curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

Diễn đàn mở rộng của nhóm chủ trương Giao Điểm

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

..........

gd-803.gif (4051 bytes)

     đặc biệt của Giới Tử:

 Mark_03.gif (833 bytes)Sư tử trùng, tại sao?

 Mark_03.gif (833 bytes)Chuyện năm cũ và Nguyện năm mới

 Mark_03.gif (833 bytes)Hòa Thượng có phải là phật tử xuất gia?

 Mark_03.gif (833 bytes)Về một chuyện xưa rất mới

 Mark_03.gif (833 bytes)Úm ba la, chúng ta cùng lên tiếng!

 Mark_03.gif (833 bytes) Thượng thủ Pháp sư Hội chủ

 Mark_03.gif (833 bytes) Quyền làm người nô lệ

 Mark_03.gif (833 bytes)Thầy Nhất Hạnh, nạn nhân đầu tiên và cuối cùng?

 Mark_03.gif (833 bytes)Muợn sư cúng Thần liên tôn

 Mark_03.gif (833 bytes)Nằm vùng

 Mark_03.gif (833 bytes)Giáo hội và giáo hội

 Mark_03.gif (833 bytes)Quanh sự hy sinh dũng cảm của Huynh trưởng Hồ tấn Anh

 Mark_03.gif (833 bytes)Về một chuyện xưa rất mới

 Mark_03.gif (833 bytes)Hòa Thượng phải nhờ “Việt cộng”

 Mark_03.gif (833 bytes)Cơn bão trong chén trà

 Mark_03.gif (833 bytes)Những điều trông thấy

 blue_dot.gif (122 bytes) Võ văn Ái: chìm xuồng níu phao (Chuyển Luân phỏng vấn Tổng Đàn)

blue_dot.gif (122 bytes) về trang mục lục “Sư tử trùng”

gd-mau803.gif (3814 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
trang nghiên cứu & đối thoại tháng 8 quý ba năm 2003
 
  Sư Tử Trùng (13)  
Sư Tử Trùng
   Sư Tử Trùng   

Về Một Chuyện Xưa Rất Mới

            Dù đã cố xả, thế mà chuyện đụng độ giữa quý Thầy Huyền Quang, Quảng Độ với chính quyền hồi tháng trước vẫn khiến Hoàng tôi bất an phiền muộn. Chuyện phải đến thôi, và có thể còn trầm trọng hơn nữa. Nhà tu cũng là người, khi nhà tu không còn gì bận bịu thì họ có thể làm bất cứ gì mà người đời thường ngại ngần run sợ gọi là hy sinh. Nguyện cầu điều ấy đừng xảy ra, bởi chẳng có lợi gì cho những người còn sống. 

            1.

            Bảy năm trước, năm 1992, giữa cơn phong ba nghiệt ngã của Phật sự tại quê nhà, Hoàng tôi đã có một bài ngắn với tựa đề Dưới Chân Tường Nhẫn Nhục, nội dung như sau:

            Quan hệ giữa chính quyền và Phật giáo tại quê nhà, một lần nữa lại rơi vào khúc quẹo ngặt qua vụ quý Hòa Thượng Huyền Quang và Quảng Độ yêu cầu chính quyền chấm dứt lệnh lưu đày và để cho hai ngài trở lại Sài Gòn.

            Trước năm 1975, Hòa Thượng Quảng Độ là Phó Viện Trưởng và Hòa Thượng Huyền Quang là Tổng Thư Ký Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Sau năm 1975, đại hội Giáo Hội kỳ 7 suy cử Hòa Thượng Huyền Quang vào chức vụ Quyền Viện Trưởng và Hoà Thượng Quảng Độ Tổng Thư Ký Viện Hóa Đạo.

            Chính quyền không thừa nhận đại hội nầy và phóng tay đàn áp.

            Nạn nhân đầu tiên là Hòa Thượng Thiện Minh. Hòa Thượng bị bắt vì tội “cư trú bất hợp pháp” tại chùa Già Lam của Hòa Thượng Trí Thủ sau khi chính quyền chiếm đoạt trụ sở Tổng Vụ Thanh Niên Phật Tử 294 Công Lý Sài Gòn và tống xuất Hòa Thượng khỏi nơi nầy. Hòa Thượng đã giải nghiệp trong tù. Hòa Thượng Huyền Quang bị bắt giam hai năm cộng thêm hai năm án treo và sau đó bị đày về Quảng Ngãi. Quảng Ngãi không phải là nguyên quán, cũng không phải là nơi Hòa Thượng xuất gia. Bình Định mới là sinh quán và nơi Hòa Thượng xuất gia tu học. Hòa Thượng Quảng Độ di cư vào Nam năm 1954, thường trú tại Thanh Minh Thiền Viện Phú Nhuận. Năm 1979, Hòa Thượng được đoàn tụ với thân mẫu ở Bắc vào. Năm 1982, hai mẹ con bị trục xuất khỏi Sài Gòn và lưu đày về một nơi đồng không mông quạnh ở Thái Bình. Tuổi già phải sống trong cảnh cơ cực thiếu thốn, bà cụ mõi mòn từ trần ba năm sau đó. Hòa Thượng được tạm thích và bị chỉ định cư trú tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Tháng 3.1992, Hòa Thượng động trở lại chùa cũ chờ chính quyền bắt xét. Từ Quảng Ngãi, tháng 5.1992 Hòa Thượng Huyền Quang tuyệt thực đòi về Huế dự tang lễ Hòa Thượng Đôn Hậu. Tang lễ xong trở về Quảng Ngãi, Hòa Thượng yêu cầu chính quyền thả Hòa Thượng về Sài Gòn và phục hồi pháp lý chính thống cho GHPGVNTN.

            Năm 1975, sau khi thống nhất đất nước, chủ thuyết Mác-Lê-Mao được áp dụng vào mọi lề lối cai trị. Tôn giáo không thoát khỏi tham vọng ý thức hệ nầy. Theo Marx, tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân, là thế lực phản động hoặc đồng lõa phản động, là lực lượng phi sản xuất, ăn bám xã hội. Phật giáo là một.

            Phải mất gần mười năm, Nhà Nước mới thấy được những sai lầm kinh tế chính trị xã hội và tìm cách sửa sai bằng đổi mới, nghĩa là cố gắng quay trở lại với chủ trương cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được đề ra từ 70 năm trước và chưa hề được thực nghiệm. Thế nhưng chính sách tôn giáo thì vẫn giữ nguyên mặc dù Marx chẳng có một ý niệm gì về tôn giáo Đông phương, khoan nói đến Phật giáo. Tôn giáo với Marx chỉ là Thiên Chúa giáo, nhất là Ki-tô giáo La Mã. Ki-tô giáo La Mã hay còn gọi là Công giáo là một trong những đối tượng chính mà Cách Mạng 1789 ở Pháp nhằm triệt hạ. Nếu Phật giáo cũng  từng là phản động hay đồng lõa phản động với thực dân xâm lăng thì giờ đây Phật giáo phải tự hóa thân thành một tập thể nhắm mắt thỏa hiệp với chính quyền ít nữa là bề mặt, hoặc phải tỏ ra hồ hởi ít nữa là ngoài mặt tuân theo mọi chủ trương chính sách của Nhà Nước theo đúng chiến thuật mềm nắn rắng buông hay lùi một để tiến ba. Đã hẳn. Nhưng Phật giáo không phải là một tôn giáo phản động mà cũng không đồng lõa phản động. Trên nguyên tắc, Nhà Nước tuyên bố rất công bình sòng phẳng về tôn giáo, nghĩa là công nhận tự do tín ngưỡng và tự do vô tín ngưỡng. Thực tế, có một điều nữa được Nhà Nước thừa nhận khuyến khích nhưng lại không được công khai tuyên bố đó là tự do chống tín ngưỡng. Điều đáng nói là thành phần tự do vô tín ngưỡng và tự do chống tín ngưỡng lại có quyền, có nhà tù, có súng đạn trong khi Phật giáo lại bị quy kết là “kẻ chiến bại, có truyền thống phản động, bóc lột”. Bởi không thuyết phục được - và cũng không kiểm soát được, tôn giáo nên chỉ còn một đường là khống chế, gò ép, bức xúc. GHPGVNTN bị dẹp qua một bên như không hề hiện diện trong lịch sử Việt Nam. Ít ra là lịch sử đấu tranh của dân tộc từ Cách Mạng Mùa Thu 1945 đến nay, cụ thể là từ 1963 đến 1975.

            Bức tường ý thức hệ Berlin sụp đổ nhưng những thiên kiến ý thức hệ, những mù mờ nhập nhằng về ý niệm tôn giáo, những lầm lẫn bất công với Phật giáo vẫn còn cho nên bức tường quyền lực dựng lên vây hãm tôn giáo của tuyệt đại đa số dân chúng Việt Nam vẫn được duy trì một cách khập khễnh. Ngày nào bức tường đó vẫn còn thì hòa hợp hòa giải và đối thoại chỉ là cố gắng một chiều giữa hai người điếc. Không lý những kẻ đã tự hào là “đỉnh cao trí tuệ loài người” và đã “chiến thắng những đế quốc sừng sõ” lại sợ đối thoại với Phật giáo, một tôn giáo không có thế dựa quốc tế, không có tài sản kếch xù, không có cả một tổ chức chặt chẽ được bện buộc lại với nhau bằng giáo điều và quyền lợi? Không lý những kẻ đã từng tổ chức được đảng để lãnh đạo chiến đấu và chiến thắng, lại lo ngại một tổ chức Phật giáo thống nhất? Tại sao không cố gắng tiến đến một giải pháp ổn thỏa khả dĩ vừa hoà giải được những bất đồng dị biệt, vừa hòa hợp được những nguyện vọng đem đạo phục vụ đời của hàng lãnh đạo trong cả hai tổ chức Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam và GHPGVNTN, vừa thu hút và vận dụng được những đồng tình hổ trợ của khối Phật tử Việt Nam lưu vong vào việc tái hiết đất nước?

            Khoan kể những cái chết đau thương mờ ám của Hòa Thượng Thiện Minh và Trí Thủ, tình cảnh của Hòa Thượng Huyền Quang và Quảng Độ hiện nay là biểu tượng cụ thể về những bất công và sai lầm đối với một tín ngưỡng của đại đa số dân chúng trong nước, trong đó có những đảng viên của một đảng theo nguyên tắc là vô tín ngưỡng và chống tín ngưỡng. Đẩy Phật tử vào cùng đường nhẫn nhục, biến họ thành những kẻ tử vì đạo là hành động chẳng có lợi gì cho chính sách hòa giải ổn định cả. Họ không thể quỳ gối mãi dưới chân tường nhẫn nhục đó, ngày nào đây họ có thể đứng dậy và sẽ có người theo họ, như có người đã suýt theo Hòa Thượng Đôn Hậu để ngăn cản âm mưu biến tang lễ nầy thành một chuyện tuyên truyền chính trị và tranh chấp quyền lực nội bộ. Nếu Hòa Thượng Huyền Quang và Quảng Độ đứng dậy thì chuyện gì sẽ xảy ra cho thế nước lòng dân quốc nội và uy tín quốc tế của Việt Nam nếu một vụ Thiên An Môn, dù cỡ nào đi nữa, xảy ra? Chính quyền có thừa xe bọc sắt, súng đạn, nhà tù để nghiền nát bất cứ cuộc nổi dậy nào. Nhưng nhà tù, súng đạn có che được mắt, bịt được mồm dư luận trong và ngoài nước, có ngăn cản được âm mưu của những kẻ muốn lợi dụng vụ những vụ như thế để gây thêm chia rẽ giữa chính quyền và dân chúng, để gây thêm khó khăn bối rối cho chính quyền về mọi mặt không?

            Kinh nghiệm mười mấy năm qua chứng tỏ chính quyền không thể và không cần biểu dương lực lượng với Phật giáo. Điều cần - và phải làm, là tranh thủ sự đồng tình của quần chúng trong đó có Phật tử cho các chương trình chính sách cai trị. Đọa đày, bức bách, giam hảm Hòa Thượng Huyền Quang, Quảng Độ không phải là phù hợp với chủ trương tranh thủ đó, đã hẳn.               

            Điều cần thiết thứ hai là tranh thủ sự đồng thuận của Phật tử đối với tổ chức tôn giáo do chính quyền yễm trợ. Muốn vậy thì phải khuyến khích hàng giáo phẩm hai bên gặp nhau, gần gũi, thông cảm và cộng tác với nhau trong các hoạt động Phật sự có tầm mức quốc gia và nhân loại. Bức bách Hòa Thượng Huyền Quang, Quảng Độ chỉ làm cho hố ngăn cách giữa họ sâu rộng thêm mà thôi.

            Các cơ chế của Phật giáo càng bị manh mún bể nát thì một đàng chỉ tạo cơ hội cho những tư tưởng ngoại lai độc hại len lỏi phát triển, và đàng khác Phật giáo sẽ như dòng sông vỡ bờ lan tỏa vào dân gian, ở với dân, tồn tại với dân mãi mãi như bao ngàn năm qua mà thôi. Lý thuyết Marx chỉ mới hơn trăm năm, chính quyền xây dựng trên lý thuyết nầy chỉ mới định hình từ 1917 và đại đa số đã tàn lụi từ năm 1989. Trong khi Phật giáo tồn tại với dân tộc Việt Nam ít ra cũng cả ngàn năm qua. Cho nên, không thể nhân danh sự thật, không thể nhân danh khoa học, và lại càng không thể nhân danh quyền lợi của nhân dân và đất nước để truy bức Phật giáo, cụ thể trước mắt là cánh Phật giáo Thống Nhất.

            Một số lãnh đạo chủ trương phải trù dập Phật giáo Thống Nhất vì đây chỉ là một thiểu số không có quần chúng. Nhưng nếu Phật giáo Thống Nhất thật sự không có quần chúng hậu thuẩn thì còn e ngại gì mà phải trói tay trói chân bịt mồm bịt miệng cho mất công mà lại còn mang tiếng? trù dập Phật giáo Thống Nhất là một cách gián tiếp thừa nhận cánh nầy có quần chúng, trước mắt là quần chúng Phật tử lưu vong. 

            Đẩy cánh Phật giáo đó vào thế đối kháng thay vì đối thoại là điều chỉ có lợi cho những kẻ không muốn cho xã hội an lạc, không muốn cho quan hệ giữa chế độ và dân chúng được đề huề để tiếp sức cùng nhau vùi chôn quá khứ đau thương, để vươn lên khỏi hiện tại khó khăn thiếu thốn, để tạo điều kiện cho một tương lai no ấm cho mọi người Việt Nam đủ sức ngẩng mặt nhìn thiên hạ mà không phải bối rối nghĩ rằng dân tộc nầy chỉ có những anh hùng khố rách áo ôm, hết chống người ngoài lại quay về hành hạ đồng bào anh em trong nhà.

            Nếu các trại tập trung cải tạo dành cho những người theo “chế độ cũ” đã đóng cửa thì tại sao vẫn duy trì các nơi phát vãng dành cho những người tu hành của một tôn giáo từng là nạn nhân của chế độ cũ? Không lẽ muốn cho thiên hạ nghĩ rằng mình đang hiên ngang đi vào lối mòn của thực dân đế quốc ngày xưa là chia để trị, là vuốt ve một tôn giáo nầy để ép dập một tôn giáo khác?

            Trong hiện tại, có những dấu hiệu khiến người ta phải tự hỏi phải chăng Nhà Nước đang cất công tái lập bang giao với một vài thế lực tôn chính phản động từng gây “nợ máu” không chỉ ở Việt Nam mà khắp thế giới với hy vọng vuốt ve dư luận thế giới để khả dĩ một đàng, giải tỏa những áp lực chính trị kinh tế nặng nề và đàng khác, có thể mở đường cho những móc ngoặc và thỏa hiệp giữa chế độ với thành phần bản địa của các thế lực tôn chính đó để dự bị cho những màn dân chủ hình thức giả hiệu sau nầy khi mà chế độ buộc lòng phải từ bỏ chủ trương độc tôn, độc thiện để cởi trói chính trị?

            Thỏa hiệp với thiểu số vẫn chắc ăn là với đa số, đã hẳn. Nhưng kinh nghiệm Ba Lan, Yugoslavia và Nga vẫn còn đó. Thế lực quốc tế chỉ nhận những mệnh lệnh quốc tế, chỉ phục vụ quyền lợi quốc tế, bất chấp đồng bào, dân tộc, tổ quốc.

            Trong lúc liên hệ giữa Phật Giáo Thống Nhất và chế độ đang căng thẳng, Phật tử mọi tầng lớp và khắp nơi đang bất bằng thì một số tín hữu Ki-tô giáo hải ngoại đã nhận lệnh của Vatican mở chiến dịch cầu nguyện hòa bình tại Việt Nam. Hòa bình nào đây? Phật tử Việt Nam đã không ngớt cầu nguyện cho điều đó từ năm 1945 trong khi một vài tôn giáo khác đã xem chiến tranh Việt Nam như một cuộc thánh chiến chống “quỷ đỏ” và đồng thời là một cơ hội đấu thầu ý thức hệ để làm giàu và phát triển ảnh hưởng. Bây giờ “quỷ đỏ” đã lên ngôi thì lại cầu nguyện hòa bình, như người ta làm lễ cầu nguyện cho cha mẹ được an khang khánh thọ. Điều nầy có thể nhất thời ru ngủ một số thành phần lãnh đạo đương quyền nhưng chắc chắn không thuyết phục được các Phật tử ngồi yên mặc cho những bậc tôn trưởng của mình bị bức bách.

            Tình trạng căng thẳng giữa Nhà Nước với Phật giáo không hẳn là hoàn toàn bế tắc, quý hồ là Nhà Nước không tự cao tự đại để thực tế thấy rõ những gì có thể - và có lợi thực, về lâu về dài cho đất nước. Đối với Tăng tín đồ Phật giáo mọi nơi, căn bản giải quyết vấn đề trước sau vẫn là “trả lại cho Ceasar những gì thuộc về Ceasar”. Nói thế khác, hãy để cho các hàng lãnh đạo Phật giáo tự dàn xếp nội bộ trước thay vì dùng nhà tù, hộ khẩu, súng đạn, thuốc độc... để buộc họ theo ý mình. Làm như vậy thì chỉ thêm loạn mà thôi.

*    *
*

            Sau khi bài báo xuất hiện ngày 13.8.1992, một tuần sau nhân kỷ niệm ngày chế độ Ngô đình Diệm đánh phá chùa chiền toàn quốc ngày 20.8.1963, Hoàng tôi lại viết thêm một đọan nữa như sau...

            2.

            Lời Bạt - Vì khuôn khổ bài báo có hạn, không thể nói rõ hơn một vài điều thấy cần phải nói. Sau đây là phần thêm đó...

            Lẽ sống của người Phật tử là thoát vòng luân hồi mà con đường ngắn nhất có lẽ là ân đền oán trả. Bởi như Kinh Na-Tiên Tỳ-Kheo dạy: “Những ai còn ân nghĩa, luyến ái thì con sinh trở lại đời sau. Và những ai dứt ân nghĩa luyến ái thì không sanh ra nữa.” Đã hẳn, người Phật tử không lấy oán báo oán mà lấy ân đức để đáp oán và ân đức để đền ân đức. Nhưng oán hay ân thì cái nào cũng phải thanh toán gọn mới mong dứt nợ lai sanh.

            Thấy được điều đó là phải lo cho công quả tu hành của Hòa Thượng Huyền Quang, Quảng Độ và tất cả Tăng Ni Phật tử đã góp cả tâm sức lẫn máu, nước mắt, khổ nhục, tội tù để gầy dựng và bảo quản cơ đồ Phật giáo Việt Nam hôm nay. Lo vì nếu quý vị đó không thực hiện được di huấn của Hòa Thượng Đôn Hậu thì khó mong dứt nợ lai sinh. Nghĩa là bao nhiêu công đức tu tập đều uổng phí. Di huấn đó là phải thực hiện đại hội Phật giáo Việt Nam kỳ 8. Hòa Thượng Huyền Quang năm nay 75 tuổi, Hòa Thượng Quảng Độ đã 67, hai vị còn sống được bao lâu nữa? Thời gian và cơ duyên có chịu chờ đợi để giúp họ giải nghiệp bằng cách hoàn thành di huấn đó không? Công quả tu tập của hai vị quả đang bị di huấn của Hòa Thượng Đôn Hậu thứ thách tận cùng vậy.

            Vì tùy phương tiện lợi hành mà GHPGVNTN được khai sinh năm 1964 như một pháp nhân. Đây là thành tựu sau chót của chương trình canh tân mà Phật giáo Việt Nam theo đuổi từ thập niên 20.

            Đức Phật chạy trốn ngai vàng đạt giác ngộ không phải để trở lại làm vua mà chỉ để làm Thầy, nghĩa là làm tấm gương sáng. GHPGVNTN tồn tại không phải để tranh lại địa vị quốc giáo mà thực dân đã mặc nhiên ủy thác cho một tôn giáo bạn. GHPGVNTN không tồn tại để mà dành dựt chức quyền bổng lộc sau khi Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đổ, GHPGVNTN cũng không tồn tại để bức ép các tôn giáo bạn hòng chiếm lấy ngôi vị độc tôn độc thiện như lịch sử đã và đang chứng tỏ giữa một vài tôn giáo ở một vài nơi trên thế giới. GHPGVNTN tồn tại để mà vun quén và phát triển những thành quả của cuộc canh tân Phật giáo hiện đại, nghĩa là vun quén thực lực hầu thiết thực đóng góp cho dân tộc về mọi mặt, nhất là đạo đức, văn hóa, xã hội, giáo dục.

            Sau 1963, Phật giáo Việt Nam đã cố gắng giữ vai tấm gương sáng của vị Thầy đó. Tai hại cho Phật giáo là tấm gương đó đã phản ánh những điều mà các thế lực đương quyền không muốn nhìn thấy và cũng không muốn ai nhìn thấy. Thế nên, năm 1967, GHPGVNTN bị đập vỡ thành hai mảnh. Vết thương chưa lành thì lịch sử chuyển mình. Chế độ mới áp đặt một pháp nhân mới cho Phật giáo. Nói thế khác, cho đến bây giờ Phật giáo đã bị băm thành ba mảnh, dù có mảnh chỉ là hữu tướng vô pháp. Cho nên, sứ mạng của đại hội kỳ 8 theo di huấn của Hòa Thượng Đôn Hậu hẳn không phải chỉ là cũng cố “khối Ấn Quang”, hòa giải hơn nữa với “khối Việt Nam Quốc Tự” hay xóa bỏ khối tân lập xuất hiện sau 1975. Sứ mạng đó là hợp nhất Phật Giáo Việt Nam thành một khối. Và đã hợp nhất thì không thể gạt bỏ một hợp phần nào hết. Như ba đoạn thẳng rời rạc đã hợp nhất tạo thành tam giác thì không còn là ba đoạn thẳng nữa và tam giác cũng sẽ không còn là tam giác nếu thiếu một trong ba đoạn thẳng đó.

            Hoàn cảnh lịch sử đã xóa bỏ những ngăn cách oan nghiệt Ấn Quang - Quốc Tự, nổ lực của mọi tầng lớp Phật tử hôm nay là góp phần xóa bỏ những ngăn cách giữa GHPGVNTN trước 1975 và khối Phật giáo tân lập sau 1975. Điều đó chỉ có thể làm được khi những người liên hệ hữu trách của Phật giáo hôm nay thông cảm được với nhau cả về những nghiệp chướng đã làm tan nát Phật giáo Việt Nam, cũng như về những cơ duyên khả dĩ giúp cho Phật giáo hồi sinh để thiết thực góp phần xây dựng đạo pháp và đất nước.

            Mang màu sắc hay nhãn hiệu nào thì cũng chỉ là phương tiện, dù đi với ma có thể phải mặc áo giấy nhưng cái áo thì không bao giờ làm nên thầy tu. Hết bị chụp mũ là “thân cộng” đến bị tố cáo “phản cách mạng”, Phật giáo đã không vì những cái mũ đó mà trở thành “cộng sản” hay “phản động”. Hết bị gọi là sư áo đỏ đến bị gọi là sư quốc doanh, quý vị trong tổ chức Phật giáo tân lập đâu có vì vậy mà trở thành đảng viên hay cán bộ công nhân viên nhà nước. Đã tự nguyện quy y Tam Bảo thì hông thể hồi chánh với bất cứ một thế lực nào nếu thế lực đó đi ngược lại nhu cầu giải thoát của đồng bào đồng loại.

            Văn thư ngày 25.7.1992 của Hòa Thượng Huyền Quang không phải là phát súng lệnh chống chế độ. Điều kiện thực tế của Phật giáo cũng nhu nhu cầu đất nước không cho làm như vậy. Thông Bạch Vu Lan ngày 4.7.1992 đã gián tiếp nói lên điều đó. Lời phát biểu ứng khẩu của Hòa Thượng Huyền Quang trong tang lễ Hòa Thượng Đôn Hậu tại Huế ngày 3.5.1992 cũng hàm ý như thế. Tuy nhiên nếu nguyện ước xây dựng của Phật giáo mà Hòa Thượng Huyền Quang phản ánh không được đáp ứng thì những hậu quả đau buồn tủi nhục có thể xảy ra cho tất cả mọi thành phần đang lâm vào cảnh “chiếu bí” hiện nay.

            Nhà Nước đã lên án Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa là phản lại nguyện vọng quần chúng và nô lệ ngoại bang, nhưng rồi liệu có khỏi bị kết tội là đang sao y những sai lầm của chế độ cũ đối với Phật giáo là cả vú lấp miệng em và chia để trị không? Quả vậy, tháng 8.1963, Đệ Nhất Cộng Hòa thành lập Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo Thuần Túy sau khi tấn công chùa chiền bắt nhốt Tăng Ni Phật tử tranh đấu. Năm 1966, Đệ Nhị Cộng Hòa ban hành Sắc Luật 23/67 sau khi thẳng tay đàn áp phong trào vận động dân chủ, vận động Quốc Hội Lập Hiến của Phật giáo. Khối Phật giáo tân lập hôm nay được truy phong sau bao nhiêu tù tội chết chóc, kể cả cái chết của Hòa Thượng Thiện Minh. Quyết định truy phong đó có làm cho quần chúng bớt hoài nghi và gần lại với chính quyền hơn không, hay trái lại đã trở thành cái bẫy mà chính quyền dăng ra để tự sập chính mình? Càng duy trì tình trạng nầy thêm ngày nào thì càng làm cho thế bí hiện nay thêm rối rắm trầm trọng. GHPGVNTN không thể thiết thực đối thoại với chính quyền vì thực thể giáo hội đã bị chính quyền phủ nhận. Chính quyền cũng không thể chính thức thương thuyết với GHPGVNTN vì đã lỡ thừa nhận khối Phật giáo tân lập. Cho nên, thế bí hiện nay chỉ có thể gở nếu:

            1. Qúy vị hữu trách của Phật giáo ngồi lại nói chuyện thông cảm với nhau.

            2. Nhà Nước chấm dứt việc bức xúc Hòa Thượng Huyền Quang và Quảng Độ và để cho khối Phật giáo tân lập nhận trách nhiệm phục hồi trú sở cho hai Hòa Thượng Huyền Quang, Quảng Độ.

            3. GHPGVNTN và GHPGVN tân lập hiệp thương để hợp nhất Phật giáo, tiến đến một tổ chức mới quy kết mọi thành phần ly tán hiện nay.

            4. Tổ chức Phật giáo Việt Nam mới nầy hiệp thương với chính quyền về các vấn đề như giáo chế, giáo sản và hoàn cảnh những người đang bị quản thúc.

            Marx ít ra cũng gặp Phật giáo ở một điểm căn bản đó là ưu tư về những thống khổ của nhân sinh. Phật giáo gọi là Khổ Đế, Marx gọi là vong thân hay phóng thể. Marx đã bị lịch sử qua mặt không phải quan niệm về thống khổ nhân sinh mà vì những giải pháp Marx đề nghị để hóa giải những thống khổ đó. Nhà Nước rốt cuộc phải nhận điều đó nên phải đổi mới. Phương thức hóa giải Khổ Đế của Phật giáo tiên vàn chú trọng vào cá nhân, nghĩa là Phật giáo không chủ trương tranh đoạt uy quyền thế tục làm phương tiện diệt khổ. Tham chính hay đối chính là quyền lựa chọn của cá nhân Phật tử trong tư cách công dân chứ không phải trong cương vị tín hữu. Cho nên, nếu một Nhà Nước thực tâm vì dân, cho dân và thực sự là của dân thì hẳn phải lắng nghe và khuyến khích những tỏ bày nguyện vọng của người Phật tử thay vì bứt chẹt, thao túng, lũng đoạn những tiếng nói chân thật đó, nhất là trong một hoàn cảnh đang vắng thiếu những định chế dân chủ để cảnh giác và tiết chế những quá đà và sai lạc của quyền lực.

            Khối Phật giáo Việt Nam lưu vong có thể hữu hiệu góp phần vào việc hợp nhất hồi phục tín ngưỡng của mình với sự dìu dắt và hiệp đức của những vị từng có kinh nghiệm đích thực trong quá trình trưởng thành của Phật giáo Việt Nam hiện tại.

            Từ chốn lưu đày, Phật tử đã làm được những việc đáng làm cho đồng đạo đồng bào. Các cơ sở tự viện phát triển đều khắp. Hầu như nơi nào có bóng dáng áo nâu áo vàng là nơi đó có chùa lớn chùa nhỏ để làm chỗ dựa tâm linh cho người Phật tử đang lao đao vì chuyện đổi đời. Một số cơ sở đang bắt rễ vào xã hội tạm dung thu hút những đồng đạo dị tộc. Cái mặc cảm tội lỗi “vì mình mà mất nước” - do chiến dịch tìm vật tế thần để chạy tội của những kẻ trách nhiệm bại trận tạo nên trong lòng một số Phật tử, không còn nữa khiến cho số nầy hồi phục được lòng tin vào tương lai của đạo pháp và giống nòi.

            Nhưng Phật giáo hải ngoại phát triển mạnh, đều khắp mà lại thiếu đồng bộ, ít phối hợp. Phật giáo hải ngoại ý thức rõ điều đó và đang vồn vã đáp ứng lời kêu gọi thống hợp của Hòa Thượng Đôn Hậu, sau hơn 16 năm lưu lạc. Ước nguyện hợp nhất sẽ dễ thành tựu hơn nếu một số nhỏ những thành phần được gọi là hữu trách khắc phục được một vài sở chướng cố hữu như làm lấy lệ, chạy theo thời thượng chính trị, tự tôn, thiếu khoan hòa khiêm cung với đồng môn tôn trưởng khiến cho thiện chí thanh lý môn hộ trở thành vạch áo cho người xem lưng một cách kỳ quái.

            Khó khăn chính đối với một số thành phần Phật giáo hải ngoại là xác lập chỗ đứng thế trị bên cạnh các đoàn thể và sinh hoạt chính trị từng trăm hoa đua nở trong tập thể người Việt lưu vong. Khó khăn nầy chỉ được khắc phục khi một số thành phần hữu trách của Phật giáo thấy rõ thế đứng, mục đích và khả năng hành động của mình, thấy rõ Phật giáo ở quê nhà cũng như hải ngoại có gì, cần gì, nên làm gì và có thể làm đến đâu. Có như thế thì người Phật tử lưu vong mới đủ sáng suốt để tránh được cạm bẫy của những  phiêu lưu thời thượng chính trị đối kháng và nhất là những âm mưu khai thác tình trạng căng thẳng đáng tiếc giữa chính quyền với Phật giáo để biến Phật tử thành những kẻ bưng nước cho thiên hạ uống qua chiêu bài liên tôn đấu tranh cho nhân quyền tự do tôn giáo.

            Tiếng súng đã ngưng, đất nước đã thống nhất từ 17 năm qua, các trại tù cải tạo cũng đã đóng cửa để khả dĩ mở đường cho hòa giải dân tộc thì không có lý do gì Phật giáo Việt Nam lại không hợp nhất, không có lý do gì những hình thức quản chế kềm kẹp đối với Phật giáo vẫn được duy trì.

            Đã nhân danh nước mà chiến đấu, đã nhân danh dân tộc mà chiến thắng, không lý bây giờ lại nhân danh mình mà chia rẽ, bứt chẹt một số những đại diện chính đáng của một đại khối quần chúng để rồi vô tình mở đường cho những tũi nhục, bất ổn, thăng trầm mới sao?

            3.   

            Những dòng chữ đó viết cách nay đã ngót bảy năm. Bao nhiêu nước chảy qua cầu. Hoàng tôi không khỏi hoảng hốt ngậm ngùi thấy rằng những điều ưu tư của tôi vẫn còn lý do tồn tại. Nhất là qua cuộc đụng độ chót - nhưng chưa chắc đã là cuối cùng, giữa Thầy Huyền Quang, Quảng Độ với chính quyền.

            Trước mặt tôi là tờ Tuổi Trẻ Chủ Nhật số 02 - 99 hình bìa đăng ảnh Tổng Bí Thư Lê khả Phiêu với một số khẩu hiệu trang trọng như:

            - Dân chủ là khoa học và quy luật phát triển.

            - Mất dân chủ làm cho người dân không phát huy trí tuệ của mình.

            - Có dân chủ thì có phát triển.

            - Nếu chúng ta không chặt đứt gốc rễ của nạn quan liêu, tham nhũng thì công cuộc đổi mới của chúng ta sẽ khó bề thành công. 

            Tôi không nghĩ đó chỉ là những câu nói chơi, nói để mà nói, hay nói vậy chứ không phải vậy. Nhưng tôi không thể nào hiểu được tại sao tự do tín ngưỡng như Thầy Huyền Quang, Quảng Độ thì bị cay đắng đủ điều, trong khi những người tự do chống tín ngưỡng thì lại có quyền năng tự tung tự tác như những ông trời con? Trong khi một vài thành phần tôn giáo từng lún chân vào vũng lầy tội ác với dân tộc lại được vuốt ve vinh danh cách nầy cách khác. Không lý đó là quy luật dân chủ?

            Tờ báo cũng trích lời Tổng Bí Thư rằng: “Khi khoán hộ thì thấy chủ nghĩa xã hội không những không mất mà còn đi lên nhanh hơn.” Tôi cũng cố tin như vậy. Nhưng 7 năm qua rồi, tôi thấy chuyện Thầy Huyền Quang Quảng Độ không những không đi nhanh mà còn đi lùi nữa.

            Marx, Lenin, Stalin, Mao đã biến mất khỏi cuộc đời, biến khỏi tâm trí hàng ngũ những người chấp nhận tín điều Mác-Lê. Không có cương lĩnh, không có chương trình, không biết đang đứng ở đâu và sẽ đi đến đâu - nghĩa là không có ý thức hệ - thì cai trị bằng cái gì đây? Không lý biến thượng tầng kiến trúc thành “tư bản đỏ” và hạ tầng cơ sở thành một tập đoàn quan liêu tham nhũng? Trong hoàn cảnh ấy, Phật giáo thực không phải là thuốc phiện mà chính là thuốc giải độc. Tại sao lại mon men đùa với thuốc độc và khinh thường thuốc giải độc?

Mùa Phật Đản 1999

Mark_03.gif (833 bytes) Go to top page

half_under_water_sw.gif (3365 bytes)

Home  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net