- ‘Xuất’ và ‘Xử’ trong cuộc đời
chính trị của
- Trương Vĩnh Ký
-
- Nguyễn Đắc Xuân
Hơn một thế kỉ qua, nhiều sách báo
đã viết khá kỹ về sự nghiệp văn học, sử học, khoa học, ngôn ngữ học
v.v... của Trương Vĩnh Ký. Ai ai cũng phải công nhận Trương Vĩnh Ký là một
người thông minh, một người rất tài. Chỉ còn các vấn đề trương
Vĩnh Ký dùng cái tài đó phục vụ cho ai, hậu quả của sự phục vụ đó
đã tác động tốt xấu như thế nào đối với dân tộc, các giai đoạn
trong cuộc đời chính trị của ông như thế nào... thì chưa khám phá hết
cho nên vẫn còn có những vùng tối với nhiều ý kiến khác nhau. Để góp
phần làm rõ những vùng tối đó, với tư cách một người nghiên cứu
nhà Nguyễn và Huế xưa, tôi mạo muội đề cập đến hai thời điểm
trong cuộc đời chính trị của Trương Vĩnh Ký: thời điểm ông ra làm
quan với Pháp năm 1860 và thời điểm ông bị cho nghỉ việc tại triều đình
Huế hối cuối năm 1886.
1. Trương Vĩnh Ký nhận nhiệm
vụ ‘phức tạp và quan trọng’ giúp những người đã giải phóng cho
ông
Theo sử biên niên, sau chiến dịch bắn
phá Đà Nẵng (01.91858), Regault de Genouilly xuôi tàu vào chiếm Gia Định ở
Nam bộ (17.01.1859), Genouilly giao cho Trung tá hải quân Jean Bernard
Jauréguiberry và 800 quân ở lại giữ Gia Định còn y trở lại đánh phá Đà
Nẵng lần thứ hai. Lúc đó chàng trai 23 tuổi Trương Vĩnh Ký đang ở Cái
Mơn (Bến Tre) bèn bí mật ‘vượt qua những rừng rậm, núi đồi’
lên Gia Định tìm gặp Jauréguiberry để cầu mong hải quân Pháp về ‘giải
phóng’ cho ông và những người đồng đạo của ông. Nhưng có lẽ chung
quanh khu đóng quân của ông Jauréguiberry lúc đó đang bị quân Nguyễn bao
vây chặt nên Trương Vĩnh Ký không thể tiếp cận được kẻ thù số một
của dân Nam bộ lúc đó. Trương Vĩnh Ký dùng cái khả năng tiếng Pháp tuyệt
vời của mình viết cho Jauréguiberry một cái thư rất thống thiết, ký
tên là Pétrus Key. Thư viết vào cuối tháng 3/1859, sau khi Pháp chiếm thành
Gia Định hơn một tháng. Đây là lá thư đầu tiên của Trương Vĩnh Ký gởi
cho thực dân Pháp và chưa hề được trích dẫn trên sách báo xuất bản tại
Việt Nam trong hơn một thế kỉ qua. [1]
Trương Vĩnh Ký cho biết ông đã viết
lá "Thư gởi Đại nhân và tất cả các sĩ quan tôn kính của Đội
Hải thuyền Pháp quốc trong hoàn cảnh: ‘... giữa đường tôi không
được chuẩn bị gì, không có giấy, không có sổ ghi chép, không có mực
vừa ý, không có bú thích hợp. Nhưng tôi nhân danh là người đại diện
cho tín hữu Ki tô kính dâng lên Ngài lời cầu xin của chúng tôi, tôi đến
để tế lể cùng Ngài nỗi thống khổ mà chúng tôi hằng gánh chịu dưới
bạo quyền của các quan lại triều đình gây ra, vì Ngài sẽ là
người phục thù và mang lại tự do cho chúng tôi’ (au milieu de la
route, je n’ai rien à ma disposition, ni papier, ni bonne notes, ni encre convenable,
ni plumes approprieés. Mais je vien come champion de tous les Chrétiens vous offrir nos
supplications, je viens vous raconter tous les maus que la cruelle tyrannie des mandarins
nous fair subir, car vous êtes les vengeurs de notre liberté...).
Trương Vĩnh Ký trình bày với tên
lính viễn chinh Pháp cảnh ông và gia đình ông ‘đang sống giữa đàn
chó sói đói ăn [2] (au milieu des loupes rapaces)’ và ‘giữa những sợ
hải triền miên đó, giữa những nguy hiểm không ngừng đó
(au milieu de ces craintes continuelles de ces dangers incessants)’,
ông ‘chỉ còn hy vọng sự giúp đỡ; (seule notre
esperance en vous nous soutientt) của Hải quân Pháp ‘mới nâng đỡ được
tinh thần’ cho ông. Ông báo động với kẻ thù dân tộc lúc đó là:
‘Tất cả chúng tôi chắc sẽ chịu chết nếu Ngài không kịp đánh đuổi
kẻ thù của chúng ta [3] (Nous sommes tous menacés de la mort si vous ne
chassez bientôt nos ennemis).
Trương Vĩnh Ký báo cho Jauréguiberry biết
ông đã hết sức nỗ lực mà không gặp được vị cứu tinh của ông: ‘Thực
uổng công của chúng tôi đã vượt qua những rừng rậm, núi đồi để tìm
đến Ngài mà không được. Bây giờ thì khó mà tiếp tục, nên đành phải
chờ đợi các vũ khí vô địch của Ngài... (En vain, J’ai essayé de
franchir les forêts, les champs, les montagnes, les valler pour aller à vous; dejà
même il m’est difficile de... mes pas. J’attents donc ici que vos armes
invincibles...)’.
Kết thúc lá thư, Trương Vĩnh Ký hạ
một lời kêu cứu khẩn thiết và khẳng định Jauréghuiberry là người giải
phóng cho Trương Vĩnh Ký: ‘Hãy thương xót chúng tôi ! Hãy thương xót
chúng tôi ! Ngài sẽ là người giải phóng chúng tôi...’
(Ayez pitié de nous! Ayez pitié de nous! Vous êtes nos liberateurs).
Nhưng không đợi cho đến khi quân viễn
chinh đến giải phóng cho ông ở Bến Tre, ngay cuối năm 1859, Trương Vĩnh Ký
đã có mặt dưới trướng của Giám mục Lefèbre tại Sài Gòn. Theo Nguyễn
Văn Trấn: ‘Tháng 12-1859 Jauréguiberry trở vào nội thành (Sài Gòn) mở
rộng diện chiếm đóng ra Chợ Lớn. Nó thiếu một thông ngôn và cậy
Giám mục Lefèbre tìm. Ông nầy chỉ Trương Vĩnh Ký. Trương Vĩnh Ký đưa
tay’ (Trương Vĩnh Ký con người và sự thật, Tp HCM 1993, trang 17). Trương
Vĩnh Ký không chỉ là một người thông ngôn mà theo Jean Bouchot (Pétrus J.B.
Trương Vĩnh Ký) ông còn làm nhiệm vụ ‘phức tạp và quan trọng hơn nữa’.
Ông Mẫn Quốc hiểu cái nhiệm vụ quan trọng và phức tạp đó là làm ‘tình
báo, chỉ điểm, bày mưu lập kế để giặc chóng đạt được mưu đồ
chinh phục của chúng’ (Nghiên Cưú Lịch Sử số 60, 3-1964).
Từ 1860, Trương Vĩnh Ký vừa cung cấp
những thông tin chính trị cần thiết (Nguyễn Thế Anh, Monarchie et fait
colonial au VN, L’Harmattan, 1992, trang 138) và đi cùng với thực dân Pháp suốt
chặng đường ngót một phần tư thế kỉ (1860-1885) để đánh chiếm Nam bộ,
Bắc bộ và đặt xong nền bảo hộ tại Trung bộ. Trương Vĩnh Ký đã trở
thành người đứng đầu danh sách khai quốc công thần của chế độ thực
dân Pháp ở Việt Nam (Vũ Ngự Chiêu, Các nhà Vua dưới triều Nguyễn, tập
I, nxb Văn Hóa (Hoa Kỳ) 1999, trang 140).
2. Ông Hàn lâm viện thị giảng
học sĩ sung tham tá viện Cơ Mật triều đình Huế
Đến tháng 4 năm 1886, Toàn quyền lưỡng
kỳ Trung Bắc Paul Bert đem Trương Vĩnh Ký vừa làm cố vấn vừa làm thầy
dạy vua Đồng Khánh. Vua Đồng Khánh là một sản phẩm của thực dân
Pháp, nên ông đã chuẩn thưởng ngay: ‘...cho Toàn quyến Bôn Be làm Hàn
lâm viện trực học sĩ, và ẩn sĩ trong Nam là Trương Vĩnh Ký (người
Gia Định đi theo Toàn quyền đến) làm Hàn lâm viện thị giảng học sĩ’
(Đại Nam Thực Lục Chính Biên, tập 37, bản dịch, Hà Nội 1997, trang 147).
Đặt được Trương Vĩnh Ký vào ngồi
bên cạnh vua Đồng Khánh xong, Toàn quyền Paul Bert rời Huế. Trương Vĩnh ký
thực hiện ngay ‘nhiệm vụ lịch sử’ do Paul Bert giao. Cho đến nay chưa
có công trình biên khảo nào trình bày đầy đủ những việc Trương Vĩnh
Ký đã làm bên cạnh vua Đồng Khánh. Trong bài viết ngắn này tôi xin điểm
lại một số công việc mà Trương Vĩnh Ký đã thể hiện qua thư từ ông
đã gởi cho Toàn quyền Paul Bert cũng như những nhân vật thực dân thời bấy
giờ.
2.a. Dạy vua Đồng Khánh chữ Tây dể
theo Tây
Trương Vĩnh Ký tự nhận mình đã
xây dựng ‘vị vua trẻ (Đồng Khánh) sẽ hoàn toàn chinh phục bởi nước
Pháp mà tôi đã dạy cho nhà vua biết và yêu thích tiếng Pháp. Cần phải
lợi dụng những bản chất tuyệt hảo và trung thành của nhà vua’ (Thư
của Trương Vĩnh Ký gởi bác sĩ Chavanne, xen Khổng Xuân Thu, sđd, trang 128).
2.b. Trương Vĩnh Ký đã trấn áp những
quan lại yêu nước và thuyết phục vua quan nhà Nguyễn đầu hàng và làm
tay sai cho Pháp:
‘Tôi sẽ trấn áp những hãnh thần
(tức quan lại sắt son một lòng với nước) và sẽ bao vây lấy nhà vua,
tôi cũng sẽ gom góp những người thật sự có khả năng cho viện Cơ mật
(...). Tôi vừa thuyết phục xong cho các nhà Nho hiểu rằng nước Nam không
thể không cần đến nước Pháp, lại càng không thể chống lại nó được,
mà phải cùng nhau tay trong tay bước đi, không một hậu ý
. (Thư của Trương Vĩnh Ký gới P.Bert ngày 17.7.1886, trích lại của Nguyễn
Sinh Duy, Cuốn sổ bình sanh của Trương Vĩnh Ký, Nam Sơn, SG 1974, trang 78).
Đúng như lời nhận định của Mẫn Quốc ‘Trương Vĩnh Ký vào viện Cơ
Mật, cốt để nắm chắc được Đồng Khánh và để bao vây vua này bằng
toàn những người thân Pháp nhất để thực hiện đường lối chính trị
của mình’ (Mẫn Quốc, NCLS, số 60, HN, số 3/64). Viên đại thần thân
Pháp dưới trướng vua Đồng Khánh và Trương Vĩnh Ký thời bấy giờ là
Nguyễn Hữu Độ.
- 3. Trương Vĩnh Ký là tai mắt của thực
dân Pháp
- ở chóp bu triều đình Huế
Hơn ai hết Trương Vĩnh Ký hiểu rõ
tâm trạng rất đau khổ của vua quan nhà Nguyễn khi phải ký Hòa ước
Patenôtre (1884): ‘Ngài (tức Toàn quyền Paul Bert) cũng thừa biết như tôi
rằng, sự tách ra 13 tỉnh Bắc kỳ làm rướm máu con tim của nhà vua và của
người An Nam, nhưng họ cũng đành nén lòng, dầu cho có chết trong lòng cũng
còn bảo toàn đượcAn nam-Trung kỳ cái tiềm thế được độc lập giải
quyết việc nội trị’ (P.Ký gởi Paul Bert, ngày 4.11.86, NVTrấn, sách
đã dẫn, tr.90).
Và Trương cũng hiểu ất rõ sự yếu
ớt của lực lượng khánh chiến chống Pháp lúc ấy. Ông viết thư báo
cho quan thầy Pháp hay rằng: ‘Dám kháng cự thì không có gì đáng sợ.
Họ chỉ có những khí giới cổ lỗ của nhà nước An nam và vài món mua của
bọn buôn lậu Trung hoa. Cái cớ chứng minh là việ ở Quãng Trị, đã hai lần
mà không cắt nỗi đường dây thép nói.’ (P.Ký gởi P.Bert ngày
5.10.1886, NVT, Sđd, tr.88).
- 4. Tham mưu cho thực dân Pháp bình định
- và thành lập lực lượng cai trị nước
ta
Trương Vĩnh Ký đã có kinh nghiệm khi
thấy Charner sử dụng hai trung đội lính đạo người Việt do Rigault de
Genouilly thành lập ở Đà Nẵng năm 1859, vào phục vụ chiến dịch hạ đồn
Chí Hòa vào ngày 24.2.1861 rất có hiệu quả (Dương Kinh Quốc, Việt Nam- những
sự kiện lịch sử, Tập 1, tr.34). Cho nên Trương đã khuyên Paul Bert: ‘hãy
mau thành lập những khinh binh và võ trang cho chúng; Ngài không có gì phải
lo sợ cả, ma75c dầu những nhà quân sự nói như vậy, bởi vì những súng
ống và quân nhu được Ngài cung cấp, cho vay hoặc bán, sẽ ở dưới trách
nhiệm trực tiếp của nhà vua và của triều đình An nam, mà, sau cái vụ
mùng 5 tháng 7 kinh khiếp, chỉ còn tìm thấy con đường thoát ở nước Pháp’.
(Petrus Ký, Erudit Cochichinois par Jean Boucht, Im. Commerciale, 1925, trích lại của
Nguyễn Sinh Duy Sđd, tr.82). Đây là một âm mưu dùng người Việt để giết
người Việt, rất thâm độc. Người Việt sẽ chết thay cho người Pháp
và biết đâu lực lượng này sẽ quay súng triệt hạ triều đình nhà Nguyễn
để cho lực lượng của Trương Vĩnh Ký lên thay. May sao, Paul Bert chưa thực
hiện được việc này thì đã chết vì bệnh vào ngày 11.11.1886.
Trong thư đề ngày 27.9.1886, Trương
Vĩnh Ký khuyên vua Đồng Khánh: ‘Hễ đó ra mà đào cái kinh nhỏ biệt
sở Mang cá ra, thì xin cho dân đào cho đông mà làm cho mau...’ (Trích lại
của Nguyễn Sinh Duy, Sđd, tr.84). Mang cá là khu vực bảo vệ Kinh thành Huế
về phía đông, là một bộ phận không thể cắt rời của Kinh thành Huế.
Sau hiệp ước Harmand (1883) rồi Patenôtre (1884) Pháp ép triều đình Huế phải
giao Mang cá cho Pháp. Giờ đây (1886), Trương Vĩnh Ký tham mưu cho vua Đồng
Khánh cắt thêm đất phía tây Mang cá giao cho Pháp mở rộng đồn binh, và
đào một con sông tách phần đất mới giao khỏi đất của Kinh thành. Việc
đào sông này quá hệ trọng cho nên triều đình Huế đã can vua Đồng Khánh
không thực hiện và thay con sông bằng một bức tường ngăn như ta còn thấy
ngày nay. Sử triều Nguyễn viết sự kiện này: ‘...mở rộng đất nhượng
(thành mang cá), theo đường thuỷ từ Mộc Kiều (tục gọi cầu Son) thẳng
đến Thạch Kiều (tục gọi Cầu khố); lại từ Thạch Kiều xây đắp tường
ngăn thẳng đến cửa chính bắc, cửa này thuộc về trong giới hạn đất
nhượng...Về xây đắp tường ngăn, toàn quyền trước định khỏi đào
sông ngòi. Vua bảo việc ấy rất không hợp ý, sai viện Cơ mật lấy cớ
đứt long mạch’ (ĐNTLCB, tr.37, tr.208) không đồng ý nên mới phải
xây tường. Thua trận và phải chịu sự bảo hộ của Pháp nhưng ít ra triều
đình Huế cũng còn một chút sáng suốt để phản đối việc đào sông từ
cầu Kho ra cửa chính bắc theo sự tham mưu độc địa của Trương Vĩnh Ký.
5. Hoàn thành một hiệp ước
Điểm lại những việc trên chúng ta
thấy việc làm của Trương Vĩnh Ký tại triều đình Huế đã hết sức
tai hại cho Việt Nam. Thế nhưng đó chỉ là những việc vặt. Mục tiêu lớn
nhất mà Trương Vĩnh Ký phấn đấu là đạt cho được một hiệp ước đặt
cơ sở cho việc chiếm đóng lâu dài của thực dân Pháp đối với phần
đất còn lại ở Trung, Bắc kỳ.
‘Song tất cả những cái đó thúc đẩy
tôi tận tâm lo liệu cho cái hiệp ước mà Đại nhân muốn Nhà nước
An nam sớm chánh thức đưa ra, để giải quyết tình hình và định ra
chính sách cho sau này.Vì vậy tôi xin nhắc Đại nhân cái dự án bình định
với những phương cách hành động mà chúng ta đã hiệp ý để đạt tới
sự mong ước’. (P.Ký gởi Paul Bert ngày 5.10.1886, NVTrấn, Sđd, tr.88).
Nhưng may mắn cho triều đình Huế, cái hiệp ước mà Trương Vĩnh Ký hết
sức phấn đấu đó chưa ra đời thì người chủ mưu là Paul Bert đã chết
và vai trò chính trị của Trương Vĩnh Ký tại Huế cũng chấm dứt. và người
ta đã thay Trương Vĩnh Ký bằng Diệp Văn Cương- một người Nam bộ học
ở Algérie về, nhưng không làm tay sai cho Pháp như Trương Vĩnh Ký.
6. Thủ đoạn làm việc
Trương Vĩnh Ký người mặc quốc phục
Việt Nam, nhưng thực chất ông là tay sai cao cấp của thực dân Pháp.
Chính Trương đã khẳng định với quan thầy Paul Bert ‘Xin ngài tin tôi
là người giúp việc tận tuỵ’ (Thư P.Ký gởi P.Bert ngày 4.11.1886,
NVTrấn, Sđd, tr.90). Lời khẳng định đó vừa mới phát ra chừng một tuần
lễ thì Paul Bert chết (11.11.1886). Để lấy lòng tin của P.Vial – người
thay P.Bert, Trương Vĩnh Ký trình bày quá trình làm việc cho Pháp của ông:
‘Chính trị mà tôi theo đuổi trên cương vị khó khăn của tôi ở Huế,
cũng chẳng qua là chính trị của ông Paul Bert. Thiếu điều là ông đọc
cho tôi làm’ (P.Ký trả lời P.Vial ngày 18.12.1886, NVTrấn, Sđd, tr.92).
Để có thể làm công việc chỉ điểm,
điều tra tình hình báo cáo cho Pháp, tham mưu cho Pháp, tham mưu cho ông vua
tay sai Đồng Khánh, Trương Vĩnh Ký không bao giờ nhận mình là mật báo
viên cao cấp, là quân sư cho hai bên Việt Pháp. Trương Vĩnh Ký luôn luôn
che đậy dưới cái mác ‘ẩn sĩ’. Ngay khi lần đầu được Toàn quyền
cầm tay đến với vua Đồng Khánh, Trương Vĩnh Ký vẫn tự giới thiệu
mình là ‘ẩn sĩ’. Suốt thời gian ở Huế, nhà của Trương Vĩnh Ký ở
gần cầu Gia Hội, hằng ngày ông đi xe tay vào làm việc trong viện Cơ mật
hoặc đi đò qua Tòa khâm ở bờ nam sông Hương giữ thanh thiên bạch nhật,
thế nhưng ông vẫn phân bua mình là ‘ẩn sĩ’, ‘vì thời thế mà ra
làm việc chứ không tha thiết gì’. Trí thức Huế lúc ấy biết rõ bộ
mặt giả nhân giả nghĩa của Trương bèn có hai câu chữ Hán rằng:
- Gia Hội kiều đầu song ẩn sĩ [4]
- Đông Ba quách ngoại kỷ thanh lâu
- và người đương thời đã diễn Nôm:
- Đầu cầu Gai Hội ‘đôi trò núp’
- Ngoài cửa Đông Ba mấy mụ trùm.
Đôi trò núp là ‘song ẩn sĩ’ mà
còn nghĩa bóng những người núp phóng uế bậy bạ dưới hai đầu cầu
Gia Hội (Theo báo Sông Hương, số 28, ngày 20.2.1937). Trương Vĩnh Ký rất
tài giỏi nhưng làm tay sai cho giặc nên người Huế đương thời đã xem Trương
giống như kẻ vô lại núp lén dưới đầu cầu để phóng uế bậy bạ vậy.
Đang làm việc với vua Đồng Khánh,
đến đầu tháng 7.1886, đột nhiên Trương Vĩnh Ký ‘năn nỉ tâu xin với
vua cho mình về Sài Gòn làm ẩn sĩ’ (NVTrấn, tr.75). Tưởng như thế
đã chia tay họ Trương, không ngờ sau Trương trở lại và cho vua Đồng Khánh
biết:
‘Nay vì đến lúc phải ẩn mặt một
hồi cho được việc nước nhà, cho Hoàng thượng. Bây giờ có khi Hoàng thượng
chưa thấy rõ là cần phải như vậy, rồi sau mới biết là mưu’ (TVKý
gởi vua Đồng Khánh ngày 27.9.1886, NSDuy, Sđd, tr.84). Đối với vua mà Trương
Vĩnh Ký còn dùng thủ đoạn lừa bịp như thế thì thật quá táo bạo. [5]
Sau khi Paul Bert qua đời, Trương Vĩnh
Ký bị bãi chức ở triều đình Huế. Ông trở lại Sài Gòn và nhờ thân
hữu bên Tây can thiệp cho giữ ông lại dạy học với tiền lương 1.880
quan Pháp /năm. Trương tức giận gửi thư cho P.Vial- người tạm thời thay
chức vụ của P. Bert và nói huỵch toẹt ra rằng: ‘(Tôi là) tôi tớ cũ của
nhà nước (Pháp), tôi làm việc và trông đợi tăng lương...’ (NVTrấn,
Sđd, tr.94). Trương Vĩnh Ký xác định mình là tôi tớ của Pháp và làm việc
để lãnh lương. Khi bị bãi chức trở lại với nghề cũ dạy học lương
thấp, Trương Vĩnh Ký mới nổi dóa kiện cáo lung tung. Thế thì trước đó
Trương đã từng lãnh lương bao nhiêu ? Ông Mẫn Quốc (NCLS số 60, tháng
3/1963) cho biết: ‘Từ năm 1872 Trương Vĩnh Ký đã lãnh chức tri huyện
hạng nhất lương mỗi năm được 2.400 quan Tây, lại còn dạy tiếng Đông
Phương được mỗi năm là 9.000 quan. Một đồng bạc khi ấy ăn năm quan.
Như vậy là Trương được mỗi năm 11.400, tính ra tiền là 2.200 đồng bạc.
Trong khi ấy lương của tên Gaím đốc nội vụ là là người đứng đấu
các hàng viên chức Pháp (ngoài Thống đốc Nam kỳ) được có mỗi năm
18.000 thêm một số phí tổn 1.200 quan để mua văn phòng phẩm cho
công nhân viên của giám đốc, cộng là 19.200 quan. Kể đến viên chức thứ
hai là tổng thư ký, được mỗi năm là 15.000 quan, rồi đến viên cục trưởng
(là viên chức thứ ba) được mỗi năm 10.000 quan. Thế là lương của
Trương Vĩnh Ký khi ấy hơn cả lương của viên cục trưởng (Documents
pour servir à l’histoire de Sai Gon par J.Bouchot, tr.422). Sau khi đi Huế về
lương của Trương Vĩnh Ký chỉ còn 1880 quan/năm, lương của Trương đã sụ
mất: 11.4000-1880=9.520 quan. Qua việc Trương Vĩnh Ký khiếu nại về lương của
ông bị sụt chúng ta mới biết Trương Vĩnh Ký làm tôi tớ cho Pháp để lãnh
lương bao bố. Và muốn được Pháp trả cho cái luơng bao bố ấy Trương
Vĩnh Ký phải tiếp tục nổ lực tiếp tay cho Pháp chinh phục nước ta như
thế nào, có lẽ cho đến nay chưa ai có thể hiểu hết được.
Vua Đồng Khánh là ông vua do Pháp đặt
lên và làm tay sai cho Pháp. Qua bài viết ngắn này ta thấy người dạy học
cho Đồng Khánh biết làm tay sai cho Pháp như thế nào lại chính là nhà ‘bác
học’ Trương Vĩnh Ký. Để có thể hiểu Trương Vĩnh Ký một cách đầy
đủ thiết nghĩ bên cạnh những trước tác của Trương Vĩnh Ký cung cấp
cho Pháp qua thư từ còn lại giá trị hơn xa những thông tin mà các tên
trùm mật thám Pháp nổi tiếng đã thực hiện ở Việt Nam. Bởi lẽ không
có một tên trùm mật thám Pháp nào giỏi bằng Trương Vĩnh Ký, hiểu VN, tận
tuỵ với công việc và có cơ hội xâm nhập đến chỗ màn trướng của
vua chúa VN như Trương Vĩnh Ký.
Nếu lấy tiêu chỉ Việt gian dành để
xếp những tên phản quốc như Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải, Lê Hoan... vận
dụng vào Trương Vĩnh Ký thì ta thấy Trương Vĩnh Ký vượt xa những nhà
Nho Việt gian nêu trên. Thật không tưởng nếu còn có một người Việt
Nam nào đó sợ dân tộc VN sẽ quên Trương Vĩnh Ký. Lịcu sử Việt Nam cận
đại luôn luôn phải nhắc đến Trương Vĩnh Ký như một nhân vật phản
diện điển hình. Đấy là một trường hợp có một không hai trong lịch sử
VN. Chúng ta cần phải nghiên cứu một cách nghiêm túc, đầy đủ để có
một sự đánh giá đúng đắn về tội làm tay sai cho giặc của nhà ‘bác
học’, ‘siêu nhân’, siêu Việt gian Trương Vĩnh Ký.
Cuộc đời làm tay sai cho giặc của
Trương Vĩnh Ký đã để lại cho các thế hệ sau ông một bài học lịch sử:
Một người tài như Trương Vĩnh Ký mà thiếu đức, mà phản quốc vẫn bị
đời đời nguyền rủa.
Gác Thọ Lộc (Huế), đầu
năm 2001
Chú thích
[1] Thư viết tay vào tháng 3/1859 của Petrus Key (Trương
Vĩnh Ký) gởi cho ‘sếp lớn’ của Hải quân Pháp tại Gia Định, lưu trữ
tại Văn khố Hải quân Pháp (Paris): SHM (Vincennes),GG2 99:2 do tiến sĩ sử học
Vũ Ngự Chiêu sưu tập.
[2] Chỉ quan quân nhà Nguyễn
[3] Kẻ thù của Trương Vĩnh Ký lúc đó là quan
quân nhà Nguyễn, và Trương xác nhận mình là người cùng chung một chỗ
đứng với quân viễn chinh Pháp (noa ennemis).
[4] Trương Vĩnh ký có một người đồng châu là
Nguyễn Văn Tạo cùng ở chung và cùng làm thông ngôn như Trương.
[5] Ngoài những vụ việc nêu trên, nhiều tài liệu
còn cho biết chính TVK là người đã thiết kế kế hoặch cho vua Đồng Khánh
tuần du hiểu dụ quân dân Quãng Trị – Quãng Bình trong mấy tháng, TVK cũng
nhúng tay vào việc chiêu hồi vị tướng đã có nhiều chiến công Hoàn Kế
Viêm, TVK đã tham mưu cho vua Đồng Khánh cử con cháu những nhà yêu nước
đối phó với các lực lượng Cần Vương, tham mưu cho vua Đồng Khánh giao
cửa biển Đà Nẵng làm nhượng địc cho Pháp, TVK đã chuẩn bị vai trò mới
của mình sau khi Pháp đã bình định xong các lực lượng Cần Vương v.v...
Nhưng vì khuôn khổ bài viết không cho phép nên chúng tôi sẽ viết tiếp
trong một dịp khác. NĐX.
Về lại phần
mục lục nhận diện nhân vật Trương Vĩnh Ký
Home | Go top page | Về trang mục lục