curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 

tcn-bethliar.JPG (48006 bytes)

       Vài lời của Gđ: Một lần nữa, chúng tôi cảm ơn ông Phan đình Diệm đã gởi bài “Mùa Giáng sinh Năm 2002: Suy Tư Về Một Đại Tín Điều Cứu Độ: “An Bần Lạc Đạo”. Qua nội dung bài viết của ông, chúng tôi nhận thấy cần phải làm sáng tỏ một vài vấn đề, và lần này, g/s Trần Chung Ngọc sẽ đề cập một số điểm cơ bản qua nội dung đó trong phần “Chuyện ngoài lề”. Để độc giả có thể nắm được toàn bộ vấn đề, chúng tôi sẽ nối kết bài viết của ông ở cuối bài. Phụ trách web GĐ.

      Đọc bài “Tản Mạn Noel” của Ngô Triệu Lịch, và nghe trên TV cùng các nơi buôn bán công cộng (shopping mall) bài ca “Đêm Hồ Ly, Đêm Sài Lang” của Franz Gruber, hát theo kiểu “hát ngày không đủ, tranh thủ hát đêm, hát thêm ngày chủ nhật”, tôi biết ngay là đã lại sắp hết một năm theo Thường Lịch.  

     Nếu các độc giả ở Mỹ để ý thì sẽ thấy từ nhiều năm nay, từ  “Giáng sinh” cũng như từ “Phục Sinh” càng ngày càng được dùng ít đi trong mọi dịch vụ quảng cáo công cộng và trong học đường.  Năm nay, các dịch vụ buôn bán phần lớn đều quảng cáo cho “Mùa nghỉ lễ” (Holidays season) thay vì “Mùa giáng sinh” (Christmas season); còn các trường đại học, trung học, tiểu học, thì đã từ nhiều năm nay đều bắt buộc phải gọi kỳ nghỉ lễ “Giáng sinh” của Ki Tô Giáo là “kỳ nghỉ xả hơi mùa Đông” (Winter Break) cũng như bắt buộc phải gọi kỳ nghỉ vào dịp lễ “Phục Sinh” của Ki Tô Giáo là “Kỳ nghỉ xả hơi mùa Xuân” (Spring Break).  Những từ như   “lễ Giáng Sinh”  hay “lễ Phục Sinh” hầu như chỉ còn thu hẹp trong nội bộ Ki Tô Giáo.  Nhưng các dịch vụ buôn bán thì khai thác triệt để những kỳ nghỉ lễ này để bán hàng. 

     Ki Tô Giáo thường ồn ào rầm rộ trong mùa “lễ Giáng Sinh” của họ, tuy thật ra chẳng ai biết Chúa Giê-su của Ki Tô Giáo sinh ra năm nào, ngày nào, giờ nào, và ở đâu.  Và lẽ dĩ nhiên, các tín đồ Ki Tô Giáo không hề biết là Ki Tô Giáo đã “thuổng” (stole) ngày lễ của dân gian vào dịp Đông Chí để ăn mừng ngày lại bắt đầu dài ra, làm ngày “lễ giáng sinh”. Thật vậy, những chi tiết về gia phả và sự sinh ra của Giê-su trong Thánh Kinh có quá nhiều mâu thuẫn nên không cho phép bất cứ ai khẳng định ông ta đích thực là con của ai, sinh ra ngày nào, và ở đâu.  Phúc Âm Matthew viết là Giê-su sinh ra trong triều đại của vua Herod, nhưng lịch sử lại chứng tỏ rằng Vua Herod chết vào năm – 4, nghĩa là 4 năm trước khi Chúa sinh ra đời.  Phúc Âm Luke cho rằng Giê-su sinh ra trong thời có cuộc kiểm tra dân số của Quirinius, Toàn Quyền Syria và Judea (Do Thái).  Nhưng lịch sử lại chứng tỏ rằng cuộc kiểm tra này xảy ra năm 6-7, nghĩa là 6-7 năm sau khi Chúa sinh ra đời.  Sự mâu thuẫn trong hai Phúc Âm trên là một bài toán nan giải cho các nhà thần học Ki Tô Giáo.  Cho nên rút cuộc họ dạy tín đồ là “cứ tin đi thì sẽ được tất cả” và tín đồ, vì cái “được tất cả” đó cho nên không cần biết đến những mâu thuẫn trong Thánh Kinh và tiếp tục tin Giê-su đúng là “Chúa sinh ra đời” vào ngày 25 tháng 12 theo Thường Lịch. Mặt khác, Thánh Kinh viết rằng Giê-su là con của Joseph, thuộc dòng dõi vua David, một điều kiện để người Do Thái có thể chấp nhận Giê-su là đấng cứu tinh của dân Do Thái đang rên xiết dưới ách nô lệ của La Mã.  Thánh Kinh cũng lại viết rằng, Giê-su chính là con của Chúa Thánh Thần, một hồn ma thánh (Holy Ghost) phi vật chất.  Do đó, Giê-su là Con duy nhất của Thiên Chúa, và cũng do đó, Giê-su chính là Thiên Chúa, và cũng do đó, Giê-su chính là Chúa Thánh Thần, theo thuyết Ba Ngôi Nhất Thể của Ki Tô Giáo phịa ra mấy trăm năm sau khi Giê-su đã chết.  Tất nhiên, đã là Thánh Kinh của Ki Tô Giáo hoặc đã là những lời “Giáo hội (Ca-Tô) dạy rằng :....) thì không thể nào sai lầm, cho nên tín đồ Ki Tô Giáo, bắt buộc phải tin mọi điều Thánh Kinh viết, hoặc bắt buộc phải tin những lời “Giáo Hội dạy rằng...” là không thể nào sai lầm.  Không tin thì không được Giê-su cứu rỗi, cho lên Thiên Đường sống đời đời với ông ta, lẽ dĩ nhiên là sau khi chết, vì chính Giê-su cũng đã chết rồi. 

      Giê-su sinh ra như thế nào? Ai là cha?  Có lẽ chỉ có mình Đức Mẹ (Đ.M.) mới biết rõ ai là cha thực của Giê-su.  Chính Joseph, cha của Giê-su, dòng dõi vua David, cũng không biết ai là cha của Giê-su.  Nhưng Đ.M. lại không nói ra, và những điều mà chúng ta biết về sự sinh ra của Giê-su là do 4 người viết Phúc Âm, không có người nào là tông đồ của Giê-su: Matthew, Mark, Luke, và John kể lại sau khi Giê-su bị đóng đinh trên cây thập giá, chết và táng xác, đã từ 20-30 năm (Mark), 50-60 năm (Matthew và Luke), hoặc tới cả 100 năm (John).   Mark và John đều không viết gì về “giáng sinh”, chỉ có Matthew và Luke, cóp nhặt hầu như nguyên văn của Mark và thêm vào chuyện “giáng sinh”, mỗi chuyện một khác. 

      Tuy nhiên, trong Ki Tô Giáo không phải là không có những “phản đồ”, nghĩa là những người còn dám dùng đến lý trí, khả năng phán đoán của con người.  Điển hình là Giám mục Tin Lành John Shelby Spong, sau khi nghiên cứu kỹ Thánh Kinh, đã viết trong cuốn Sinh Ra Từ Một Người Đàn Bà: Một Giám Mục Nghĩ Lại Về Sự Sinh Ra Của Giê-su (Born of a Woman: A Bishop Rethinks The Birth of Jesus) như sau: 

      Giê-su được diễn giảng bởi những tín đồ Ki Tô lúc đầu theo những quan niệm về Thiên Chúa mà họ tin tuyệt đối, dựa theo hình ảnh của một ông vua trên trời.  Điểm chủ yếu là hình ảnh Giê-su ngồi bên phải của cái ngai Chúa Cha ngồi trên trời.  Hình ảnh này phản ánh niềm tin huyền thoại phổ thông thời đó về một vũ trụ được coi như là một vương quốc.

   Nhưng Giê-su đã được “sinh ra từ một người đàn bà”.  Sự sinh ra đời của Giê-su cũng gây nhiều tai tiếng như cách ông ta chết.   Ông ta (Giê-su) không là ai cả, một đứa trẻ ở Nazareth, chẳng có gì tốt đẹp có thể rút tỉa ra từ sự sinh ra đời này.  Chẳng có ai biết cha ông ta là ai.  Rất có thể ông ta là một đứa con hoang.  Rải rác trong miền đất truyền thống Ki Tô lúc đầu (4 Phúc Âm), có những chi tiết chứng tỏ như vậy, giống như những thỏi mìn chưa kiếm ra và chưa nổ.

   (Spong, John Shelby, Born of a Woman: A Bishop Rethinks The Birth of Jesus, Harper, San Francisco, 1992, p. 35: Jesus was interpreted by the early Christians in terms of their assumed and unquestioned concepts of God, modeled after the image of a heavenly king.  The focus was on the exalted Jesus seated at the right hand of the heavenly throne.   The image reflected the popular mythic understanding of the universe as a kingdom.. But he was “born of a woman”.. His origins were equally as scandalous as his means of death.  He was a nobody, a child of Nazareth out of which nothing good was thought to come.  No one seemed to know his father.  He might well have been illegitimate.  Hints of that are scattered like undetected and unexploded nuggets of dynamite in the landscape of the early Christian tradition.)  

    Vì sự sinh ra của Giê-su đặc biệt như vậy cho nên đi kèm với sự “giáng sinh” của Giê-su cũng có nhiều hiện tượng thiên nhiên không thuộc loại thiên nhiên mà thuộc loại hoang đường, vì chúng trái với thiên nhiên.  Một trong những hiện tượng trái thiên nhiên này là ngôi sao ở Bethlehem, hay S.O.B.  Chúng ta nên để ý là trong 4 Phúc Âm thì chỉ có Matthew là đưa ra câu chuyện về S.O.B., còn 3 Phúc Âm kia đều không biết đến hiện tượng kỳ lạ này, và ngoài Matthew ra, không có bất cứ một tài liệu nào của bất cứ sử gia nào ở ngoài Ki Tô Giáo ghi nhận một hiện tượng kỳ lạ vô tiền khoáng hậu như là hiện tượng S.O.B.  Muốn hiểu rõ tại sao lại như vậy, chúng ta hãy đọc câu chuyện về S.O.B. này trong Tân Ước: 

   Matthew 2: Sau khi Chúa Giê-su sinh ra ở Bethlehem xứ Giu-đê vào đời vua Hê-rốt, thì có mấy nhà chiêm tinh từ “Đông phương” đến Jerusalem và hỏi: “Vua của dân Do Thái mới sinh ra đời ở đâu?   Vì chúng tôi đã nhìn thấy ngôi sao của Ngài ở “Đông phương” nên đến đây để thờ phượng Ngài.”  Khi vua Hê-rốt nghe được những điều này ông ta rất bối rối..

   Rồi Hê-rốt, sau khi triệu mấy nhà chiêm tinh vào và hỏi kỹ khi nào ngôi sao hiện ra.  Rồi Vua sai họ đi đến Bethlehem...

   Họ liền đi, và kìa, ngôi sao mà họ nhìn thấy ở “Đông phương”, đi trước họ cho đến khi dừng ngay trên chỗ ở của đứa trẻ.  Khi họ nhìn thấy ngôi sao, họ vô cùng mừng rỡ.”

   (Matthew 2:   Now after Jesus was born in Bethlehem of Judea in the day of Herod the king, behold, wise men from the East came to Jerusalem, saying, “Where is He who has been born King of the Jews?  For we have seen His star in the East and have come to worship Him.”   When Herod the king had heard these things, he was troubled...

   Then Herod, when he had privily called the wise men, enquired of them diligently what time the star appeared.  And he sent them to Bethlehem....  

   They departed, and lo, the star, which they saw in the east, went before them, till it came and stood over where the young child was.  When they saw the star, they rejoiced with exceeding great joy. ) 

     Chúng ta nên để ý là Thánh Kinh tiếng Việt dịch “from the East” và “in the East” là “từ Đông phương” và “ở Đông phương” chứ không phải là “từ phía Đông” và “ở phía Đông”.  Cách dùng từ này của Ki Tô Giáo có dụng ý như tôi sẽ trình bày trong một phần sau. 

     Thánh Kinh là những lời mạc khải của Thượng đế của Ki Tô Giáo nên không thể sai lầm, lẽ dĩ nhiên là đối với các tín đồ Ki Tô Giáo.  Chúng ta không thể trách Thượng đế về sự hiểu biết của Ngài về vũ trụ tuy chính Ngài đã “sáng tạo” ra vũ trụ.  Cách đây 2000 năm thì trình độ hiểu biết của Thượng đế của Ki Tô Giáo ở trong Thánh Kinh chỉ có vậy.  Trăng sao là đèn đóm (xem Kinh Thánh, Nguyễn Thế Thuấn, Sáng Thế 1: 17) tối tối Thượng đế sai các thiên thần của Ngài mang ra treo trên vòm trời và đến ngày tận thế mà “nhà tiên tri Giê-su”, alias Chúa Con, đã khẳng định là “sắp xảy ra”, ngay trong thời mà một số tông đồ của ông còn sống, thì các tinh tú trên trời, nghĩa là những đèn đóm treo trên vòm trời, sẽ rơi rụng như sung (Xem Thánh Kinh, Khải Thị  6: 13), và khi đó “trời sẽ tối đen như mực, trăng sẽ đỏ như máu”.  Với trình độ hiểu biết về trăng sao như vậy cho nên Matthew mới viết nên hiện tượng kỳ lạ của S.O.B..  Chúng ta cũng không thể trách Thượng đế của Ki Tô Giáo là không biết rằng mặt trăng sáng là do ánh sáng của mặt trời chiếu tới.  Nếu trời tối đen như mực, nghĩa là mặt trời không còn ánh sáng, thì tất nhiên mặt trăng cũng phải tối đen như mực, chứ không thể nào lại đỏ như máu.  Nhưng đó lại chính là những lời khải thị của Thiên Chúa toàn năng, toàn trí của Ki Tô Giáo, cho nên các tín đồ Ki Tô Giáo không thể không tin.  Bởi vì không tin điều này thì kéo theo việc không tin tất cả những điều khác mà Thiên Chúa đã khải thị, vì không có một căn bản nào có thể dựa vào đó để mà quyết định lời khải thị nào đúng, lời khải thị nào sai?  Và như vậy thì sẽ không được lên thiên đàng.  Vấn đề chính là ở chỗ này. 

     Trở lại câu chuyện S.O.B. trong Thánh Kinh. Trước hết, có lẽ chúng ta cũng nên biết thế nào là một ngôi sao? 

      Một ngôi sao chẳng qua chỉ là một khối cầu khí nóng (hot ball of gas), đúng ra là một khối cầu plasma gồm nhân nguyên tử Hydrogen (proton), nhân nguyên tử Helium và điện tử (electron), tụ lại với nhau do lực vạn vật hấp dẫn (gravity), và sáng vì những hạt nhân nguyên tử trong đó đụng nhau với vận tốc rất cao đưa đến sự giao hạch (nuclear fusion), nghĩa là sự giao hoặc tổ hợp của hai hạt nhân nguyên tử nhẹ (proton) để tạo thành một nhân nguyên tử nặng hơn (Helium) và do đó phát ra nhiệt hay năng lượng.  Mặt Trời trong Thái Dương Hệ của chúng ta cũng là một ngôi sao.  

     Nhiệt độ của một ngôi sao là bao nhiêu độ?  Ở trung tâm, nhiệt độ của một ngôi sao vào khoảng từ 15 đến 60 triệu độ.  Kích thước của một ngôi sao là bao nhiêu?  Các khoa học gia thường lấy kích thước của Mặt Trời làm chuẩn.  Các ngôi sao thông thường có kích thước từ 1/10 cho tới 10 lần kích thước của Mặt Trời (có đường kính vào khoảng 1 triệu 400 ngàn cây số).  Do đó, kích thước của một vị sao là có đường kính từ 140000 cây số đến 14 triệu cây số. Đường kính của trái đất chỉ vào khoảng 13000 cây số. Sao ở cách xa chúng ta bao nhiêu?  Ngôi sao Proxima Centauri gần Thái Dương Hệ nhất, nghĩa là gần chúng ta nhất, cách chúng ta khoảng 1.3 parsecs, nghĩa là vào khoảng “40 Ngàn Tỷ” (40 x 10 12  = 40 trillion) cây số (km).  Vì ở cách xa trái đất như vậy nên các sao, dù vô cùng lớn, cũng chỉ là những điểm sáng trên bầu trời.  

     Các khoa học gia, trải qua 20 thế kỷ, đã chịu thua, không biết gì về S.O.B., một ngôi sao liên hệ đến “Đêm Thánh Bethlehem”.   Tại sao vậy?  Vì S.O.B. không nằm trong địa hạt khảo cứu của khoa học.  Khoa học không có khuynh hướng tin nhảm tin nhí.  Tại sao lại bảo là tin nhảm tin nhí?  Vì không có ngôi sao nào có thể lừng lững đi trước dẫn đường cho khách bộ hành đi từ Jerusalem đến Bethlehem rồi dừng ở trên một cái nhà trong đó Chúa Giê-su của Ki Tô Giáo vừa mới sinh ra như được viết trong Thánh Kinh, những lời mạc khải không thể sai lầm của Thiên Chúa của Ki Tô Giáo. Khoảng cách từ Jerusalem tới Bethlehem vào khoảng 10 cây số.  Chúng ta có thể làm một thí nghiệm: định vị một ngôi sao trên trời rồi lái xe theo bất cứ hướng nào, Đông, Tây, Nam, Bắc, độ 10 cây số, xem xem vị trí của ngôi sao có thay đổi chút nào hay không?  Muốn hướng dẫn các nhà chiêm tinh đến đúng nơi Chúa Giê-su, nghĩa là Vua của Do Thái và của Do Thái mà thôi, như được viết trong Thánh Kinh, sinh ra đời, thì S.O.B. phải dừng ngay rất gần trên mái nhà nơi “Chúa giáng sinh”.  Với kích thước, nhiệt độ của một ngôi sao như vậy thì còn đâu là Chúa với chẳng Chúa, cả trái đất này sẽ bị thiêu hủy ngay tức khắc.   Còn một ngôi sao ở đúng vị trí của ngôi sao trên trời thì tôi thách đố bất cứ nhà thần học nào, từ giáo hoàng Ca-Tô giáo trở xuống cho tới các đại trí thức Ca-Tô như Đỗ Mạnh Tri, Phan Thiết Nguyễn Kim Khánh, Tú Gàn Nguyễn Cần  v..v.., các đại trí thức Tin Lành như Lê Anh Huy, Nguyễn Thanh Vũ v..v.. trong Mucsu.net, có thể cho tôi biết là ngôi sao đó đứng trên ngôi nhà nào trên một diện tích 100 cây số vuông, nghĩa là diện tích một hình vuông mà mỗi cạnh có chiều dài là 10 cây số, khoảng cách từ Jerusalem tới Bethlehem?   Cũng vì vậy mà đối với giới trí thức, S.O.B chỉ là một chuyện nhảm nhí, phi lôgic, phản khoa học. 

     Tuy vậy, chuyện nhảm nhí như vậy không chấm dứt ở đây mà còn được khai triển trong học thuật thần học của Ki Tô Giáo, một sự khai triển không kém nhảm nhí.  Học thuật thần học Ki Tô Giáo đã khai triển những chiêm tinh gia thành “Ba Vua” ở Đông-phương tuy rằng trong Phúc Âm Matthew không có chỗ nào nói đến con số 3 này.  Sau đó nền thần học Ki Tô Giáo còn diễn giải là “Ba Vua” đại diện cho 3 sắc dân: da trắng, da đen, và da vàng, đi từ Âu Châu, Phi Châu, và Á Châu đến.  Và môn Thần Học Theo Cung Cách Á Châu ngày nay đã diễn giải là các vua từ “Đông Phương” đến thờ phụng đứa bé Giê-su mới sinh ra đời.  Toàn là chuyện nhảm nhí vì tất cả mưu toan thần học của Ki Tô Giáo đều quên mất một điều: đó là Thiên Chúa của Ki Tô Giáo không biết rằng quả đất tròn và cho đến thế kỷ 16, giáo hội Công Giáo vẫn tin rằng những điều viết trong Thánh Kinh là đúng, nghĩa là trái đất phẳng và dẹt như cái đĩa, có bờ mé.  Thứ đến, mở bản đồ thế giới ra thì “Đông Phương” có 2 nước lớn là Ấn Độ và Trung Quốc.  Hai nước này cách xa Jerusalem bao nhiêu?  Gần là Ấn Độ, cách xa Jerusalem khoảng 4 ngàn miles hay 6500 cây số, rồi đến Trung Quốc, cách Jerusalem khoảng 6000 miles hay gần 10 ngàn cây số.  Khi đó mấy nhà chiêm tinh, tức ba vua ở Đông phương, may lắm thì có lừa mà cưỡi.  Phải mất bao nhiêu ngày để có thể cưỡi lừa vượt từ 6500 đến 10000 cây số để đến thờ phụng một đứa con nít mới sinh ra đời ở Jerusalem mà họ đã nhìn thấy ngôi sao của hắn và biết là “Vua của Do Thái” mới sinh ra? Nên nhớ là khi họ được S.O.B. dẫn đến nhà đứa trẻ thì đó là đứa trẻ sơ sinh chứ không phải là đã sinh ra được vài tháng hay vài năm.   

  • Chuyện Ngoài Lề. 

     Trên đây là tóm tắt câu chuyện về S.O.B..  Tình cờ tôi đọc được bài “Mùa Giáng Sinh Năm 2002: Suy Tư Về Một Đại Tín Điều Cứu Độ: “An Bần Lạc Đạo” của “Tản Viên Cư Sĩ” (sic) Phan Đình Diệm thuộc Học Hội Giê-su Giáo Việt Nam ở Houston.

   Ngay cái đầu đề và đoạn đầu tôi đã thấy là ông Phan Đình Diệm đã viết nhảm nhí bậy bạ.  Ông viết: “An Bần Lạc Đạo là một “đại tín điều”.  Một đại tín điều do thiên sứ Gabriel công bố bằng một cái tên rất dài: “Hãy vui mừng lên, hỡi đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Bà”...An Bần Lạc Đạo là đại tín điều của Giê-su Giáo...  Đức Giêsu Nazareth – Đấng Cứu Thế... công bố giao ước mới thiên mệnh cứu độ v..v... ” 

     Thứ nhất An Bần Lạc Đạo là một triết lý sống của các bậc tu hành trong Phật Giáo, có nghĩa là “sống an nhiên tự tại trong cảnh thanh bần và vui với niềm vui của đạo.”  Vì vậy các bậc xuất gia thường tự xưng là “bần Tăng”, và niềm vui đạo là niềm vui của sự điều tâm, điều thân, của Thiền định.  Trong cảnh giới “An Bần Lạc Đạo” này, chỉ có sự hiểu biết vạn pháp như chúng là như vậy (như thực tri kiến) chứ không có cái gì có thể gọi là tín điều.  Tín điều thuộc về đức tin, mà đức tin trong Ki Tô Giáo là tin vào những gì mà chúng ta biết là không thể có hoặc không thể xảy ra.

     Thứ nhì, cái câu thiên sứ (sic) công bố cho Đ.M. không phải là triết lý sống An Bần Lạc Đạo mà đó là chuyện phịa trong Tân Ước để nêu lên tư cách thần thánh của Giê-su để cho dân Do Thái thời đó tin và thờ phụng Giê-su.  Câu công bố trên chỉ có nghĩa là Chúa Thánh Thần, một hồn ma phi vật chất (Holy Ghost) nhưng lại có đủ 2 loại nhiễm sắc tố X và Y, sẽ xâm phạm tiết hạnh của Đ.M., làm cho Đ.M. có mang và có thể sinh ra một người con trai là Giê-su.  Nếu Chúa Thánh Thần thực sự phi vật chất, và vì một phép lạ nào đó mà Đ.M. có thể có mang mà không cần đến đàn ông, đàn ông thực sự, có tinh khí với hai loại nhiễm sắc tố X và Y, thì khi sinh, đứa con bắt buộc phải là con gái.   Khoa học ngày nay đã chứng minh rõ ràng như vậy. 

     Nói tóm lại, cái mà ông Tản Viên Cư Sĩ Phan Đình Diệm cho là một đại tín điều của Giê-su giáo tuyệt đối không phải là cảnh An Bần Lạc Đạo mà là huyền thoại Giê-su sinh ra từ một nữ trinh (Virgin Birth).  Tại sao lại bảo đó là một huyền thoại.  Bởi vì ngày nay không còn mấy người trong giới trí thức hiểu biết còn tin vào những chuyện hoang đường như Giê-su sinh ra từ một nữ đồng trinh.  Mặt khác, trong thế gian cũng còn có bao nhiêu huyền thoại khác về những nhân vật trong lịch sử cũng sinh ra từ nữ đồng trinh.

     Nếu ông Phan Đình Diệm không biết gì về những công cuộc nghiên cứu hiện đại nhất về nhân vật Giê-su của những học giả ngay trong các giáo hội Ki Tô thì tôi có thể giúp ông mở mang kiến thức về Giê-su giáo của ông qua vài tài liệu sau đây:  

   1) Trong cuốn "Theo Đúng Như Trong Sách: Những Thảm Họa Trong Quá Khứ Và Hiện Tại Của Quyền Lực Thánh Kinh" (Going By the Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority), Mục sư Ernie Bringas, tốt nghiệp môn thần học tại đại học United Theological Seminary ở Dayton, Ohio,  nhận định rằng: 

     Với sự tái khám phá phương pháp khoa học trong thế kỷ 16 ở Âu Châu và sự tiến triển tiếp theo của thời đại Khai sáng trong thế kỷ 18, một sự phân tích  Thánh Kinh một cách thuần lý hơn là điều không thể tránh được.  Trong một thế giới đang trở thành hướng theo tinh thần khoa học, những mô tả về Chúa đi trên sóng, về ma quỷ, thiên thần, những câu chuyện về sự sống lại của Chúa,  và nhiều hiện tượng khác, càng ngày càng khó có thể chấp nhận như là những sự thực lịch sử.

     Trong những năm 1835-1836, cuốn "Khảo Sát Cặn Kẽ Về Đời Sống của Giê-su" (The Life of Jesus Critically Examined)  của  D.  F.  Strauss  đã  quy  một số  chuyện trong Tân Ước là "huyền thoại" và định nghĩa những câu chuyện phi lịch sử như trên là sự biểu thị của một chuỗi những ý tưởng tôn giáo.  Ngày nay, kết quả những cuộc nghiên cứu phân tích tiếp tục hỗ trợ và  xác nhận sự khẳng định này.  Đa số các học giả coi những chuyện trong Tân Ước và bảy giáo lý  giáo hội đưa ra sau đây đều là huyền thoại:

  1. Đức Mẹ đồng trinh
  2. Hiện thân của Chúa  (Thượng  đế  hiện  thân thành người, nghĩa là, Thượng đế là Giê-su.)
  3. Nhiệm vụ cứu rỗi của Chúa
  4. Sự sống lại của Chúa.
  5. Sự thăng thiên của Chúa (Thân xác Chúa bay lên trời 40 ngày sau khi sống lại)
  6. Chúa trở lại trần (để làm sống lại những người   chết  cho ngày phán xét cuối cùng)
  7. Ngày phán xét cuối cùng (Chúa Cha  phán xét luận tội mọi người trong ngày Giê su trở lại trần thế)

   (With the rediscovery of the scientific method in 16th-century Europe and the subsequent evolvement of the Enlightenment during the 18th-century, it was inevitable that a more rational analysis of Scripture would occur.  In a world becoming scientifically oriented, descriptions of walking on water, of demons, angels, resurrection stories, and other phenomena grew increasingly unacceptable as historical realities.

   In 1835-1836, The Life of Jesus Critically Examined, by D. F. Strauss, referred to some NT narratives as "myth" and defined those  unhistorical   elements   as expressing a series of religious ideas.   Today,  analytical studies continue to support and confirm this assertion.  The majority of scholars regard the following NT accounts and Church-developed doctrines as myth:

   1.The virgin birth
   2.The Incarnation (God in human form; that is, God as Jesus)
   3.The work of Atonement (plan for salvation)
   4.The resurrection
   5.The ascension (Jesus' bodily ascent into heaven 40 days after the resurrection)
   6.The Second Coming (the return of Jesus to raise the dead and to summon all to the Last Judgment)
   7.The Last Judgment (the judgment of all by God at Christ's Second Coming) 

     2).Uta Ranke-Heinemann, người phụ nữ đầu tiên trên thế giới chiếm được ngôi vị giáo sư thần học công giáo (1970) (The first woman in the world to hold a chair in Catholic theology), và cũng là người đã bị lột chức năm 1987 vì giáo sư Ranke-Heinemann đã đặt vấn đề “Giê-su sinh ra từ một nữ đồng trinh”.  Tại sao?  Vì giáo hội dạy sao thì phải tin vậy chứ không được phép đặt vấn đề về những điều mình phải tin.  Năm 1995, Giáo sư Uta Ranke-Heinemann đã xuất bản cuốn Hãy Dẹp Đi Những Chuyện Trẻ Con (Putting Away Childish Things) trong đó giáo sư đã phân tích rất kỹ và coi những chuyện trong Tân Ước như “Chuyện Giáng Sinh của Luke” (Luke’s Christmas Fairy Tale); “Chuyện Giê-su sinh ra từ Một Nữ đồng trinh” (The Virgin Mother); “Gia phả của Giê-su” (Jesus’ Genealogies); “Những phép lạ của Giê-su” (Miraculous Fairy Tales); “Ngày Thứ Sáu Tốt Đẹp” (Good Friday); “Chuyện Judas phản Chúa” (The fairy Tale of Judas the Traitor); “Chuyện Phục Sinh” (Easter); “Chuyện Thăng Thiên” (Ascension) v..v.. đều là những chuyện trẻ con, không còn một giá trị nào trong thế giới của những người trí thức ngày nay. 

   3). Randel Helms cũng xuất bản cuốn Những Chuyện Giả Tưởng Trong Phúc Âm (Gospel Fictions) năm 1988 và bác bỏ tất cả những chuyện trong Tân Ước về Sự Sinh Ra Của Giê-su (Nativity Legends), Những Phép Lạ của Giê-su (Miracles), Chuyện xét xử và đóng đinh Giê-su (Trial and Crucifixion), và Chuyện Sống Lại của Giê-su (Resurrection Fictions). 

    4).Và khi bàn về vai trò “Cứu Thế” của Giê-su, trong cuốn Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Không Thì Chết (Why Christianity Must Change Or Die), Giám mục John Shelby Spong đã dành riêng chương 6 để viết về đề tài Giê-su Như Là Đấng Cứu Thế: Một Hình Ảnh Cần Phải Dẹp Bỏ (Jesus as Rescuer: An Image That Has To Go).  Trong chương này, Giám Mục Spong viết như sau: 

     "Nhân loại chúng ta không sống trong tội lỗi.  Chúng ta không sinh ra trong tội lỗi.  Chúng ta không cần phải rửa sạch cái tì vết tội tổ tông trong lễ rửa tội.  Chúng ta không phải là những tạo vật sa ngã, mất đi sự cứu rỗi nếu chúng ta không rửa tội.  Do đó, một đấng cứu thế có nhiệm vụ khôi phục tình trạng tiền sa ngã của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước thời -Darwin và một sự vô nghĩa sau thời -Darwin."

   (We human beings do not live in sin.   We are not born in sin.  We do not need to have the stain of our original sin washed away in baptism.  We are not fallen creatures who will lose salvation if we are not baptized.. A savior who restores us to our prefallen status is therefore pre-Darwinian superstition and post-Darwinian nonsense) 

       Chuyện ngôi sao lạ, hay S.O.B., cùng những chuyện lạ khác trong Tân Ước ngày nay không còn là những chuyện lạ nữa trước khối lượng nghiên cứu hiện đại nhất của hàng ngàn học giả về Thánh Kinh và nhất là về nhân vật Giê-su.

     Điều lạ ngày nay chính là hàng triệu người vẫn còn tin những chuyện lạ trong Thánh Kinh như là những sự kiện lịch sử, vẫn còn hàng triệu người tin rằng Giê-su thực sự sinh ra từ một nữ đồng trinh, kết quả sự xâm nhập vào thân thể của một Thánh Ma (Holy Ghost).  Và đây cũng chính là thảm họa của thế giới. T.C.N.

 “Mùa Giáng sinh 2002: Suy Tư Về Một Đại Tín Điều Cứu Độ..” Phan đình Diệm

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........