẽ được chứng
minh trong phần sau, trong khi Cộng sản mới chỉ ra đời cách đây trên 100
năm.
Marx chống đối Ki Tô Giáo là
vì qua những kinh nghiệm lịch sử ở Âu Châu Marx thấy giới lãnh đạo Ki
Tô Giáo đã luôn luôn liên kết với các chính quyền và tư bản để tích
tụ của cải thế gian, bóc lột giới công nhân vô sản, qua thủ đoạn lợi
dụng lòng mê tín của lớp người ít học, lừa dối họ, khuyên họ an phận,
bảo đó là ý Chúa (thực ra là ý của đám người xảo quyệt chứ có ai
biết được ý Chúa là như thế nào đâu), và hứa hẹn cùng họ một đời
sống vĩnh cửu bên Chúa trên thiên đường, lẽ dĩ nhiên là sau khi chết. Thật vậy, chúng ta hãy đọc đoạn sau đây
trong cuốn "Tiếng Kêu Than của Người Dân" (Cry of the People",
Penny Lernoux, Penguin Books, New York, 1992, Trg. 16) để thấy rằng nhận xét của
Marx coi tôn giáo Tây phương như là thuốc phiện không hẳn là vô căn cứ:
"Ngay từ lúc đầu, xã hội Mỹ
- Latinh được kiến trúc giống như một Kim Tự Tháp, với vài người Âu
Châu đến định cư và hưởng mọi quyền lợi của đế quốc, và quần
chúng thổ dân, da đen, giai cấp thấp, không có một quyền nào. Cái tháp này tồn tại được là vì khối
nhân dân ở dưới đáy được nhắc nhở rằng họ ngu si, lười biếng, và
thấp kém. Những nhà truyền giáo ngoại quốc (Công Giáo và Tin Lành, TCN) góp phần nhồi vào đầu óc dân bản xứ
ý tưởng là họ nên an phận nghèo khổ và ngu si vì đó là ý muốn của
Chúa. Như Tổng Giám Mục ở Lima đã
bảo các thổ dân rằng: "Nghèo khổ là con đường chắc chắn nhất
đi tới hạnh phúc." (Được sống đời đời bên Chúa trên thiên đường. TCN)"
(From the very beginning, Latin-American
society was constructed like a pyramid, with a few Europeans settlers enjoying all the
privileges of empire and a mass of Indians, blacks, and haf-casters having no rights at
all. The pyramid survived because the mass at
the bottom was repeatedly told that it was stupid, lazy, and inferior. Foreign missionaries helped drum these ideas into
the natives' head by claiming that it was God's will that they should be poor and
ignorant. As the Archbishop of Lima told his
Indians, "Poverty is the most certain road to felicity.")
Trong khi đó thì giới lãnh đạo Ki Tô
Giáo sống như thế nào? Chúng ta chỉ
cần nhìn vào số của cải tích tụ của Giáo hội Công giáo với tài sản
lên tới hàng ngàn tỷ đô-la trong khi đa số giáo dân trong các nước ở
Nam Mỹ, Phi Châu và Á Châu, chiếm 70% tổng số tín đồ trên thế giới, vẫn
sống trong nghèo khổ, và chỉ cần nhìn vào lối sống của các Hồng y, Tổng
Giám Mục, Giám Mục, Linh Mục, Mục sư giảng đạo trên TV (Televangelist)
là chúng ta có thể mường tượng được mức đạo đức giả của Giáo hội
như thế nào, và chính sách lừa dối, ru ngủ của họ tàn nhẫn nhưng lại
thành công như thế nào.
Tuy nhiên, Marx chỉ nhìn thấy mặt xấu
của tôn giáo mà không nhìn thấy cái mặt tốt của tôn giáo, dù đó chỉ
là tôn giáo Tây phương. Marx không
nhìn thấy cái nguồn cảm hứng tôn giáo để "trở thành tốt" của
những tín đồ Ki Tô giáo, và không biết phân biệt giữa Giáo hội và quần
chúng tín đồ. Cho nên, tới những
thập niên 1950-60, các lý thuyết gia CS mới bắt đầu nhìn thấy điều trên
và tham gia phong trào đối thoại giữa CS và Ki Tô Giáo, và các nhà Thần học
KiTô cũng đã phải nhìn lại chính tôn giáo của mình qua tư tưởng Marx,
tuy kết quả không được bao nhiêu vì cả CS lẫn Ki Tô Giáo đều vẫn chấp
chặt vào một số định kiến, nhất là về phía Công Giáo La Mã. Sự
liên minh của Vatican với tư bản Mỹ dưới thời Reagan để khuynh đảo chế
độ CS ở Ba Lan là một bằng chứng cụ thể.
Nhiều nhà thần học Ki
Tô Giáo cũng đã nghiên cứu về ý chí chống tôn giáo của Marx. Phần sau
đây là tóm tắt sự phân tích của Linh mục John Courtney Murray, một nhà Thần
Học Công giáo nổi danh thuộc hiệp hội Giê-Su (S.J. = Society of Jesus), trong
cuốn "Vấn đề Thiên Chúa: Xưa Và Nay" ("The Problem of God:
Yesterday and Today", Yale University Press, New Haven & London, 1964, Trg. 108-113):
Thứ nhất, chủ thuyết vô thần của Marx không xuất
phát từ thế giới các tư tưởng mà từ thế giới của sự kiện - sự
kiện xã hội về sự nghèo khổ của con người.
Đó là một sự bực tức vô thần để chống lại tình trạng lịch
sử của con người trong thời đại kỹ nghệ.
Ở đáy sâu của ý chí vô thần mà cỗi nguồn là vấn đề xấu
ác, tiềm ẩn một ý tưởng đạo đức tuyệt đối. Theo ý tưởng này thì không những sự xấu
ác không có quyền hiện hữu mà còn không thể tha thứ được. Đây là một nguyên lý tuyệt đối mà
Thiên Chúa trong Thánh Kinh không thừa nhận tính quyết định của nó trong
nhiệm vụ cai trị thế giới của Thiên Chúa.
Thiên Chúa xét xử sự xấu ác
là xấu ác nhưng không coi đó như là không thể tha thứ được. Điều này trở thành tội ác của Thiên
Chúa. Theo Marx, là Thiên Chúa theo đúng
nghĩa Thiên Chúa thì không được tha thứ sự xấu ác. Vì Thiên Chúa trong Thánh Kinh khoan nhượng
sự xấu ác, nên đó không phải là Thiên Chúa.
Nhân danh Thiên Chúa Marx đã loại bỏ Thiên Chúa. Đây là dạng tinh khiết nhất và nồng
nhiệt nhất của chủ thuyết Vô Thần khi con người bác bỏ Thiên Chúa
nhân danh chính đặc tính đạo đức của một Thiên Chúa.
Thứ nhì, từ sự bực tức của
Marx trước sự nghèo khổ của con người đã nảy ra lòng mong muốn được
tự do. Theo Marx, cái tự do chân thực
của con người là khả năng thay đổi thiên nhiên, biến đổi con người và
xã hội, xây dựng một thế giới mới, khai trương một lịch sử mới. Cái khả năng này đến với con người
khi con người nhận ra được những điều cần thiết trong duy vật biện
chứng sử quan. Nhận ra rồi, con ngưòi
sẽ trở thành chủ nhân của lịch sử, đó là cái tự do cụ thể của
con người. Đây cũng chính là cái tự
do của Thiên Chúa Sáng Tạo, quyền năng thực sự trên quá trình lịch sử. Từ cái tự do này, con người Cách Mạng sẽ làm cho lịch sử có ý nghĩa,
nghĩa là tạo đường hướng mới để đạt tới một thế giới không có
sự nghèo khổ.
Thứ ba, theo Marx thì Thiên Chúa của
Ki Tô Giáo (God) là kẻ thù tột đỉnh của tự do. Sự hiểu biết về Thiên Chúa theo nghĩa
trong Thánh Kinh là căn nguyên chính yếu để làm cho con người tự xa lìa
chính mình. Con người tin vào một
Thiên Chúa toàn trí, toàn năng là rơi vào trong vòng giam hãm của một ảo
tưởng. Theo Marx, Thiên Chúa là một
ảo tưởng, là sáng tạo của con người, là sự khao khát của những người
bị áp bức. Vì sự thoải mái của
chính mình, con người bày đặt ra một thiên đường với ảo tưởng là
có một quyền năng làm chủ lịch sử, có
khả năng cứu vớt con người ra khỏi cảnh nghèo khổ, và dẫn lịch sử
đến một thiên đường ở ngoài lịch sử.
Nhưng đây chỉ là dự phóng của chính con người. Cho nên, cái dự phóng ảo tưởng này, và niềm tin vào ảo tưởng
này thật là tai hại. Đó chính là sự
xa lìa của con người với chính mình. Vì
tin vào một Thiên Chúa, con người trở thành xa lạ với bản ngã chân thực
của chính mình, bị tê liệt trong những
khả năng cần thiết của chính mình. Và con người bị biến thành bất lực
trong nhiệm vụ lịch sử, nghĩa là biến đổi bản chất và xếp đặt lại
những gánh nặng đang đè mình xuống hàng nô lệ trong những hoàn cảnh
nghèo khổ đặc thù của xã hội tư bản cũng như trong xã hội phong kiến
trước đây.
Cho nên, cái gốc niềm tin về Thiên
Chúa cần phải đánh bật ra khỏi con người cách mạng. Hơn nữa, sự dẹp bỏ vai trò của Thiên
Chúa phải được thực hiện một cách toàn diện, trong đời sống riêng tư
cũng như trong đời sống công cộng. Marx
và những người kế thừa ông không bị lừa dối bởi cái luận cứ trống
rỗng: tôn giáo là vấn đề thuần túy riêng tư.
Họ rất sáng suốt nhận ra rằng tôn giáo, ngay cả trong dạng tín ngưỡng
riêng tư, cũng là vấn đề công cộng nhất trong những vấn đề công cộng. Cho nên, trong xã hội lý tưởng của Marx,
không ai được phép nói rằng, ngay cả nghĩ
trong thâm tâm, "Thiên Chúa hiện hữu , đang sống động trong hiện
tại." Đối với đảng xã hội
cách mạng vô sản, tôn giáo không phải là một vấn đề riêng tư mà là
vấn đề thuộc về ý hệ, do đó là một vấn đề của đảng, và do đó
là một vấn đề công cộng. Vì vậy,
chống tôn giáo (theo định nghĩa của Tây phương) là trung tâm điểm của
cuộc chiến ý hệ giữa tôn giáo và cộng sản.
Thứ tư, huyền thoại về "Thiên
Chúa đã chết" (God is dead) là điểm chính yếu trong lý tưởng cách mạng. Nhưng thực ra đây lại không phải là một
huyền thoại. Nói cho đúng, dưới cái
dạng văn chương của huyền thoại này, tiềm ẩn một sự kiện khoa học. Sự kiện này là con người cách mạng đã
hiểu được một cách khoa học về lịch sử.
Con người đã khám phá ra ý nghĩa của lịch sử, nghĩa là chính lịch
sử đã tạo ra bản chất con người chứ không phải là Thiên Chúa. Sự khám phá này đưa tới sự kiện
"Thiên Chúa đã chết". Khi con
người biết được chính mình qua lịch sử, hiểu được rằng mình chính
là tạo phẩm của lịch sử chứ không phải là của Thiên Chúa thì Thiên
Chúa đã chết, ra khỏi lịch sử, để lại con người làm chủ lịch sử.
Thứ năm, con người cách mạng
không làm gì hơn là tìm cách giải quyết sự xấu ác. Họ hiểu rằng không có một giải pháp
nào có thể chấp nhận trừ phi nó có tính cách thực tế, thực sự giải
thoát con người khỏi sự xấu ác. Trong
Thánh Kinh, Thiên Chúa dung dưỡng sự xấu ác và dùng nó để bào chữa cho
công lý của Thiên Chúa. Con người cách
mạng cũng vậy, cho phép dùng những phương tiện xấu ác để đạt những
mục đích tốt. Chỉ khác là, những mục đích
này có thể thực hiện được ngay trên trái đất. Và như vậy, con người cách mạng đã
làm nhiệm vụ "Thế Thiên hành đạo."
Qua mấy điểm phân tích của Linh Mục
Murray về luận cứ chống tôn giáo của Marx, chúng ta thấy rằng triết lý
về chính trị xã hội - kinh tế của Marx không phải là không có giá trị,
và tôn giáo mà Marx muốn chống là cái tôn giáo độc Thần trong các xã hội
tư bản, phong kiến, cái tôn giáo đã liên kết với thế quyền và tư bản
để bóc lột dân vô sản qua sách lược lừa dối, dụ dỗ, ru ngủ, hứa
hẹn những điều không tưởng, cái tôn giáo trong đó giới giáo sĩ được
hưởng những đặc quyền vật chất, ngự trị trên sự mê tín và qụy lụy
của đa số giáo dân sống trong nghèo khổ, chứ không phải là các tôn
giáo Đông phương như Phật Giáo, Khổng Giáo, Lão Giáo mà Marx không hiểu
gì và không hề có kinh nghiệm gì về những tôn giáo này.
Điều đáng tiếc là Cộng sản sau
Marx đã biến một hệ thống chính trị xã hội – kinh tế có giá trị
thiết thực để giảm thiểu sự bất công trong xã hội thành một hệ thống
cầm quyền, rập theo khuôn của Công giáo, chuyển thần quyền từ tôn
giáo vào chính trị, để cai trị độc tài như giáo quyền Công giáo, khi cướp
được chính quyền. Ngoài ra, trong
quá khứ, Cộng sản Việt Nam còn sai lầm khi coi mọi tôn giáo đều như
nhau và áp dụng luận cứ chống Ki Tô Giáo của Marx một cách máy móc vào
mọi tôn giáo, không phân biệt đâu
là tôn giáo của dân tộc, vì dân vì nước, và đâu là tôn giáo phi dân tộc
và phản bội dân tộc như lịch sử đã chứng minh.
Đọc Marx, chúng ta biết rằng, Marx
chưa hoàn tất sự phân tích về chủ nghĩa tư bản. Về bản chất của Cộng Sản, ông ta cũng
không có một học thuyết rõ ràng và nhất quán (vague and inconsistent) về kế
hoạch thay thế tư bản nếu CS thắng.
Đôi khi ông ta chủ trương một cuộc lật đổ chính quyền và thiết
lập một chính quyền độc tài do một nhóm người xuất sắc (elite) cầm
đầu để cai trị giới lao động. Nhưng
thường là ông ta tin rằng, để cho một cuộc cách mạng thành công, chính
những công nhân phải học cách cai trị trước đã. Kinh nghiệm Việt Nam cho thấy cách mạng
thành công là một chuyện còn vấn đề trị nước lại là một chuyện
khác.
Vì tính cách không nhất quán trong tư
tưởng của Marx nên các phong trào chính trị khác nhau trên thế giới cũng
áp dụng Marx theo đường hướng khác
nhau. Ngay cả phong trào Thần Học Giải
Phóng trong Công giáo, phát xuất từ châu Mỹ La Tinh, cũng ít nhiều chịu
ảnh hưởng của Marx. Ngày nay, tuy thế
giới Cộng sản đã sụp đổ nhưng tư tưởng Marx vẫn còn là nguồn cảm
hứng ở nhiều nơi trên thế giới, nhất là ở những nơi có sự bất
công xã hội, hố sâu giữa giầu và nghèo quá đáng, quan quyền bóc lột
dân chúng v..v...
Trở lại vấn đề vô thần, vì
không hiểu rõ chủ trương vô thần của Marx cũng như bản chất của vô
thần cho nên ngày nay vẫn còn có những người cuồng tín đần độn, kể
cả những người gọi là trí thức Công Giáo như nhóm tác giả viết trong
cuốn “2000 Năm Một Thuở: Chứng Từ Của Một Số Người Công Giáo”, cũng như mấy ông trí thức tân tòng Tin Dữ
như Lê Anh Huy, Phan Như Ngọc, Huệ Nhật, Khuất Minh v..v.., và cả một
số trí thức Phật Giáo thiếu trí tuệ, vẫn tiếp tục kết hợp
Cộng sản với Vô Thần, làm như Vô Thần là một trọng tội xấu xa cần
phải diệt trừ. Họ không đủ kiến
thức để hiểu rằng, khi họ kết hợp Cộng Sản với Vô Thần là họ
đang thực sự tôn vinh Cộng Sản.
Thật vậy, như Voltaire đã nhận
định: “Vô Thần là thói xấu của một số ít những người thông minh”
(Atheism is the vice of a few intelligent people) và trên thực tế, Vô Thần là kết
quả tiến bộ trí thức của con người, như Frank E. Tate đã tuyên bố như
sau:
“Suốt cuộc đời tôi, tôi đã tiến
bộ từ một người sùng tín đến một người theo thuyết “bất khả tri”
và bây giờ là một người vô thần. Tôi
dùng từ “tiến bộ” vì tôi tin rằng đó thực sự là một sự tiến bộ,
tiến từ sự chấp nhận mù quáng vào một huyền thoại phi lý đã lỗi thời
đến sự nghi ngờ và sau cùng đến sự từ bỏ và không còn tin nữa.
Chính cái huyền thoại đó – cuốn
Thánh kinh Do Thái – Ki Tô – là một cuốn ghi chép kinh hoàng về những cuộc
đổ máu, dâm dật, và cuồng tín không đếm xỉa gì đến đời sống và
sự an sinh của những người nào không bày
tỏ niềm tin mù quáng của mình vào những giới luật được trình
bày qua những lời lẽ mâu thuẫn và không thể nào xảy ra được”
(During my lifetime I have progressed from
being a “believer,” to being an agnostic and now an atheist. I use the word “progress” because I believe it
to be true progress to go from blind acceptance of an outdated illogical mythology to
doubt and finally to denial and disbelief...
The myth itself – the Judeo-Christian
Bible – is a shocking account of bloodshed, lust, and bigoted disregard for the lives
and well-being of all peoples who do not profess a blind belief in the precepts presented
in such impossible and contradictory terms.)
Có thể những người thờ thần,
hay thờ Chúa cũng vậy, muốn biết là một người vô thần có những cảm
nghĩ gì? Tôi xin mượn vài tư tưởng
của Robert G. Ingersoll. Ingersoll là một
nhà tư tưởng tự do nổi tiếng nhất của Mỹ.
Tên ông ta có trong lịch sử, trong tự điển. Những tư tưởng của ông đều có trong
các thư viện lớn. Tượng đài tưởng niệm ghi công ông khai phóng đầu óc giới
trẻ được xây ở Peroria, bang Illinois. Ingersoll
phát biểu như sau về cảm nghĩ của một người vô thần. Tôi chỉ xin nêu ra vài tư tưởng trong đó:
“Khi tôi tin chắc rằng Vũ trụ là
thiên nhiên – và rằng những hồn ma, thiên chúa chỉ là những huyền thoại,
thì những cảm nghĩ, nhận thức, và niềm hân hoan về sự tự do, giải
thoát đã xâm nhập vào đầu óc tôi, vào linh hồn tôi, và vào từng giọt
máu trong người tôi. Những bức tường
của cái nhà tù của tôi đã sụp đổ, ngục tù tăm tối đã được tràn
ngập ánh sáng, và tất cả những then cửa, chấn song, gông cùm đã trở
thành cát bụi. Tôi không còn là một
tôi tớ hèn mọn, một người hầu, hay một nô lệ nữa (Xin đọc trang nhà
Mucsu.net: Người Ki Tô Giáo vẫn thường tự nhận là tôi tớ hèn hạ, là
người hầu việc Chúa v..v.. ) Tôi đã
tự do
- - tự do suy tư, phát biểu tư tưởng
- - tự do sống theo ý tưởng của tôi
- - tự do tận dụng mọi khả năng, mọi giác quan
của tôi
- - tự do tìm hiểu
- - tự do vứt bỏ mọi tín điều ngu đần và độc
ác, mọi sách “mạc khải” mà những người dã man đã tạo ra chúng và
mọi truyền thuyết man rợ của quá khứ
- - tự do thoát khỏi những giáo hoàng và linh mục
- - tự do thoát khỏi những sai lầm được thánh
hóa và những lời nói láo mang tính thánh
- - tự do thoát khỏi sự sợ hãi về một sự đau
đớn vĩnh hằng (đày hỏa ngục)
- - tự do thoát khỏi những ma, quỉ và thiên chúa.”
(When I became convinced that the Universe
is natural – that all the ghosts and gods are myths, there entered into my brain, into
my soul, into every drop of my blood, the sense, the feeling, the joy of freedom. The walls of my prison crumbled and fell, the
dungeon was flooded with light and all the bolts, and bars, and manacles became dust. I was no longer a servant, a serf, or a slave...I
was free
- - free to think, to express my thoughts
- - free to live to my own ideal
- - free to use all my faculties, all my senses
- - free to investigate
- - free to reject all ignorant and cruel creeds, all the “inspired”
books that savages have produced, and all the barbarous legends of the past
- - free from popes and priests
- - free from sanctified mistakes and holy lies
- - free from the fear of eternal pain
- - free from devils, ghosts and gods)
Nhìn vào thế giới ngày nay, ngoại
trừ những ốc đảo tối tăm, hầu hết những nơi văn minh tiến bộ đều
từ bỏ niềm tin vào sự hiện hữu của một Thiên Chúa sáng tạo ra muôn
loài. Thiên Chúa trong các xã hội văn
minh tiến bộ ngày nay chỉ có một giá trị ước lệ, truyền thống, và
con người trong những xã hội này thực sự đang sống những cuộc sống
như là không có Thiên Chúa, không sợ Thiên Chúa, không tin là Thiên Chúa
có thể can dự vào bất cứ khía cạnh nào của đời sống con người.
John Cornwell, một tín đồ Công giáo
và cũng là một chuyên gia về Công Giáo và Vatican, tác giả 2 cuốn sách nổi
tiếng về Vatican: A Thief in the Night và Hitler’s Pope, đã viết thêm một
tác phẩm về Công giáo nhan đề Từ Bỏ Đức Tin: Giáo Hoàng, Giáo Dân,
và Số Phận của Công Giáo (Breaking Faith: The Pope, The People, and The Fate of
Catholicism), xuất bản năm 2001, trong đó chương đầu viết về Một Thời
Đại Đen Tối Của Công Giáo (A Catholic Dark Age).
Trong chương này, tác giả John Cornwell đưa ra tình trạng suy thoái trầm
trọng của Công giáo ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Anh, Mỹ,
và Pháp. Số tín đồ mang con đi làm
lễ rửa tội giảm sút, vì ngày nay người ta nhận thức được rằng chẳng
làm gì có tội ở đâu mà phải đi rửa; đám cưới tổ chức không cần
đến linh mục, vì hôn phối có thể hợp thức hóa ngoài
nhà thờ và bí tích hôn phối đã mất hết ý nghĩa; giới trẻ không buồn
đến nhà thờ, vì chẳng thấy gì hấp dẫn trong những lời giảng đi ngược
thời gian của các linh mục; số từ bỏ đức tin gia tăng, vì người ta không
còn chịu chấp nhận một đức tin mù quáng; từ 1958 đến nay, số vào nghề
linh mục giảm đi 2/3 v..v.. Tình trạng
ở Châu Âu, trước đây là cái nôi của Công giáo, thật là thê thảm. Ở Tây Âu (Western Europe), từ 30 đến 50%
các giáo xứ không có linh mục. Ở
Ý, 90% theo Công giáo nhưng chỉ có 25% đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật, giảm
10% kể từ đầu thập niên 1980, số người vào học trường Dòng giảm một
nửa. Ở Ái Nhĩ Lan (Ireland), xứ Công
giáo, số người cảm thấy mình được ơn kêu gọi tụt xuống từ 750 năm
1970 còn 91 năm 1999, số linh mục được tấn phong từ 259 xuống 43 trong cùng
thời gian. Trong một hội nghị đặc
biệt vào năm 1999, các giám mục Âu Châu tuyên bố rằng các dân tộc trong
toàn lục địa Âu Châu đã quyết định sống “như là Thiên Chúa không hề
hiện hữu” (At a special synod in 1999, the bishops of Europe declared that the
peoples of the entire continent had decided to live “as though God did not exist”.) Ở Nam Mỹ, tình trạng cũng không
khá hơn. 7000 tín đồ mới có một
linh mục. Chỉ có 15% giáo dân đi xem
lễ ngày chủ nhật. Theo một hội nghị
quốc gia của các giám mục Ba Tây thì mỗi năm có khoảng sáu trăm ngàn tín đồ bỏ đạo (according
to the National Conference of Brazilian Bishops, some 600000 Catholics leave the Church
each year.)
Âu Châu và nhiều nơi khác trên thế
giới đã trở thành “vô thần”. Cho
nên, ngày nay từ “Cộng sản vô thần” chẳng nói lên được điều gì
ngoài phản ánh sự đần độn của đám người cuồng tín, không theo kịp
đà tiến hóa và sự tiến bộ trí thức của nhân loại.
Sau đây chúng ta hãy tìm hiểu “vô
thần” có từ bao giờ và những người vô thần trên thế giới là ai? Trước hết là Đức Phật, Đức Khổng
Tử, Lão Tử ở Đông Phương trong thế kỷ 6 trước thường lịch. Cùng thời với 3 nhân vật vĩ đại của
nhân loại trên, chúng ta thấy Simonides, một thi sĩ Hi Lạp. Rồi sau đó là Empedocles, Aristotle, triết
gia Hi Lạp; Demosthenes, nhà hùng biện thành Athenes; Epicurus, triết gia Hi Lạp;
Lucretius, triết gia La Mã; Statius, Thi sĩ La Mã.
Tất cả những nhân vật có tên trong lịch sử trên đều sinh ra trước
Giê-su. Trong cuốn Đức Tin Công Giáo,
Giao Điểm xuất bản năm 2000, trong phần phụ lục, tôi đã đưa ra danh sách
75 danh nhân trí thức Âu Mỹ có thể xếp vào hạng những người vô thần. Phần này cũng đã được đưa lên trang
nhà Giao Điểm.
Bây giờ chúng ta hãy kể vài nhân vật
“hữu thần” nổi danh trên thế giới. Hiển
nhiên các giáo hoàng, hồng y, tổng giám mục, linh mục là những người
“hữu thần” bậc nhất. Mở danh
sách các giáo hoàng ra chúng ta thấy có bao nhiêu giáo hoàng nổi tiếng
trên thế giới, thuộc loại “lưu danh muôn thuở” hay “lưu xú vạn
niên”.? Lloyd M. Graham đã viết trong
cuốn Những Dối Trá và Huyền Thoại Của Thánh Kinh (Deceptions and Myths of
the Bible): “Đối với hàng triệu
linh hồn bị lạc dẫn...một ngàn năm tội ác và đồi bại (của giáo hội
Công giáo) được làm nhẹ đi qua lời giải thích hời hợt là “chỉ có
vài giáo hoàng xấu”. Nếu những người
giải thích như vậy mà lương thiện, họ phải thừa nhận rằng thật ra
chỉ có vài giáo hoàng tốt” (For millions of
misguided souls..., a thousand years of crime and corruption are glossed over with the
statement, “There were a few bad popes.” Were
their informers honest they would admid there were a few good). Sau đây là một thí dụ
điển hình: Edward Gibbon (1737-1794), một Sử gia ngườiAnh đã viết: “Những
tội nghiêm trọng nhất đã bị dẹp bỏ, Người đại diện của Chúa Ki
Tô (Giáo hoàng John XXIII, 1414) chỉ bị kết tội là ăn cướp, sát nhân,
hãm hiếp, giao hợp đồng giống, và loạn luân (The most serious charges were
suppressed; the Vicar of Christ (Pope John XXIII, 1414) was accused only of piracy,
murder, rape, sodomy, and incest.) Một
số chi tiết về các giáo hoàng đồi bại này đã được trình bày trong
cuốn Đức Tin Công Giáo, chương II, tôi không nhắc lại ở đây nữa. Ngoài ra chúng ta còn phải kể Hitler,
Mussolini, Franco, Pétain, MacCarthy, Von Papen, Himmler, Goebbels, Palevich v..v.., tất
cả đều là những người “hữu thần”.
Nhưng tội ác của họ đối với nhân loại ra sao? Công Giáo “hữu thần”, nhưng Công Giáo
đã gây nên bao nhiêu thảm trạng cho nhân loại?
Riêng về Việt Nam thì những ai là
“vô thần” theo nghĩa không biết đến, không tin, không công nhận sự hiện
hữu của Thiên Chúa của Ki Tô Giáo? Hai
Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Quốc sư Vạn Hạnh, Lý Thường Kiệt,
Trần Bình Trọng, Lý Thái Tổ, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Lê Lợi,
Nguyễn Huệ, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Phan Đình Phùng, Đinh Công
Tráng, Hồ Chí Minh v...v... Những bậc
tiền nhân này đã làm gì cho nước Việt nếu không phải là có công đánh
đuổi xâm lăng, bảo toàn chủ quyền, nền độc lập quốc gia, hoặc làm
rạng danh nền văn hóa Việt Nam? Còn
những kẻ “hữu thần” là ai? Pétrus
Ký, Nguyễn Trường Tộ, Paulus Của, Trần Bá Lộc, Nguyễn Thân, Trần Lục,
Ngô Đình Khả, Nguyễn Bá Tòng, Lê Hữu Từ v..v.. Họ là ai? Toàn là Việt gian bán nước,
theo giặc chống lại tổ quốc, hoặc cuồng tín, nô lệ Vatican như Ngô Đình
Diệm?
Ai có
thể phủ nhận hay biện minh cho sự kiện bán nước của Công Giáo qua văn
kiện có tính cách khẳng định sau đây
của chính Giám mục Puginier, được trích dẫn trong cuốn Catholicisme et
Sociétes Asiatiques của Alain Forrest và
Yoshiharu Tsuboi:
"Giám Mục Puginier viết rằng:
"Không có các thừa sai và giáo dân Ki Tô Giáo thì người Pháp cũng giống
như những con cua đã bị bẻ gẫy hết càng.
Thí dụ như vậy, tuy tầm thường mộc mạc nhưng không kém phần
chính xác và mạnh mẽ. Thật vậy,
không có các thừa sai và giáo dân Ki Tô Giáo, người Pháp sẽ bị bao vây
bởi toàn là kẻ thù; họ sẽ không thể tin cậy vào một ai; họ sẽ chỉ
nhận được những tin tức tình báo sai lầm, cung cấp với ác ý để phá
hoại tình thế của họ; họ sẽ bị đẩy vào
tình trạng không thể hoạt động được gì và sẽ phải hứng chịu những
thảm họa thực sự một cách nhanh chóng. Địa
vị của họ ở đây sẽ không giữ nổi được nữa, và họ sẽ bị buộc
phải rời khỏi xứ, nơi đây quyền lợi và ngay cả sự hiện diện của
họ sẽ bị nguy hại."
(Sans
les missionnaires et les chrétiens, écrit Mgr. Puginier, les Francais seraient comme les
crabes auxquels on aurait cassé toutes les pattes.
La comparaison, pour être triviale, ne manque pas de justesse et de force. En effet, sans les missionnnaires et les
chrétiens, les Francais se verraient entourés d'ennemis; ils ne pouraient se fier à
personne; ils ne recevraient que de faux renseignements, méchamment donnés pour
compromettre leur situation; ils se trouveraient donc réduits à l'impossibilité d'agir
et seraient rapidement exposés à des vrais désastres.
Leur position ici ne serait plus tenable, et ils ne verraient forcés de quitter un
pays où leurs intérêts et leur existence même serait compromis.)
Ai có thể phủ nhận hay biện minh cho
hành động bán nước của linh mục Trần Lục, người dẫn 5000 giáo dân
đi tiếp tay, hỗ trợ quân đội Pháp để hạ trung tâm kháng chiến Ba Đình
của Đinh Công Tráng?
Ai có
thể phủ nhận hay biện minh cho sự kiện là giám mục Lê Hữu Từ đã
theo lệnh chống Cộng của giáo hoàng Pius XII, nhận vũ khí của Pháp khi
Pháp trở lại Việt Nam, tổ chức những “khu tự trị” (sic) Phát Diệm,
Bùi Chu để giết dân ngoại đạo vô tội, đi cướp phá các làng “lương”
dưới chiêu bài chống Cộng sản Vô Thần.
Vậy thì giữa “vô thần” cứu nước
và làm rạng danh nước, và “hữu thần” nô lệ ngoại bang, phản bội
quốc gia, người dân Việt nên chọn
thứ nào? 93% dân Việt đã chọn “vô
thần”, còn 7% chọn “hữu thần”. Viết
như trên không có nghĩa là tất cả 7% người dân Việt theo Công giáo đều
là những người bán nước, phản bội quốc gia. Phần lớn họ là nạn nhân của một nền
thần học ru ngủ xảo quyệt, không đủ trí tuệ để nhận ra bộ mặt thật
của tôn giáo họ, ham hố một sự “cứu rỗi” không tưởng, tin theo luận
điệu bịp bợm của giáo hội như giáo hoàng là đại diện của Chúa
trên trần, “Cha cũng như Chúa” có quyền tha tội hay cầm giữ tội của
họ v..v..., cho nên đã nhắm mắt theo lệnh của những linh mục đầy tớ
của Vatican mà không ý thức được những hành động phản quốc của mình. Họ đáng thương hơn là đáng trách. Nhưng chính điều này đã chứng tỏ rằng
“hữu thần” hoàn toàn không có gì có thể gọi là đạo đức hơn hay tốt
đẹp hơn “vô thần” nếu không muốn nói là còn kém xa.
Sau đây là vài đoạn của James A.
Haught trong cuốn “2000 Years of Disbelief: Famous people with the Courage to Doubt”,
trang 11-14, về lịch trình phát triển “vô thần” ở Tây phương:
“Những người thông minh, có học
thức, thường không tin là có đấng siêu nhiên.
Cho nên chẳng lấy gì làm ngạc nhiên nếu chúng ta thấy một tỷ lệ
cao những người nghi ngờ tôn giáo (tây phương) trong số những tư tưởng
gia, khoa học gia, văn gia, những nhà cải cách, học giả, tiền phong trong
dân chủ, và những nhà thay đổi thế giới – những người thường được
gọi là danh nhân.
Sự tiến triển của nền văn minh Tây
phương đã là một phần của câu chuyện chiến thắng từ từ trên tôn
giáo đàn áp (KI Tô giáo). Sự nổi giậy
của thuyết nhân bản đã chuyển trọng tâm của xã hội ra khỏi sự tuân
phục các giám mục và vua chúa để đi tới những quyền của cá nhân và điều kiện sinh sống của con
người. Phần lớn sự tiến bộ này
đã được thúc đẩy bởi những con người, nam cũng như nữ, không cầu
nguyện (Thiên chúa), không quỳ trước bàn thờ (trong những nhà thờ),
không đi hành hương (các thánh địa của Ki Tô Giáo), không đọc những
Kinh Tin Kính.
Nền văn hóa Tây phương đã đi theo
một hành trình thất thường. Hi Lạp
và La Mã cổ xưa đã đồng hành với sự tìm hiểu trí thức giữa quan niệm
tôn giáo đa thần. Thế rồi Thời Đại
Đức Tin của Ki Tô Giáo đã mang lại sự tối tăm trong nhiều thế kỷ. Thời đại Phục Sinh đã làm sống lại
chủ thuyết cá nhân và quyền suy tư tự do, bay bổng lên trong Thời Đại
Lý Trí và Thời Đại Khai Sáng. Với
sự nở rộ của khoa học trong thế kỷ 19, nhiều tư tưởng gia đã cho rằng
tôn giáo huyền bí (tức Ki Tô Giáo) sẽ phải tan biến, và đại cương thì
điều này đã xảy ra trong giới trí thức.
Dần dần, lối suy nghĩ khoa học tiến
triển, và tôn giáo thoái lui, quyền tự
do không tin đã nhô lên ở Tây phương..
Cuối cùng, quyền không tin đã được
thiết lập. Tự do suy tư nở rộ
trong giới trí thức Âu Châu và Mỹ, đạt
tới thời vàng son vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Những người không tin như Robert Ingersoll
đã thực hiện những chuyến du thuyết thách đố chủ thuyết siêu nhiên
(Ki Tô Giáo). Những nhà báo như H. L.
Mencken công khai tấn công “sự mê tín” (của Ki Tô Giáo).
Thật là một điều mâu thuẫn lạ
lùng: một phần đáng kể dân chúng khắp thế giới vẫn còn thờ phụng
những thiên chúa không ai nhìn thấy, đôi
khi còn giết người cho những thiên chúa này – trong khi hầu hết những tư
tưởng gia, khoa học gia, văn gia, và những giới trí thức khác thường là
đã loại bỏ đấng siêu nhiên.
Đối với bất cứ ai duyệt qua quá
khứ và quan sát thế giới ngày nay, hầu như không thể nào tìm ra được
một người có tiếng tăm – ngoại trừ đối với các giáo hoàng, tổng
giám mục, vua chúa và các nhà cầm quyền đi kiếm hậu thuẫn của quần
chúng - lại có thể nói rằng mục đích
của đời sống con người là được “cứu rỗi” bởi một Giê-su vô
hình và lên một thiên đường vô hình. Nhưng
thật là dễ dàng tìm được rất nhiều người không tin cái tín lý căn bản
này trong số những danh nhân.”
(Intelligent, educated people tend to doubt
the supernatural. So it is hardly surprising
to find a high ratio of religious skeptics among major thinkers, scientists, writers,
reformers, scholars, champions of democracy, and other world changers – people usually
called great.
The advance of Western civilization has
been partly a story of gradual victory over oppressive religion. The rise of humanism slowly shifted society’s
focus away from obedience to bishops and kings, onto individual rights and improved living
conditions. Much of the progress was impelled
by men and women who didn’t pray (to God), didn’t kneel at altars (in churches), didn’t
make pilgrimages (to holy places), didn’t recite creeds.
Western culture has traveled an erratic
journey. Ancient Greece and Rome teamed with
intellectual inquiry, amid polytheism. Then
the Christian Age of Faith brought darkness for centuries.
The Renaissance revived individualism and free thingking, which soared in
the Age of Reason and the Enlightenment. With
the flowering of science in the nineteenth century, many thinkers assumed that mystical
religion would vanish. Among intellectuals,
it largely has done so..
Slowly, as scientific thinking grew and
religion retreated, freedom of doubt emerged in the West..
Eventually, the right to disbelieve
was established. Freethought blossomed among
intellectuals in Europe and America, reaching a heyday at the end of the nineteenth
century and the beginning of the twentieth. Doubters
such as Robert Ingersoll conducted speaking tours to challenge supernaturalism. Newspaper writer such as H. L. Mencken openly
assailed “superstition”...
It is a strange contradiction: A good part of people around the globe still still
worship unseen gods, and sometimes even kill for them – yet most Western thinkers,
scientists, witers, and other intellectuals generally reject the supernatural.
For anyone scanning the past and surveying
the current world scene, it is nearly impossible to find any oustanding person – except
for popes, archbishops, kings and other rulers seeking popular support – who says the
purpose of life is to be saved by an invisible Jesus and to enter an invisible heaven. But ist is easy to find many among the great who
doubt this basic dogma...)
Phật Giáo là đạo của trí tuệ
nên không mê tín đến độ có thể tin vào một Thiên Chúa sáng tạo ra
muôn loài. Đức Phật đã khẳng định
như vậy. Do đó Phật Giáo cũng vô thần. Phật Giáo rất hãnh diện là một tôn
giáo vô thần, vì vô thần phản ánh sự sáng suốt của trí tuệ. Những người ngày nay còn tiếp tục dùng
từ “vô thần” để ám chỉ một điều xấu chỉ chứng tỏ một tâm cảnh
cuồng tín của Ki Tô Giáo đã lỗi thời. Ngoài
ra nó còn chứng tỏ một trình độ hiểu biết thấp kém, vì đối với các
giới trí thức trong những xã hội tân tiến Âu Mỹ, “Vô Thần” là một
biểu hiện của tự hào, của danh dự (A badge of honor). James A. Haught đã coi những người vô thần
như thuộc đoàn thể của những vĩ nhân. (They are in the company of giants). Nhưng ai là những vĩ nhân? Ngoài một số danh nhân thế giới tôi đã
nêu tên trong một phần trên, chúng ta còn phải kể 6 vị Tổng Thống đầu
tiên của Hoa Kỳ và vô số những khoa học gia cùng các trí thức trong mọi
ngành. Sau đây, để kết luận, tôi
xin liệt kê tên của một số nhỏ những nhân vật có tên tuổi trên thế
giới mà tôi cho là quen thuộc nhất đối với chúng ta, trong số 600 nhân vật
(lẽ dĩ nhiên vẫn chưa đầy đủ) trong cuốn 2000 Years of Disbelief: Famous
People With The Courage To Doubt của James
A. Haught, Prometheus Books, 1996, những nhân vật có thể xếp vào trong đoàn
thể của những người “vô thần”, theo thứ tự A, B, C:
- Lord Acton
- John Adams
- Ethan Allen
- Steve Allen
- Aristotle
- Isaac Asimov
- Sir Francis Bacon
- Honoré de Balzac
- Charles Baudelaire
- Simone de Beauvoir
- Ludwig van Beethoven
- Hector Berlioz
- Georges Bizet
- Charles Bradlaugh
- Johannes Brahms
- Benjamin Britten
- Giordano Bruno
- Pearl Buck
- Albert Camus
- Andrew Carnegie
- Marcus Tullius Cicero
- Auguste Comte
- Confucius
- Nicolaus Copernicus
- Clarence Darrow
- Charles Darwin
- Claude Debussy
- Daniel Defoe
- Demosthenes
- Charles Dickens
- Denis Diderot
- Diogenes
- Alexandre Dumas
- Will Durant
- Thomas Edison
- Albert Einstein
- George Eliot
- Albert Ellis
- Empedocles
- Euripides
- William Faulkner
- Richard P. Feynman
- Gudtave Flaubert
- Antony Flew
- George William Foote
- Anatole France
- Benjamin Franklin
- Sigmund Freud
- Galileli Galileo
- Indira Gandhi
- Mohandas Gandhi
- Giuseppe Garibaldi
- Edward Gibbon
- André Gide
- Johann Wolfang von Geothe
- Thomas Hardy
- Stephen Hawking
- Joseph Haydn
- George W. F. Hegel
- Martin Heidegger
- Fred Hoyle
- Victor Hugo
- David Hume
- Aldous Huxley
- Robert G. Ingersoll
- Thomas Jefferson
- James Joyce
- Franz Kafka
- Immanuel Kant
- Johannes Kepler
- Jean de la Bruyère
- Pierre Simon de Laplace
- William E. H. Lecky
- Abraham Lincoln
- John Locke
- James Madison
- Karl Marx
- Jules Massenet
- Somerset Maugham
- Guy de Maupassant
- Henry Louis Mencken
- Michel de Montaigne
- Baron de Montesquieu
- Wolfang Amadeus Mozart
- Jawaharlal Nehru
- Friedrich Nietzsche
- Madalyn Murray O’Hair
- Thomas Paine
- Blaise Pascal
- Pablo Picasso
- Max Planck
- Marcel Proust
- Jules Renard
- Eleanor Roosevelt
- Theodore Roosevelt
- Jean-Jacques Rousseau
- Carl Sagan
- George Sand
- George Santayana
- Jean Paul Sartre
- Arthur Schlesinger
- William Shakespeare
- Adam Smith
- Socrates
- Baruch Spinoza
- Richard Strauss
- Leo Tolstoy
- Mark Twain
- Voltaire
- George Washington
- Daniel Webster
- H. G. Wells
- Zeno
- Émile Zola.
Home | Go top page |
Về trang mục lục