-
Hè 2002, một thân hữu của Giao Điểm đã về
thăm gia đình tại Việt Nam và tìm được một xấp giấy trong tủ sách của
người bạn cư ngụ tại Vũng Tàu. Xấp giấy nầy là một phần phóng ảnh
của cuốn sách, có lẽ tự in lấy và phổ biến hạn chế, của Giáo sư Vũ văn Mẫu, nguyên Khoa trưởng
trường Đại học Luật khoa thuộc viện Đại học Sài Gòn trước 1975.
Ông cũng là Ngoại trưởng Việt Nam Cọng hòa dưới thời Đệ nhất Cọng
hòa của chính phủ Ngô Đình Diệm, nhưng đã từ chức để phản đối chính
sách đàn áp Phật giáo của chính phủ nầy năm 1963.
Trang bìa của tập sách in tựa đề: “SÁU
THÁNG PHÁP NẠN 1963”, của “Minh Không Vũ Văn Mẫu”, in năm “1984”. Phóng ảnh đó, được chuyển lại cho
Giao Điểm, thuộc Phần Hai, Chương Một của cuốn sách nầy. Trên phương
diện văn bản lịch sử thì đây là một tài liệu rất quý của một
nhân chứng trực tiếp và trong cuộc, cho nên Giao Điểm đang tìm cách để
có được đầy đủ toàn bộ tài liệu nầy để phổ biến rộng rãi đến
bạn đọc trong tương lai. Giao Điểm
- CHƯƠNG 1
-
- CHÍNH SÁCH THIÊN VỊ
THIÊN CHÚA GIÁO
- HAY KỲ THỊ TRÁ
HÌNH TRƯỚC 1963
Trong cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức
vào ngày 23/10/1955, không ai có thể chối cãi rằng tất cả đa số, nếu
không muốn nói ít nhất 80% các đồng bào đi bỏ phiếu cho Thủ tướng Ngô
Đình Diệm giữ chức vụ quốc trưỡng tại miền Nam Việt Nam, thay thế Cựu
hoàng Bảo Đại bị truất phế, thuộc thành phần Phật tử. Chính Ngô Đình Diệm như đã chép trên đây,
đã ghi nhận sự thật hiển nhiên ấy.
Căn cứ vào kết
quả cuộc trưng cầu dân ý này, có thể nói rằng dân chúng không hề nghĩ
đến tiêu chuẩn tôn giáo trong sự chọn người giữ trọng trách lãnh đạo
quốc gia.
Thực vậy không
có một ai đã nêu vấn đề Ngô Đình Diệm đã theo tôn giáo nào, trong khi
xử dụng quyền bầu cử của công dân ngày 23/10/1955.
Người ta đã chỉ
trích các thủ tướng Nguyễn văn Xuân, Trần văn Hữu, Nguyễn văn Tâm, Bữu
Lộc về đủ cả các phương diện chính trị, nhưng không ai tìm biết họ
theo tôn giáo nào. Nhưng kể từ khi Ngô
Đình Diệm về chấp chính ngày
7/7/1954, mặc dù không có một công văn chính thức hay một lời công bố
nào hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp đề cập đến vấn đề, toàn thể
trong nước đều biết rõ và bàn tán về điểm thủ tướng mới được
chỉ định để lập nội các thay thế chính phủ Bửu Lộc là một tín đồ
Thiên Chúa giáo, một gia đình rất ngoan đạo tại cố đô Huế. Bào huynh là Ngô Đình Thục giữ chức
Giám mục tại Vĩnh Long, và chính Ngô Đình Diệm cũng đã từng sống nhiều
năm trong các tu viện ở Việt Nam cũng như tại ngoại quốc (1) và đặc biệt được Hồng y Giáo chủ Spellman ở Mỹ
ủng hộ.
Nhưng nếu dư luận
đã bàn tán nhiều về tôn giáo của gia đình Ngô Đình Diệm, người ta chỉ
coi điểm này là một sắc thái đặc biệt của vị tân thủ tướng cũng
như người ta đã nêu lên quá khứ trong sạch của Ngô Đình Diệm khi còn
làm việc quan và tính tình khí khái của ông khi đã từ chức Thượng thư
Bộ Lại trong nội các dầu tiên của Bảo Đại, không một ai nghĩ rằng
Ngô Đình Diệm, khi cầm chính quyền , sẽ có chính sách thiên vị Thiên
Chúa giáo, và kỳ thị Phật giáo.
Tuy nhiên trong thực
tế , ngay từ khi một triệu dân di cư bắt đầu rời Bắc việt sau khi hiệp
định Genève 20/7/1954 để vào Nam cho đến ngày xảy ra vụ triệt hạ cờ
Phật giáo tại Huế ngày 8/5/1963, nhiều sự kiện đã xảy ra, hoặc trên
bình diện toàn quốc, hoặc tại địa phương, tố cáo một chính sách
thiên vị Công giáo hay một chính sách kỳ thị trá hình mỗi ngày một rõ
rệt.
Chính sách này có
thể nhận xét trên hai phương diện:
1 – Phương diện
pháp lý và tinh thần (Tiết 1)
2 – Phương diện
các hoạt động thực tế (Tiết 2)
- TIẾT 1
-
- SỰ THIÊN VỊ THIÊN CHÚA GIÁO
- TRÊN PHƯƠNG DIỆN
PHÁP LÝ VÀ TINH THẦN
Giáo sư Bửu Hội, một nhà bác học danh tiếng
đã nhận đại diện cho chính phủ Ngô Đình Diệm trước Liên Hiệp Quốc
khi vụ đàn áp Phật giáo được mang ra thảo luận tại tổ chức quốc tế
này. Căn cứ vào điều 17 Hiến pháp
ban hành ngày 26/1/1956, giáo sư Bửu Hội đã binh vực chính phủ Ngô Đình
Diệm và biện luận rằng tại Việt Nam không hề có sự kỳ thị tôn
giáo.
Tuy nhiên trong thực tế, trên phương diện pháp
lý và tinh thần, không thể chối cãi rằng chính sách của họ Ngô đã
dành cho Thiên Chúa giáo một sự ưu đãi đặc biệt khác hẵn với các
tôn giáo khác. Với thời gian, sự ưu
đãi này mỗi ngày mỗi lộ liễu công khai, để đạt tới những hình thức
một sự kỳ thị trá hình, gây nhiều nổi bất bình trong dân chúng, nhưng
họ Ngô vẫn làm ngơ.
Lần lượt trong tiết này sẽ xét:
Đoạn I – Sự thiên vị Thiên Chúa giáo về
phương diện pháp lý.
Đoạn II – Sự thiên vị Thiên Chúa giáo về
phương diện tinh thần.
- Đoạn I
-
- SỰ THIÊN VỊ THIÊN CHÚA GIÁO VỀ PHƯƠNG DIỆN
PHÁP LÝ
Văn kiện pháp lý cơ bản trong một quốc gia
là hiến pháp. Qui định các quyền
và nghĩa vụ cũa công dân, cũng như tổ chức bộ máy chính quyền trong nước,
hiến pháp phải được tôn trọng triệt để.
Luật pháp nào vi phạm vào hiến pháp sẽ bị coi là vi hiến và
không có giá trị trên phương diện pháp lý.
Lần lượt trong đoạn này, sẽ xét hai vấn
đề:
Hiến pháp 1956 của nền Đệ nhất Cộng hòa
có thiên vị Thiên Chúa giáo không?
Luật pháp thông thường của nền Đệ nhất
Cộng hòa có ưu đãi Thiên Chúa giáo không?
A – Hiến Pháp 1956
và sự thiên vị Công giáo
Hiến pháp 1956 do Quốc hội biểu quyết ngày
20/10/1956 được Tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành ngày 26/10/1956, thành lập
nền Đệ nhất Cộng hòa. Hiến pháp 26/10/1956 gồm 98 điều, chia làm 8
thiên. Thiên thứ hai qui định về “Quyền
lợi và nhiệm vụ của người dân” theo tinh thần bản tuyên ngôn
nhân quyền quốc tế của tổ chức Liên Hiệp Quốc.
Điều 17 của Hiến pháp Việt Nam 1956 đã
được giáo sư Bửu Hội chiếu dẫn trước tổ chức Liên Hiệp Quốc để
chứng minh rằng tại Việt Nam không có sự kỳ thi tôn giáo. Điều 17 này qui định như sau: “Mọi người dân đều có tự do tín
ngưỡng, tự do hành giáo và tự do truyền giáo, miễn là xử dụng quyền
ấy không trái với luân lý và thuần phong mỹ tục.” Hiến pháp
26/10/1956 như vậy đã minh thị công nhận nguyên tắc tự do tín ngưỡng và
bình đẵng giữa các tôn giáo.
Tuy nhiên trong phần “Mở đầu” của
Hiến pháp, đã có một đoạn phản chiếu của một sự thiên vị Thiên
Chúa giáo khá rõ rệt như sau:
“Ý thức rằng nước ta ở trên con đường
giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu
tư tưỡng tiến bộ để hoàn thành sứ mệnh trước Đấng Tạo Hóa và
trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh nhân bản và phát triễn
con người toàn diện....”
Trong đoạn văn trích dẫn này, phần mở đầu
của Hiến pháp 1956 đã đề cập đến sứ mạng trước Đấng Tạo Hóa, tức
là trước Đức Chúa trời trong Thiên Chúa giáo, mà không đề cập tới các
tôn giáo khác.
Đoạn văn này đã đượm sắc thái thiên vị
Thiên Chúa giáo. Vô tình hay cố ý,
đoạn văn này đã tạo cho Thiên Chúa giáo một địa vị ưu đãi đặc biệt
tại Việt Nam vì Hiến pháp 1956 nói rõ là nhằm mục dích hoàn thành sứ mạng
trước Chúa tức là Đấng Tạo hóa đã
tạo dựng ra trời đất và vạn vật theo như
Thánh kinh của Thiên Chúa giáo đã chép.
Sự thiên vị này cũng không có gì lạ vì
chính em Tổng thống Ngô Đình Diệm là Ngô Đình Nhu, giữ chức cố vấn
chính trị bên cạnh tổng thống cũng
như là một dân biểu đắc cử tại
quận Vạn Ninh, Ninh Hòa (tỉnh Khánh Hòa) với tư cách ứng cử viên của đảng Cần Lao.
Vợ Ngô Đình Nhu là Trần Lệ Xuân cũng trúng
cử dân biểu tại đơn vị 1 (các quận Gio Linh, Trung Lương , Cam Lộ và Hương
Hóa - tỉnh
Quãng Trị). Ngoài ra hầu hết các
dân biểu khác đều là bộ hạ của gia đình họ Ngô.
Do đó lời mở đầu của Hiến pháp năm 1956
đã phản ảnh một sự thiên vị đối
với Thiên Chúa giáo không có điều gì lạ, nhất là sự thiên vị này chỉ
được đề cập đến trên một bình diện lý thuyết, không có những hậu
quả như Dụ số 10, biệt đãi Thiên Chúa giáo về phương diện thực tế.
B. - Dụ
số 10 và sự ưu đãi Thiên Chúa giáo
Trong nền luật pháp thông thường của nền
Đệ nhất Cộng hòa, Dụ số 10 ngày 6 tháng 8 năm 1950 là bản văn pháp luật đã bị dư luận chỉ trích rất nhiều, vì đã minh thị dành cho
Thiên Chúa giáo một địa vị ưu đãi và đồng hóa các tôn giáo khác,
trong đó có Phật giáo, vào các hiệp hội mà sự thành lập cũng như các
sinh hoạt khác phải tuân theo một sự quy
định chặt chẽ. Sự hủy bỏ Dụ số
10 này là một trong năm đòi hỏi của Phật giáo sau vụ triệt hạ cờ Phật
giáo tại Huế.
Dụ số 10 này đã được Bảo Đại ban hành
từ ngày 6/8/1950 để quy định thể lệ lập hiệp hội (Association). Tại sao sự quy định này đã được áp
cho tất cả các tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng? Tại sao Ngô Đình Diệm không sửa đổi sự
quy định ấy?
Các nét chính của của Dụ số 10
Điều thứ nhất của Dụ số 10 đă định
nghĩa thế nào là một hiệp hội
và đồng thời hoạch định phạm vi áp dụng của Dụ này :”Hội
là hiệp ước của hai hay nhiều người thỏa thuận góp kiến thức hay
hành lực một cách liên tiếp để theo đuổi mục đích không phải là
phân chia lợi tức, như là mục đích tế tư, tôn giáo, chính trị, từ thiện,
khoa học, văn học, mỹ nghệ, tiêu khiển, thanh niên thể thao va đồng hiệp
ái hữu. Muốn có hiệu lực
thì hội nào cũng phải hợp với nguyên tắc chung của pháp luật và khế
ước và nghĩa vụ.”
Điều số 4 của Dụ số 10 bắt buộc các hiệp
hội phải được các Tổng trưởng Bộ Nội vụ ký nghị định cho phép
thành lập mới được hoạt động. Nếu
hiệp hội chỉ được hoạt động trong phạm vi một phần Việt Nam, thì
nghị định cho phép thành lập do Thủ hiến ký chiếu ủy nhiệm của Tổng
trưởng Bộ Nội vụ.
Theo điều thứ
6, người sáng lập hội phải làm đơn xin phép thành lập kê rõ:
- Mục đích của
hội
- Tên hiệu của
hội
- Hạn điều ước
- Thể lệ vào hội,
ra hội va trục xuất khỏi hội
- Nghĩa vụ và
quyền lợi các hội viên.
- Tài sản của hội.
- Thể lệ về
động sản và bất động sản của hội.
- Họ và tên tuổi
của người sáng lập.
- Thể lệ về
việc cử và bãi của những người
quản trị và những quyền hạn của người ấy.
- Nguyên cớ giải
tán hội.
- Thể lệ thanh
toán va quy dụng tài sản hội.
Điều thứ 8 quy định rằng hạn trong một
tháng kể từ ngày được phép thành lập, nhân viên trong ban trị sự của
hội phải đăng trong công báo Việt Nam hay trong Hành pháp Tập san tại các
phần Việt Nam, một bán báo cáo nói rõ ngày được phép thành lập hội,
nghị định do chức vụ nào ký, danh hiệu mục đích của hội và sở.
Điều thứ 10 dự liệu rằng nếu có việc
gì thay đổi trong việc trị sự của hội thì hạn trong 1 tháng phải
trình cho Tỉnh trưởng, Thị trưởng, Quận trưởng Sài Gòn – Chợ Lớn
để trình cho Thủ hiến và Tổng trưởng Bộ Nội vụ biết.
Những tờ khai ấy phải nói rõ:
- Những sự thay đổi trong
nhân viên ban trị sự hay Giám đốc.
- Những doanh sở
và chi nhánh mới thành lập.
- Những sự thay
đổi về địa chỉ của hội sở.
- Những việc
mua bán bất động sản và đính theo một tờ trình phác tả và kê giá
mua, giá bán các bất động sản ấy.
Các sự thay đổi trong việc trị sự và điều
lệ của hiệp hội phải biên rõ trong một cuốn sổ để tại trụ sở của
hội và phải biên rõ ngày khai và ngày duyệt y các sự thay đổi ấy.
Điều thứ 13 còn đặt ra một điều kiện
khó khăn hơn : Các hiệp hội mỗi năm,
trong tuần lễ sau khi hội họp đại hội thường niên, phải theo hệ thống
cai trị, gởi cho Thủ hiến sở tại để chuyển lên Tổng trưởng Bộ Nội
vụ hai bản danh sách các hội
viên, và hai bản kê tình hình tài chánh và tự rõ các căn nguyện cùng
việc xữ dụng tiền tài của hội.
Điều thứ 14 liên hệ đến các nguồi lợi
tức và tài chánh của các hiệp hội:”Không hội nào có quyền trợ cấp
của chính phủ, của các địa phương, quỹ hàng tỉnh và quỹ hàng xã, trừ
những hội khoa hoc, mỹ nghệ, tiêu khiển, từ thiện, thanh niên và thể
thao.”
Các hội đều có quyền thu và xử dụng tiền
góp của hội viên và quyền thưa kiện tại tòa án.
Ngoài ra các hội chỉ có quyền chiếm hữu,
tạo mãi, quản trị, đứng làm sở hữu chủ những bất động sản thật
cần thiết để đạt mục đích của hội.
Những người có liên quan và công tố viên có quyền xin tòa án hủy bỏ những việc tạo mãi
bất động sản trái với điều này. Bất
động sản ấy sẽ đem bán đấu giá và được bao nhiêu tiền sẽ sung
vào quỷ hội.
Theo điều thứ 20, điều lệ của hội định
rõ nghĩa vụ cùng quyền lợi của các hội viên. Người nào vào hội thì bắt buộc phải
tuân theo điều lệ của hội.
Các điều 25, 26 va 27 qui định về Đại hội
đồng của hội: Đại hội đồng có quyền tuyệt đối trong hội. Đại hội đồng do những người thay mặt
hội đứng chiêu tập. Sự chiêu tập
cứ như điều lệ hoặc khi có một phần tư trong số hội viên thỉnh cầu
mà làm. (Đ 25).
Đại hội đồng sẽ định đoạt về việc
nhận hội viên vào hay trục xuất hội viên khỏi hội, cử các người
thay mặt hội, kiểm soát việc làm của họ và có thể bãi nhiệm vụ của
họ, nếu có duyên cớ chính đáng
- Đại hội đồng
xét xử mọi việc không thuộc về các cơ quan khác của hội. (Đ.26)
- Hội viên nào
cũng có quyền bỏ phiếu như nhau trong kỳ Đại hội đồng.
- Các điều 30,
31, 32 và 33 qui định chặt chẽ các hoạt động của hiệp hội và dự liệu
các sự chế tài.
Sau khi hội đã được phép thành lập, ban trị
sự phải trình chiếu nhà đương chức sở tại và Tổng trưởng bộ Nội
vụ hay Thủ hiến, theo hệ thống cai trị, bản nội qui của hội và nếu
sau này có điều gì sửa đổi cùng phải trình chiếu những sự sửa đổi
ấy. (Đ.30)
Các hội đã được phép thành lập phải hoạt
động theo đúng mục đích của hội đã tự trong điều lệ. Khi nào xét ra một hội đã quả thị trực
tiếp hay gián tiếp theo những mục đích khác với mục đích trong điều lệ
thì hội sẽ bị giải tán và các hội viên, nhân viên ban trị sự có thể
bị truy tố tại tòa án. (Đ. 31)
Những hội không đươc phép thành lập thì
coi như không có và tất cả những hoạt động của hội đều coi như vô
hiệu lực và hội sở của hội ấy thuộc quản hạt tòa án tỉnh ấy có
quyền giải tán.
Người nào cũng có quyền trình tòa án để
xin giải tán các hội không được phép thành lập.( Đ.
32)
Điều 33 dự liệu trong những hình phạt đối
với những hội viên sáng lập, những hội viên giám đốc và quản trị
không được phép thành lập hay đã được phép thành lập nhưng sau lại bị
giải tán, mà vẫn cứ hoạt động hay lại tự tiện tự lập trái phép,
hay đã hoạt động ra ngoài mục đích định trong điều lệ hội để đạt
mục đích trái phép hay trái phong tục.... Trong những phong tục kể trên,
hình phạt sẽ là phạt bạc 50 đồng đến 5.000 đồng và phạt giam từ 6 ngày cho đến 6 tháng.
Đối với hội viên thường, hình phạt từ
50 đồng tới 200 đồng và phạt giam từ 6 ngày đền 2 tháng hoặc một
trong hai thứ hình phạt này.
Những người dung túng cho họp các hội
không được phép thành lập hay bị giải tán cũng có thể bị phạt như
trên. Tòa án khi truy tố sẽ giải
tán hội.
Điều 43 dự định rằng các nghiệp đoàn phải
tuân theo sự quy định của Dụ số 10. Các
nghiệp đoàn đã thành lập rồi phải tạm ngưng hoạt động và trong thời
hạn một tháng sẽ phải hợp thức hóa theo Dụ số 10.
Điều 44 quan trọng nhất vì người ta đã căn
cứ vào điều này để áp dụng Dụ số 10 cho Phật giáo. Điều 44 quy định:” Chế độ đặc biệt cho các Hội Truyền
giáo Thiên Chúa giáo và Gia Tô và các Hoa kiều lý sự Hội sẽ ấn định
sau.”
Vì điều 44 chỉ đề cập tới chế độ riêng
biệt cho các Hội Truyền giáo Thiên Chúa giáo và các Lý sự Hội Hoa kiều nên Chính phủ Ngô đình
Diệm đã cho rằng Phật giáo – vì không nằm trong các trừ lệ kể trên - cũng bị Dụ số 10 chi phối.
Nói khác, mặc dầu Dụ số 10 do Bảo Đại
ban hành từ tháng 8/1950, gần 4 năm trước khi Ngô Đình Diệm về chấp
chánh, nhưng chính phủ Ngô Đình Diệm vẫn đem Dụ ấy ra áp dụng cho các
Hội Phật giáo, không thay đổi, coi Giáo hội cũng như các Hiệp hội thể
thao hay từ thiện. Trong khi đó Truyền
giáo Gia Tô được biệt đãi vì điều 44 của Dụ số 10 đã dự liệu quy
chế các Hội này sẽ được dự liệu sau.
Phạm vi áp dung Dụ số 10
Tại sao lại đem áp dụng Dụ số 10 về các
Hiệp hội cho Giáo hội Phật giáo?
Dụ số 10 đã minh bạch nêu rõ ngay trong nhan
đề là “Dụ quy định thể lệ
lập hội”
Mặc dù trong điều thứ nhất, Dụ số 10 có
định nghĩa minh bạch: “Hội là hiệp ước của hai hay nhiều người thỏa
thuận góp kiến thức hay hành lực một cách liên tiếp để theo đuổi mục
đích không phải là chia lợi tức, như mục đích thuộc về tế tư, tôn
giáo...ta không thể nào coi các tổ chức Phật giáo như Tổng hội PhậtgGiáo
Việt Nam là một hiệp hội thông thường giống như các hiệp hội khuyến
khích văn hóa hay thể thao và bắt buộc tuân theo Dụ số 10.
Ngay đối với các nghiệp đoàn, nhà làm luật
1950 cũng thấy cần phải minh thị ghi rõ trong điều 43 là các nghiệp đoàn
cũng do Dụ số 10 chi phối. Đối với
các hội Truyền giáo Thiên Chúa giáo và các Lý Sự hội Hoa kiều (tức là
các Bang Hoa kiều), nhà làm luật 1950 cũng ghi rõ sẽ qui định một chế độ
riêng.
Đối với Phật giáo sỡ dĩ nhà làm luật
1950 khong ghi rõ là do Dụ số 10 và chi phối, và cũng không bắt buộc hợp
thức hóa như các nghiệp đoàn, vì sự thật đã quá hiển nhiên: Tự ngàn xưa các tổ chức Phật giáo không bao giờ là một hội. Dân chúng đến chùa đi lễ Phật, để
nguyện cầu thoát khỏi bể khổ trần gian và vòng sinh hóa. Không một Phật tử nào có một ý nghĩ vào
hội hay lập hội theo ý nghĩ thông thường phàm tục.
Đứng trên phương diện thuần túy pháp lý,
phải có yếu tố chính yếu là ý muốn lập hội (Animus societatis hay
affectio societatis) của các đương sự mới có thể nói đến hội. Thiếu yếu tố ấy như trong cộng đồng
Phật tử, không thể nào nói đến hội hay hiệp hội.
Chính trong điều thứ nhất Dự số 10 đã định
nghĩa minh bạch “Hội là Hiệp ước hai hay nhiều người thỏa thuận
góp kiến thức hay hành lực một cách liên tiếp để theo đuổi một mục
đích...” Ở đây trong các giáo hội hay các tổ chức trong Phật giáo,
thiếu hẳn sự thỏa thuận lập hội trong tâm trí của các Phật tử, thì
làm sao gọi được là hội để áp dụng Dụ số 10? Bắt buộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam
phải tuân theo Dụ số 10 như một hội khuyến khích thể thao hay một hội
văn hóa là một hành động ngu dốt của chính quyền.
Sở dĩ chúng tôi đã phân rõ nội dung những
điều chính yếu của Dụ số 10, chính là để chứng minh rằng sự quy định
ấy không thể nào áp dụng cho Giáo hội Phật giáo.
Chúng tôi chỉ cần nêu một điểm hiển nhiên: Theo điều 13 “Các hội mỗi năm, trong
tuần lễ sau khi họp đại hội đồng thường xuyên, phải theo hệ thống
cai trị, gởi cho Thủ hiến sở tại để chuyển lên Tổng trưởng Bộ Nội
Vụ hai bản danh sách các hội viên và hai bản kê khai tình hình tài
chánh và tự rõ các căn nguyên cùng việc xử dụng các tiền tài của hội.”
Ai cũng rõ là các Phật tử gồm hơn 80% dân
số. Nếu coi các Phật tử là hội
viên của giáo hội và hàng năm phải gửi các danh sách lên Bộ Nội vụ,
thật là một điều phiền nhiều vô lý!
Tuy nhiên chính phủ Ngô Đình Diệm vẫn công
nhiên coi phạm vi áp dụng Dụ số 10 bao gồm cả giáo hội Phật giáo.
Khi phái đoàn điều tra của tổ chức Liên
Hiệp quốc được phái sang Việt Nam vào tháng 10 năm 1963, ông Bùi văn Lượng,
Bộ trưởng bộ Nội vụ, đã phải biện luận một cách gượng gạo như
sau về sự áp dụng Dụ số 10 cho Phật giáo:
“Chúng tôi luôn luôn có một thái độ vô
cùng cởi mở đối với những vấn đề tôn giáo và nhất là đối với
Phật giáo. Nhiều điều khoản trong
Dụ, như sự bắt buộc phải khai báo với bộ Nội vụ danh sách những
hội viên của chùa, của một ủy ban hay của một hội Phật giáo thường
đươc làm ngơ, nhất là taị các tỉnh.
Cho đến 1960, thái độ dễ dãi ấy trở thành thông dụng, và khi
tôi được bổ nhiệm giữ chức Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ, thái độ ấy vẫn
còn tiếp tục, và tôi không bắt thi hành một cuộc kiễm tra nào hết. Nhưng năm 1963, tôi tra cứu các sổ bộ
và thấy sự hiện diện của một số chùa chiền và Phật giáo đồ, tôi
mới nhận ra rằng thật quả chúng
tôi không thi hành Dụ số 10! Những sổ bộ ghi chép bỏ dỡ dang, chứng tỏ
rằng chúng tôi đã áp dụng Dụ số 10 một cách tự do và mềm dẽo. Những ngôi chùa và những hội Phật
giáo được thành lập mà không khai báo. Điều
ấy có thể chấp nhận ở thôn quê nhưng ngay ở các đô thị và bộ Nội
vụ cũng không có giấy tờ khai báo cả. Từ
1954 đến tháng 1/1963, chúng tôi không nhận được một đơn từ khiếu nại
hay yêu cầu sửa đổi Dụ số 10 nào cả. Tôi
cần phải minh xác hai điểm sau đây. Chỉ
vào tháng 5 năm nay (1963), trong khi vụ Phật giáo bùng nổ, tôi mới tra cứu
sổ bộ để xem tổng số chùa chiền. Lúc ấy tôi mới nhận thấy rằng các sổ bộ không được ghi chép một
cách đầy đủ, kịp thời và có nhiều chùa và hội không được nhập bộ
ngay ở các tỉnh....” (2)
Như vậy chính Bộ trưởng bộ Nội vụ cũng
xác nhận rằng trước năm 1963, trong thực tế, Dụ số 10 không áp dụng
cho các chùa chiền và Phật giáo. Danh
sách hội viên không được kê khai đầy đủ và bộ Nội Vụ cũng bỏ
ngơ không bắt buộc phải gửi các danh sách đến chính quyền.
Sự thực như đã nêu rõ trên đây, đem áp dụng
Dụ số 10 cho Phật giáo là một việc
làm trái với mục đích và sự quy định của nhà làm luật 1950. Hơn nữa nếu quả Dụ số 10 có một phạm
vi áp dụng dẫn đến sự đối đãi các tôn giáo một cách bất bình đẵng,
thì Dụ số 10 vi hiến, trái với điều 17 của Hiến pháp 1956 dự liệu sự
tự do tín ngưỡng mà chúng ta đã phân tách.
Thiếu tướng Trần Tử Oai, đại diện của
chính phủ Ngô Đình Diệm, thuyết trình về vấn đề Phật giáo trước phái
đoàn Liên Hiệp Quốc, cũng đã đề cập đến Dụ số 10 và một quan điểm
tương tự như Bộ trưởng Bộ Nội vụ: ....”Trong thực tế, chính
phủ không áp dụng triệt để Dụ số 10.”:
“Đối với nhũng hội thuần túy Phật
giáo, chính phủ cũng rất khoan hồng, bằng chứng là hàng trăm ngôi chùa
được dựng lên mà không cho chính quyền biết chúng thuộc hội nào, cũng
không trình điều lệ lập hội hay khai báo gì cả.
Những ngôi chùa ấy , mà sự thống nhất chỉ
nằm trong danh từ Phật đà và cái y của nhà sư, thường thường không
có một giây liên hệ gì với nhau hết. Hiện
nay có nhiều chùa và nhiều giáo phái Phật giáo hoàn toàn khác nhau về phương
diện thờ cúng và không thống thuộc gì với Tổng hội Phật giáo Việt
Nam cả.
Trong thực tế, từ khi ban hành Dụ số 10, chính phủ chỉ áp dụng
những điều khoản trong văn kiện ấy đối với những hội tôn giáo mà
những hoạt động có những tính cách hoạt dộng xã hội. như hoạt động của Phật giáo xã hội
chẵng hạn. Chính phủ chưa bao giờ
dùng dụ ấy để nhằm mục đich kỳ thị tôn giáo nào hết.
Cũng nên ghi nhớ rằng từ năm 1950, nghĩa là từ 13 năm nay, không có
một hội tôn giáo nào, Phật giáo hay Thiên Chúa giáo, gợi lên vấn đề
liên quan đến căn bản của Dụ số
10 nói trên.
Mặc dù thế để đáp lại nguyện vọng của phái đoàn Phật giáo,
Tổng thống Việt Nam Cộng hòa đã chỉ thị cho ông Bộ trưởng Nội vụ
tiếp xúc với cơ quan Lập pháp để nghiên cứu những sửa đổi cho Dụ số
10, và Quốc hội đã thành lập một ủy ban đặc biệt có nhiệm vụ xem
xét toàn diện vấn đề liên quan đến các hội truyền giáo.
Bản thuyết trình của Thiếu tướng
Trần Tử Oai được thảo bằng Pháp văn và đã được trao tay cho phái đoàn
Liên Hiệp Quốc “ (3)
Về vấn đề sửa đổi Dụ số 10, Tổng trưởng Bộ Nội vụ đã
cho phái đoàn Liên Hiệp Quốc biết :”Từ 1956 đến 1959, chúng tôi đã
trải qua hai Quốc hội Lập pháp, và trước khi vụ Phật giáo bùng nổ,
chính phủ không được Quốc hội chuyển một dự án nào về sự sửa đổi
Dụ số 10. Cái nguồn xuất phát thứ
hai của những sửa đổi là chính phủ. Muốn
đề cập đến sự sửa đổi một đạo dụ hay không, phải chú ý đến
hai điểm. Thứ nhất phải xem xét sự
sửa đổi có cần thiết không, thứ hai phải có đơn thỉnh nguyện của dân
chúng. Về điểm thứ nhất cho đến
khi vụ Phật giáo bùng nổ trong tháng năm 1963, chúng tôi nhận thấy không
cần thiết phải sửa đổi dụ ấy vì mặc dù những điều khoản rất
nghiệt ngã và sự dự trù kiểm soát rất chặt chẽ của nó đối với các
hiệp hội, chính phủ chưa bao giờ áp dụng một cách ngiêm khắc...” (4)
Sự thực, việc áp dụng Dụ số 10 cho Phật
giáo, dù là một sự áp dụng lỏng lẻo, cũng là một sai lầm vì Phật
giáo cũng là một tôn giáo, không phải là một hiệp hội. Sở dĩ Dụ số 10 được đem thi hành cho
Phật giáo chỉ vì chính phủ muốn kiểm soát Phật giáo.
Không những trên phương diện hiến pháp va
pháp luật, chính phủ Ngô Đình Diệm đã ưu đãi Thiên Chúa giáo, thái độ
này còn được phản ảnh trong nhiều hành động khác.
- Đoạn II
-
- SỰ THIÊN VỊ THIÊN CHÚA GIÁO VỀ PHƯƠNG DIỆN
TINH THẦN
Về phương diện tinh thần, Tổng thống Ngô
Đình Diệm muốn dành cho Thiên Chúa giáo một địa vị đặc biệt, hơn hẵn
các tôn giáo khác.
Các lễ của Thiên Chúa giáo được Tổng thống
Diệm rất chú trọng, đích thân đến giáo đường dự lễ. Ngoài ra, đối với Phật giáo, chính quyền
thường không chịu nhìn nhận rằng thành phần trong nước theo Phật giáo
chiếm ít nhất đến 80%. Chính quyền
đã đưa ra một lối giải thích để hạ thấp địa vị của Phật giáo,
và ngụy biện rằng đa số những người thường được gọi là Phật
giáo đồ thật ra không có tư cách ấy vì họ theo Khổng giáo, Lão giáo,
hoặc được gọi là Phật tử vì cha mẹ họ là Phật tử
Trong đoạn này, sẽ xét quan điểm của chính
phủ về hai vấn đề:
- Các lễ chính
của Thiên Chúa giáo
- Thành phần của
Phật tử.
I. CÁC LỄ CHÍNH CỦA THIÊN CHÚA GIÁO
Những ngày lễ của Thiên Chúa giáo như lễ
Phục sinh, lễ Thăng Thiên, lễ Giáng sinh... được coi là những ngày nghỉ
chính thức như trong thời Pháp thuộc; trái lại, các ngày lễ của Phật
giáo hay của các tôn giáo khác không được chú trọng.
Trong các ngày lễ của Thiên Chúa giáo, Tổng
thống đi dự lễ tại Giáo đường Sài Gòn, không phải với một tư cách
cá nhân, mà với danh nghĩa một vị nguyên thủ quốc gia, tiền hô hậu ủng,
có đủ quân hộ vệ mặc lễ phục đi xe mô tô kèm theo. Các hàng ghế đầu tiên trong đại giáo
đường dành cho các Bộ trưởng và Ngoại giao đoàn. Lẽ dĩ nhiên các hàng Tổng giám đốc và
Giám đốc, dù không theo Thiên Chúa giáo cũng có mặt đông đủ.
Trong các lễ có rước kiệu, cần phải lập
các khán đài danh dự. Không hiểu do
chỉ thị xuất phát từ đâu, các khán đài đều được xây dựng bằng
phương tiện của quân đội. Người
ta có cảm tưởng Thiên Chúa giáo là một tôn giáo của Chính phủ, và
Quân đội đã xây dựng khán đài như
xây dựng khán đài duyệt binh trong ngày Quốc Khánh. Nói đến các buổi lễ
long trọng tại nhà thờ chính tại Thủ đô, kẻ viết những dòng này
không thể nào quên được một chuyện đã xảy đến vào dịp Tổng thống
Ngô Đình Diệm ban hành Hiến pháp 26/10/1956.
Khai nguyên nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên, vị tổng thống thứ nhất
của nền Đệ nhất Cộng hòa muốn dâng một lễ tạ ơn Chúa tại Đại
Thánh đường Sài Gòn, mời tất cả Đại sứ
trong Ngoại giao đoàn đến dự. Bộ
Ngoại giao phải phụ trach vụ in thiếp mời gửi đến các sứ quán.
Việc in thiếp mời là một việc rất thông
thường vì bộ Ngoại giao đã đủ các mẫu thiếp mời. Việc in thiếp và gởi thiếp do Nha Nghi lễ
phụ trách.
Trước ngày hành lễ mấy hôm, một buổi
sáng tôi vừa mới đến Bộ thì có điện thoại bên phủ Tổng thống mời
sang gấp có việc rất khẩn. Sang dinh
Độc Lập, vào văn phòng Tổng thống, tôi thấy Tổng thống Ngô Đình Diệm
đương ngồi trong chiếc ghế bành bọc da, trước một cái bàn tròn nhỏ
trên để một tấm thiếp. Tổng thống
như có vẻ chờ đợi. Khi thấy tôi
đến ông dùng ngón trỏ tay phải gỏ cành cạch lên tấm thiếp, miệng
nói: “Việc này chắc chắn phải có bàn tay Cộng Sản.....”
Lời nói trên chỉ tiếp nối một sự suy tư
trong nội tâm. Tôi đương tự hỏi không
hiểu vấn đề gì, mà có bàn tay Cộng Sản mà Tổng thống Diệm đưa cho
tôi xem tấm thiếp do vị đại diện Tòa thánh Vatican vừa đem vào trong
dinh, cầm tấm thiếp, tôi mới biết rõ đó là tấm thiếp mời do nha Nghi
lễ của bộ Ngoại giao gửi đến các vị đại diện Ngoại giao tại Sài
Gòn, nhưng thay vì là một tấm thiếp mời dự lễ tạ ơn Chúa thì là một
tấm thiếp dự lễ cầu hồn. (mess de requiem).
Tôi chết điếng
người, không ngờ viên Giám đốc Nghi lễ của Bộ tôi lại ngu dốt đến
nước ấy. (5)
Thoáng trong giây
lát, tôi thấy hiện ra trước mắt tất cả nguy cơ sụp đổ xuống đầu
viên giám đốc này, nếu tôi trình thẳng sự dốt nát và lầm lỗi của
viên ấy, đã không biết việc, cắm đầu làm liều không chịu hỏi để
xảy ra một sự tai hại như vậy. Không
những bị cách chức, viên giám đốc ấy chắc chắn khó tìm được nơi nào
thâu dụng trong bộ máy hành chánh thời ấy.
Động lòng từ
tâm, tôi chỉ còn một cách cứu vãn tương lai cho một nhân viên thuộc hạ,
là nhận lấy trách nhiệm trong vụ này thay cho đương sự.
- Thưa cụ – (Khi
ấy chúng tôi có thói quen gọi Tổng thống Ngô Đình Diệm là cụ) –
Trong việc này tôi xin nhận hết trách nhiệm về điểm sơ xuất không kiểm
điểm lại thiếp in trước khi sở Nghi lễ gửi thiếp cho Ngoại giao đoàn.
Sự sơ xuất xảy ra vì tôi đã quá tin ở các nhân viên và không kiểm
soát đối với một việc hết sức đơn giản như cho in thiếp theo mẫu có
sẵn.
Phải nhìn nhận rằng,
bình thường Tổng thống Diệm thâm nhiễm các đức tính cao quý của người
quân tử trong nho giáo. Khi thấy tôi
can đảm nhận lỗi thay cho nhân viên. TT
Diệm đã tỏ ra cũng có đức lượng thứ xứng đáng với một vị nguyên
thủ, đã nén cơn giận và nói:
- Ngài nên cẩn thận,
cần trông coi cẩn thận tất cả mọi việc từ đầu đến cuối, không
nên quá tin ở họ.
Trở về Bộ, tôi
đã gọi ông Hoàng Thúc Đàm, Giám đốc Nghi lễ ra chỉ thị phải đi tới
mỗi Sứ quán để rút lại thiếp mời cũ mà thay bằng thiếp mới in lại.
Tất cả câu chuyện
rủi ro này chỉ vì ông Hoàng Thúc Đàm không phải là một tín đồ Thiên
Chúa giáo, vì vậy đã lầm lễ tạ ơn Chúa (messe d’action de grace) với lễ
cầu hồn (messe de requiem).
Câu chuyện này
tôi đã giữ rất kín, chỉ nói với cựu phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ,
để tránh các sự bàn tán. Sau này,
khi cuộc cách mạng 1/11/1963 đã lật đổ nền Đệ nhất Cộng Hòa, đưa lại
cái chết bi thảm của Ngô Đình Diệm, ông Nguyễn Ngọc Thơ đã nhắc lại
tôi câu chuyện bảy năm về trước:
- Anh nhớ không! Tấm
thiếp mời các nhân viên Ngoại giao dự lễ cầu hồn! Thật là một điềm
gỡ!
Trong thời gian tám
năm làm Tổng thống, Ngô Đình Diệm còn tỏ ra thiên vị Thiên Chúa giáo
trong nhiều dịp khác. Lẽ dĩ nhiên,
các bộ hạ đã nắm được yếu điểm này để a dua và tranh dành nhau
được lòng tin cậy của Tổng thống không ngoài mục đích trục lợi.
Sau đây là trường
hợp điển hình khác: Tháng 2 năm
1959, Tòa thánh Vatican gởi một đại diện là Hồng Y Giáo chủ Agagianian
sang Việt Nam chủ tọa một đại lễ. Ngày
18 tháng 2 năm 1959, Đức Hồng Y Agagianian tới dinh Độc Lập yết kiến Tổng
thống Ngô Đình Diệm. Trong dịp này
Tổng thống đã cho triệu tập các nhân viên và các sĩ quan, kể các người
ngoại đạo cùng các vợ con túc trực ở ngay chân thang lên lầu để cung
nghinh vị đại diện của Tòa thánh.
Sau buổi tiếp kiến,
Đức Hồng Y Agagianian từ trên lầu xuống thang lần lượt đi tới từng
người kể cả các con trẻ, khoan hậu và hiền từ, đưa tay cho hôn nhẫn. Tổng thống Ngô Đình Diệm, nét mặt tươi
sáng, sung sướng đưa mắt trông các nhân viên đang quỳ ngoan ngoãn dưới
chân Đức Hồng Y. Có cả một số
nhân viên không theo đạo cũng quỳ và cúi đầu hôn nhẫn ngoan hơn cả tín
đồ Thiên Chúa giáo, trong số đó có Bộ trưởng tại phủ Tổng thống là
Nguyễn Đình Thuần. (Xem ảnh người có đánh dầu số 1) Hiện diện trong
buổi đón tiếp này, người ta còn thấy Đại tá Nguyễn Khánh (người đánh
dầu số 2) và Đại tá Cao văn Viên (người đánh dấu số 3) khi ấy phụ
trách Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Phủ Tổng thống.
II. THÀNH PHẦN PHẬT TỬ
TRONG DÂN SỐ
Tạp chí Missi, một
cơ quan ngôn luận của Thiên Chúa giáo tại Pháp, trong số tháng 2 năm 1956
đã viết một bài khảo cứu về con số tín đồ Thiên Chúa giáo ở Bắc
Việt, Trung Việt và Nam Việt sau cuộc di cư của hơn nữa triệu người
theo Thiên Chúa giáo vào Nam. Ở Bắc vĩ
tuyến 17, sau cuộc di cư, theo báo Missi chỉ còn 457.000 giáo dân. Ở miền Nam, nhờ cuộc di cư có 676.000 người
theo Thiên Chúa giáo đã bỏ Bắc Việt vào Nam, con số giáo dân đã tăng từ
461.000 người lên 1.137.000 tức là 9,6% của tổng số dân.
Ai cũng công nhận
rằng, bên cạnh số tín đồ theo Thiên Chúa giáo kể trên, số Phật tử
ở Việt Nam chiếm ít nhất 80% mặc dù không có một cuộc kiểm tra chính
thức nào.
Tuy nhiên theo quan
điểm của chính phủ Ngô Đình Diệm, chỉ có thể coi như Phật tử những
người nào đã quy y tam bảo, có pháp danh và số người này không thể
quá 10% dân số. Những người khác,
theo chính quyền, thực sự là những người theo Khổng giáo, thờ ông bà. Họ thường được gọi là Phật tử vì
có cha mẹ đi chùa.
Quan điểm này đã
được Đại biểu chính phủ tại Trung phần là ông Nguyễn Xuân Khương trả
lời phái đoàn Liên Hiệp Quốc tai Huế:
“Trên nguyên tắc,
dân chúng trong xứ phần đông là tín đồ Khổng giáo. Tất nhiên có người theo Phật giáo và
có người theo Công giáo, nhất là ở Huế bởi vì ngày xưa ở đây là nơi
có dòng dõi vua chúa, các quan lại và công chức ở. Vào khoãng 30% dân chúng là Phật tử. Những người còn lại là tín đồ theo Khổng
giáo hay Công giáo.
Về sự phân phối
những công chức của chính quyền ở miền Trung nguyên Trung Việt, 25% theo
Công giáo, 31% theo Phật giáo và 41% theo Khổng giáo.”
Trong cuộc tiếp
xúc với phái Liên Hiệp Quốc, cố vấn Ngô Đình Nhu cũng trình bày rõ rệt
quan điểm này. Sau đây là trích nguyên văn trong tờ báo cáo của phái đoàn
về con số các người theo Thiên Chúa giáo và Phật giáo, theo sự trình
bày của Ngô Đình Nhu. (6)
- Ông Gunewardene ( Đai sứ Tích
Lan, nhân viên của phái đoàn Liên Hiệp Quốc) : ...có bao nhiêu tín
đồ Gia Tô ở Việt Nam và tỷ lệ đối với toàn dân là bao nhiêu?
- Ông Cố vấn Chính Trị: Mười
phần trăm, phần đông là giai cấp hạ lưu.
- Ông Gunewardene: Tín đồ
Hồi giáo được bao nhiêu?
- Ông Cố vấn Chính trị: Độ
chừng 70,000 người, kể cả Ấn kiều.
- Ông Gunewardene: Còn tín
đồ theo đạo Tin Lành?
- Ông Cố vấn Chính Trị: Tôi
không biết đích xác. Họ đông lắm
nhưng có thể phát triển nhờ thế lực Mỹ.
- Ông Gunewardene: Như thế
có thể đến 85% theo Khổng giáo hay Phật giáo?
- Ông Cố vấn Chính trị: Tất
cả đều thờ cúng tổ tiên. Có độ
hai triệu Phật tử thuần túy, số khác đượm màu sắc Lão giáo và Khổng
giáo. Khi quý ông thấy trong chùa thờ
nhiều tượng, chứ không phải chỉ có tượng Phật, ấy là Tam giáo đồng
quy.
- Ông Gunewardene:
Trên thế giới không có Phật tử thuần túy, nhưng họ đều cho là Phật
tử cả!
- Ông Cố vấn
chính trị: Trong danh từ Phật tử thuần túy, tôi muốn nói những người
tìm cách làm cho giáo lý thuần khiết.
- Ông Gunewardene:
Có bao nhiêu Phật tử trong chính phủ?
- Ông Cố vấn
chính trị: Ba phần tư.
- Ông Gunewardene:
Trong hàng tướng lãnh?
- Ông Cố vấn
chính trị: Trong 17 vị tướng thì có 14 vị Phật tử, thuần túy hay
không tôi không được rõ, và 3 tín đồ Gia tô trên hình thức.
- Ông Gunewardene:
Có bao nhiêu Phật tử trong quân đội?
- Ông Cố vấn: Cùng
một tỷ lệ như trong dân chúng. Nhưng
đa số thờ cúng tổ tiên, thờ cúng những người quá cố. Họ không đến chùa. Việt Nam không phải là một xứ sùng đạo. Đúng hơn người Việt Nam không muốn bị
ràng buộc vì giáo điều. Họ đến
chùa khi bịnh hoạn hay đau khổ. Ngoài
ra, họ không đến làm gì.
Trong cuộc chất vấn trên đây, ta sẽ nhận
thấy rẵng ông Gunewardene, Đại sứ Tích Lan rất uyên thâm về Phật giáo
đã “sữa sai” cố vấn Ngô Đình
Nhu khi nhấn mạnh rằng: “Trên thế giới không có Phật tử thuần
túy, nhưng họ đều tự cho mình là Phật tử cả.”
Phật giáo không có tinh thần giáo điều; vì
vậy, khi Phật giáo bành trướng từ Ấn Độ đến các xứ khác, không hề
xảy ra một sự tranh chấp nào vì trong tinh thần khai phóng Phật giáo
không nhằm diệt trừ các tín ngưỡng địa phương.
Vì vậy, Phật
giáo đã bổ túc cho Khổng giáo và Lão giáo tại Trung quốc, và tại Nhật
Bản đã có màu sắc đăc biệt của Thiền đạo.
Ngô Đình Nhu đã
cố bấu víu vào điểm các Phật tử Việt Nam thờ cúng tổ tiên, nhưng không
phải vì thờ cúng tổ tiên, mà một Phật tử mất tư cách và bản chất
của một Phật giáo đồ! Đó là một quan điểm sai lầm lớn. Trong Thiên Chúa giáo cũng không có sự cấm
đoán thờ tổ tiên, và có lẽ vì lý do này, chính quyền Ngô Đình Diệm
đã muốn khoác cho một số đông Phật tử màu sắc một tôn giáo mới: đạo
ông bà.
Trước phong trào
tranh đấu của Phật tử mỗi ngày mỗi mãnh liệt, chính quyền Ngô Đình
Diệm đã ra lịnh điều tra tôn giáo của các nhân viên, đồng thời tung
ra một chiến dịch tuyên truyền rỉ tai, khuyên các công chức nên khai là
theo đạo ông bà, thay vì Phật giáo, để tránh khó khăn trong công việc thăng
thưỡng. Lẽ dĩ nhiên, một số đông
nhân viên, vì không muốn có tên vào sổ đen đã phải rầu lòng khai là
theo “đạo ông bà”.
Khi ấy tác giả
đương giữ trách nhiệm điều khiển Bộ Ngoại giao vàkhông muốn nguyên tắc
tự do tín ngưỡng bị rầy xéo bất luận dưới hình thức nào, tác giả
đãmiễn cho tất cả nhân viên trong Bộ Ngoại giao khỏi phải khai báo gì
về vấn đề tôn giáo, và đã giải thích cho nhân viên biết rõ:” Khi
được tuyển dụng, các nhân viên không phải được tuyển chọn theo tuyên
chuẩn tôn giáo, thi không có lý gì về sau lại mở một cuộc điều tra tôn
giáo để phân loại và chia rẽ nhân viên..” Vì vậy, các nhân viên của
Bộ Ngoại giao không có ai buộc lòng phải khai là theo đạo ông bà!
Ngoài ra sự thiên
vị Thiên Chúa giáo về phương diện pháp ly và tinh thần, chính phủ Ngô
đình Diệm còn dành cho các tín đồ Thiên Chúa giáo nhiều sự ưu đãi
trong các sinh hoạt về phương diện hành chánh, xã hội và kinh tế, nhất
là ở Miền Nam Trung Việt và trên cao nguyên.
- TIẾT II
-
- SỰ THIÊN VỊ
THIÊN CHÚA GIÁO TRONG CÁC
- LÃNH VỰC HÀNH
CHÁNH, XÃ HỘI VÀ KINH TẾ
Sự thiên vị Thiên Chúa giáo không chỉ hạn
chế trong lãnh vưc tinh thần; trái lại trong các địa hạt hành chánh, xã
hội, kinh tế sự ưu đãi Thiên Chúa giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm
đã dành cho các tín đồ Gia Tô một sự biệt đãi, dường như khuyến khích
người ta theo đạo Gia Tô để được hưỡng nhiều quyền lợi.
- Đoạn I
-
- SỰ ƯU ĐÃI THIÊN CHÚA GIÁO
- TRONG LÃNH VỰC HÀNH CHÁNH.
Là một tín đồ ngoan đạo, Ngô Đình Diệm
tin rằng những người theo Thiên Chúa giáo có một bản chất tốt và nhiệt
liệt chống Cộng. Do đó hầu hết những
chức vụ trong yếu đều được giao cho các tín đồ theo đạo Thiên Chúa. Các sự thăng thưởng viên chức cũng căn
cứ vào tiêu chuẩn tôn giáo.
Trong tiết I, tôi
đã nói đến trường hợp bộ trưởng trong Phủ Tổng thống là Nguyễn Đình
Thuần đã quỳ trong dinh Độc Lập để hôn nhẩn Hồng Y Giáo Chủ
Agagianian. Người ta đồn rằng nhờ rửa
tội theo Thiên Chúa giáo, Nguyễn Đình Thuần đã được bổ nhiệm từ chức
Đổng lý văn phòng Bộ Quốc phòng lên chức Bộ trưởng Phủ Tổng thống.
Đại tá Nguyễn văn
Y, cũng nhờ chịu rửa tội theo Thiên Chúa giáo đã được bổ nhiệm làm
Tổng Giám đốc nha Cảnh sát Công an, một chức vụ mà ai cũng rõ phải
được sự tín cẩn tột bực của Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn
Ngô Đình Nhu. Nguyễn văn Thiệu cũng
rửa tội theo đạo khi mới đóng cấp tá dưới nền Đệ nhất Cộng hòa,
các chức vụ quan trọng đều giao phó cho người Thiên Chúa giáo. Các người tân tòng bị chế là đạo
đứng vì các người đạo gốc được rửa tội ngay khi mới sanh, còn
ẵm ngữa.
Trước phái đoàn
Liên Hiệp Quốc sang điều tra về vụ đàn áp Phật giáo, nhân chứng số
43 đã đề cập đến trường hợp ông Trần văn Lắm:” Ông Trần văn
Lắm trước kia là Đại biểu chính phủ tại Nam phần, bây giờ là Đại
sứ Việt Nam ở nước nào tôi cũng không rõ. (7) Người ta muốn loại trừ ông vì ông là
một Phật tử. Ông tỏ vẻ lo sợ, thật
hèn nhát. Một lần tắm ở Vũng Tàu,
ông la lớn:” Đức Mẹ đã cứu tôi sắp chết đuối.” Sau đó ông theo Gia Tô giáo và được giữ
lại chức Đại biểu Chính phủ tại Nam phần.
Khi người ta
xin một việc làm trong cơ quan công hay bán công, trong đơn có một mục cho
biết mình là Phật tử hay tín đồ Thiên Chúa giáo. Tôi không đề là Khổng giáo, thật ra, đạo
Khổng không phải là một tôn giáo mà là một triết lý”. (8)
Đối với quân đội,
trước năm 1963, chỉ vì không có đủ tín đồ Thiên Chúa giáo có đủ khả
năng quân sự, nên mới có 14 tướng lãnh Phật tử. Phái đoàn Liên Hiệp Quốc đã chú trọng
điểm này và đã đặt vấn đề với nhân chứng số 43 để dễ hiểu rõ
chuyện đó. Sau đây là một đoạn trích
nguyên văn trong bản báo cáo của phái đoàn.
“Ông Trưởng
phái đoàn: Tôi muốn nêu lên một câu hỏi liên quan đến quân đội. Người ta nói có 14 tướng lãnh Phật tử. Họ đảm nhận những nhiệm vụ gì? Tất cả đều đang hoạt động hay sao?
Nhân chứng: Tôi muốn cung cấp
những tài liệu tổng quát trước khi trả lời câu hỏi trên. Lý do có những Phật tử trong guồng máy
chính phủ là vì không đủ cán bộ Gia tô giáo. Người ta cử Phật tử
vào những chức vụ ấy hai ba năm trước vụ Phật giáo xảy ra. Phật tử đông lắm. Họ chiếm 80% dân số, và chính phủ
không tìm đủ tín đồ Gia tô để thay thế họ. Trong các ngành hoạt động, có nhiều Phật
tử, nhưng họ đi nhà thờ và, không dám nhận là Phật tử vì sợ sệt. Trong quân đội cũng thế, mỗi chủ nhật
nếu Tổng thống đến nhà thờ là họ đều dến đó tất cả....Tôi cũng
đến nhà thờ.
Chính quyền Ngô Đình Diệm ưu đãi các công
chức theo Thiên Chúa giáo nên lẽ dĩ nhiên đã khuyến khích nhiều người
rửa tội để theo Thiên Chúa giáo.
Trong quyển sách
“Catholiques et Bouddhistes au Viet Nam” (Các tín đồ Thiên Chúa giáo
và Phật giáo tại Việt Nam) do linh mục Piero Gheđo soạn (9) có kê khai con số các người thành niên xin rửa tội
trong 10 năm liên tiếp từ 1957 đến 1967, tại Việt Nam:
- 1957 – 1958: 54.770 người tân tòng
- 1959 – 1961: 74.859 người tân tòng
- 1961 – 1963: 53.115 người tân tòng
- 1963 – 1965: 24.659 người tân tòng
- 1965 – 1967: 11.372 người tân tòng
Các con số trên
đây được tổng kết hai năm một kỳ, kể từ ngày 30/6.
Bãng tổng kê
trên đây chứng minh rằng những năm 1957 đến năm 1963 dưới chế độ Ngô
Đình Diệm, con số những người tân tòng rất lớn. Trái lại, sau năm 1963, với sự sụp đổ
của chế độ họ Ngô, các con số này đã tụt xuống rõ rệt. (10)
- Đoạn II
-
- SỰ ƯU ĐÃI THIÊN
CHÚA GIÁO
- TRONG SINH HOẠT
KINH TẾ HÀNH CHÁNH VÀ XÃ HỘI
Chính phủ Ngô Đình
Diệm lên chấp chính ngày 7/7/1954 thì không đầy hai tuần lễ sau hiệp định
Genève 20/7/1954 dược ký kết, chia đôi đất nước, và bắt đầu một cuộc
di cư vĩ đại của hơn một triệu dân. Trong
cuộc di cư này, các tín đồ Thiên Chúa giáo đã nhận được một ưu đãi
đặc biệt, trong khi các Phật giáo đồ chịu nhiều nỗi ngậm cay nuốt đắng.
Một khi đặt chân
đến miền Nam, trong sinh hoạt về phương diện về kinh tế xã hội, Phật
giáo đồ cũng gặp nhiều cản trở khó khăn trong các chương trình dinh điền,
khu trù mật hay quốc sách ấp chiến lược của chính phủ.
Muốn vượt qua các
trở ngại ấy chỉ có một giải pháp duy nhất:
rửa tội theo Thiên Chúa giáo.
................................................................
(Mất một
trang)........................................................................
...
đi tìm tự do và đã đưa hơn một triệu người từ vùng Bắc vào Nam. Nhưng trong cuộc di cư này, các tín đồ
Phật giáo đã không biết gặp bao nhiêu sự khó khăn.
1. Tại sao khi di cư, những người Phật giáo
bị kỳ thị đến nỗi xuống đến bến tàu còn tìm cách đẩy lui? Tại sao trên đường đi họ bị ngược
đãi, hắt hủi và có kẻ còn bị đuổi trở lại? Tại sao họ bị đuổi khỏi đoàn người
di cư? Bị tước tất cả phương tiện
di chuyển và sự tiếp tế tối thiểu? Tại sao đến nổi họ phải giả
xưng và giả tín đồ Thiên Chúa giáo mới được đi đến nơi đến chốn?
2.
Tại sao đi vào Nam họ lại càng cơ cực, càng tủi hơn? Tại sao họ bị đuổi ra khỏi nơi tạm
cư và định cư? Tại sao những chiếc
nhà chòi họ dựng lên bị bắt buộc dời đi mãi? Tại sao họ không được
phân phát các thực phẩm một cách công bình trong khi Thiên Chúa di cư hưỡng
dụng một cách coi như của nhà mình? Ai
đã tìm mọi cách....cuối cùng đuổi họ tản mác cả? Những chiếc nhà chòi thờ Phật, những
bàn thờ Phật dựng lên và đươc xếp đặt với tất cả tình cảnh của
những kẻ chạy loạn, ưu tiên đối với cả việc ăn, việc ở của ho, lại
bị tìm cách không cho một tấm tôn và duổi dỡ cho được, là tại sao
và vì ai?
3.
Tại sao chính những kẻ ngăn chận sự và bạc đãi sự di cư của Phật tử
như vậy lại tìm cách tuyên truyền, lên án và tố cáo rằng Phật giáo
là Cộng Sản vì không di cư bằng Thiên Chúa?
Tại
sao nếu không có dụng ý biến miền Nam thành một nước Chúa ngay trong việc
di cư, một việc có tính cách chống Cộng nhất? (11)
Tất
cả sự đối đãi bất bình đẵng kể trên đều do sự khác biệt tôn
giáo. Trong chính quyền Ngô Đình Diệm,
không những Tổng thống mà cả Tổng ủy Di cư đều là người theo Thiên
Chúa giáo. Lẽ dĩ nhiên, những nhân vật này đã hết sức ủng hộ, những
người di cư đồng tín ngưỡng lập lại được nơi ăn chốn ở trong làng,
xã như khi còn sinh sống ở ngoài Bắc.
Hơn nữa các xóm
làng của tín đồ Gia tô thường là những cộng đồng đoàn kết chặt chẽ,
dưới quyền lãnh đạo của linh mục địa phương về cả phương diện
tinh thần lẫn vật chất. Bỏ làng xóm từ Bắc vào Nam, các tín đồ
Gia tô vẫn giữ khuôn khổ đoàn kết ấy, vị linh mục trên đường di cư
vẫn lo cho họ cả phần hồn và phần xác. Nói khác, trong tất cả các cấp,
và nhất là ở hạ tầng cơ sở, người dân di cư theo Thiên Chúa giáo lúc
nào cũng được ưu đãi nhờ ở sự khôn khéo của các linh mục khiến người
ta đã gọi chế độ là Linh mục chế.
Lạc vào trong khối
đoàn kết chặt chẽ của các tín đồ Thiên Chúa giáo. Các Phật tử sống trong cô đơn và hắt
hủi. Chỉ cần nhìn vào vùng Hố Nai
ở Biên Hòa cũng đủ rõ vấn đề di cư của các tín đồ Thiên Chúa giáo
đã được giải quyết trong những điều kiện như thế nào! Không có một khu định cư nào của các
Phật tử có thể so sánh với Hố Nai hoặc bằng được vài phần trăm của
vùng Hố Nai!
Nhưng sau vấn đề
di cư, sự ưu đãi thiên vị về Thiên Chúa giáo còn tồn tại trong các
sinh hoạt kinh tế và xã hội khác.
CHƯƠNG TRÌNH DINH
ĐIỀN VÀ KHU TRÙ MẬT
Theo chủ trương của chính phủ, các dinh điền
và khu trù mật được tổ chức để cho các dân nghèo không có ruộng đât,
có thể đến các vùng ấy canh tác, sinh sống, vừa kiếm kế nuôi thân và
nuôi gia đình, vừa tăng thêm mức sản xuất của quốc gia.
Tuy nhiên, sự chọn
lọc các người để đưa tới các vùng dinh điền và các khu trù mật, nhiều
khi không nhằm vào các dân nghèo.
“Ai là Phật tử
, và tai họa thêm lần nữa là nếu Phật tử vừa thuần thành, tích cực
hay cốt cán của Phật giáo địa phương, thì dù họ có nhà có ruộng, hoặc
nhà to và ruộng nhiều đến bao nhiêu, vẫn bị đem ra bình nghị bắt đi
dinh điền và khu trù mật, một sự bình nghị có bố trí công khai để khủng
bố nạn nhân và dân chúng vốn đại đa số cùng tín ngưỡng Phật giáo với
nạn nhân. Trong trường hợp đó, nạn
nhân chỉ cho được một ngõ hậu từ trước và công khai là theo Thiên
Chúa giáo đi. Nếu nạn nhân nhất quyết không làm như vậy thì đành nghiến
răng, ngậm nước mắt mà đập nhà, bán ruộng, bồng con tròng chó ra đi,
và trở thành tù nhân vĩnh viễn tại nơi họ bị đưa đến. Nhưng đừng tưỡng chỉ có một người
hay một nhóm người bị như vậy ! Có khi sự trạng này đã xảy ra cho cả
một hay hai, ba làng ở tiếp cận nhau, mà nguyên nhân chỉ vì trong làng đó
không có ai là Thiên chúa giáo, và tai hại hơn nữa, ở đấy lại có
khuôn hội đông đảo của Phật giáo! (12)
Sinh hoạt trong khu dinh điền hay khu trù mật,
các Phật tử còn gặp nhiều thử thách và bất công khác. Dưới sự điều khiển khắt khe trong “linh
mục chế”, các Phật tử bị chia các lô đất xấu, bị cắt phần tiếp
tế, bị gây đủ chuyện khó dễ.
Về phương diện tôn giáo các sự hiếp đáp
công khai thường xãy ra quá sức tưỡng tượng.
“Tượng Phật thờ ngay trong nhà, khi
không bị một kẻ giả say nhảy vào đạp đổ, xé vất và nhảy ngồi
lên bàn thờ, trong khi nhiều kẻ khác bố trí ở ngoài để yểm trợ. Những kẻ này là ai? Hỏi ai thì vẫn
không ai xa lạ, và làm như vậy để cho mấy thằng Phật giáo bây biết mặt: tại sao dám phản động Ngô Tổng thống.”
(13)
III. QUỐC SÁCH ẤP
CHIẾN LƯỢC
Quốc sách ấp chiến lược do cố vấn Ngô
Đình Nhu bắt chước Mã Lai Á để biến các ấp trong thôn quê thành những
thành thị chống Cộng. Nhưng tại nhiều
nơi quốc sách này biến thành quốc sách chống Phật giáo.
Những nét chính yếu của quốc sách ấp chiến
lược:
Quốc sách ấp chiến lược được Ngô Đình
Nhu đưa ra chương trình thực hiện vào đầu năm 1962. Các ấp chiến lược này được thiết lập
theo kế hoạch chung cho toàn quốc (Sắc lệnh số 111-TTP ngày 3/2/1962). Trong toàn quốc có 16.123 ấp. Quốc sách của Ngô Đình Nhu dự liệu
thành lập trong một thời gian ngắn ít nhất một vạn ấp chiến lược,
theo thứ tự ưu tiên như sau:
- - Các ấp có vị
trí quan trọng cho sự đấu tranh võ trang.
- - Các ấp gần
thị xã và đường giao thông công chánh.
- - Các ấp mà sự
sản xuất kinh tế ảnh hưỡng tới sự sinh sống của tỉnh và toàn quốc.
- - Các ấp mà
kho nhân lực dồi dào để có thể cung ứng cho tỉnh và nhu cầu quốc gia.
Các ấp chiến lược được xây gần nhau,
theo nguyên tắc “Huynh đệ tương hổ” và “tam liên ứng chiến
cứu” để thực hiện thế vạc ba chân, có thể cứu viện cho nhau nếu
bị tấn công. Cũng có khi các ấp chiến
lược được thực hiện theo nguyên tắc “chắp đôi” một ấp
trong khu vực thiếu an ninh được một ấp trong khu vực an ninh bảo trợ.
Sở dĩ các ấp này được gọi là ấp chiến
lược, vì xây dựng các ấp này là
thực hiện chiến lược diệt Cộng và đồng thời thực thi chế độ dân
chủ pháp trị.
Các công tác phải thực hiện trong việc xây
dựng một ấp chiến lược gồm hai loại công tác đáp ứng vào hai mục
tiêu kể trên.
1. Các công tác thực
hiện nhằm diệt trừ chiến tranh phá hoại của đối phương:
- Thiết lập hàng rào bao vây từng ấp, có
những lối ra vào nhất định, được canh gác thường xuyên để tránh sự
xâm nhập của đối phương.
- Thiết lập một hệ thống canh phòng.
- Tổ chức phòng thủ nội địa.
- Tổ chức võ trang và huấn luyện lực lượng
thanh thiếu niên chiến đấu.
- Kiểm tra toàn diện dân chúng trong mỗi ấp.
- Tổ chức mật cho mỗi xã hai tiểu tổ đặc
công, có võ trang.(Mỗi tiểu tổ gồm ba người)
2. Các công tác để
thực thi chế độ dân chủ pháp trị gồm có:
- Tổ chức các đoàn thể công dân nghĩa vụ
(Các đoàn thể thanh niên, phụ lão, phụ nữ, thiếu nhi)
- Tổ chức những cuộc bầu cử dân chủ cho
ban trị sự ấp và hội đồng xã tức là thực thi dân chủ pháp trị để
có những người lãnh đạo đươc sự tin cẩn của dân ấp.
- Thiết lập hương ước nhằm mục đích:
a) Thực hiện chế độ dân chủ pháp trị. Hương
ước quy định sự tổ chức và điều hành thôn ấp.
b) Thực hiện chế độ cộng đồng đồng tiến.
c) Thực thi chế độ công bình xã hội.
d) Quy định thưởng phạt để bảo đảm hiệu
lực của hương ước.
Ngô Đình Nhu đã cố nặn óc để đề cao tác
dụng của “Quốc sách ấp chiến lược” bằng một lý thuyết cầu kỳ
với những danh từ bí hiểm.
Ấp chiến lược
có ba tác dụng: tam túc,tam giác và tam nhân Người nông
dân cầy sâu cuốc bẩm ở thôn quê làm sao mà hiểu nổi những danh từ hiểm
hóc này.
1. Tam túc là
nhờ ấp chiến lược, có thể thực hiện sự tự túc dưới ba sắc thái:
-
Tự túc tư tưởng
-
Tự túc tổ chức
-
Tự túc kỷ thuật
Tự túc tư tưởng
là căn cứ vào tinh thần quốc gia thuần túy , không lệ thuộc
vào một áp lực ngoại quốc nào.
Tự túc tổ chức làtự tin vào khả năng của
mình để tổ chức đời sống cá nhân và cộng đồng.
Tự túc kỷ thuật là người dân phải có
óc sáng suốt để thúc đẩy kỹ thuật tiến
mạnh, phải phát minh ra những dụng cụ tăng gia sản xuất.
2. Tam giác
còn bao hàm ý nghĩa bí hiểm hơn nữa. Tam
giác đây không có ý ngh