curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

Diễn đàn mở rộng của nhóm chủ trương Giao Điểm

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

..........

gd-803.gif (4051 bytes)

     đặc biệt của Giới Tử:

 Mark_03.gif (833 bytes)Sư tử trùng, tại sao?

 Mark_03.gif (833 bytes)Chuyện năm cũ và Nguyện năm mới

 Mark_03.gif (833 bytes)Hòa Thượng có phải là phật tử xuất gia?

 Mark_03.gif (833 bytes)Về một chuyện xưa rất mới

 Mark_03.gif (833 bytes)Úm ba la, chúng ta cùng lên tiếng!

 Mark_03.gif (833 bytes) Thượng thủ Pháp sư Hội chủ

 Mark_03.gif (833 bytes) Quyền làm người nô lệ

 Mark_03.gif (833 bytes)Thầy Nhất Hạnh, nạn nhân đầu tiên và cuối cùng?

 Mark_03.gif (833 bytes)Muợn sư cúng Thần liên tôn

 Mark_03.gif (833 bytes)Nằm vùng

 Mark_03.gif (833 bytes)Giáo hội và giáo hội

 Mark_03.gif (833 bytes)Quanh sự hy sinh dũng cảm của Huynh trưởng Hồ tấn Anh

 Mark_03.gif (833 bytes)Về một chuyện xưa rất mới

 Mark_03.gif (833 bytes)Hòa Thượng phải nhờ “Việt cộng”

 Mark_03.gif (833 bytes)Cơn bão trong chén trà

 Mark_03.gif (833 bytes)Những điều trông thấy

 blue_dot.gif (122 bytes) Võ văn Ái: chìm xuồng níu phao (Chuyển Luân phỏng vấn Tổng Đàn)

blue_dot.gif (122 bytes) về trang mục lục “Sư tử trùng”

gd-mau803.gif (3814 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
Trang nghiên cứu & đối thoại tháng 8 quý ba năm 2003
 
Sư tử trùng (phần 15)
Sư tử trùng
Sư tử trùng

Cơn Bão Trong Chén Trà

            Tạp chí Phật Giáo Việt Nam vừa trải qua một cơn bão trong chén trà. Chỉ vì bài Tâm Tình với Lão Tướng Đỗ Mậu của Nguyễn văn Hoá, trong đó Đỗ Mậu nhận định về hành trạng của Hồ chí Minh và kết luận nhân vật lịch sử nầy là người yêu nước.

            Cơn bão đó là những cú điện thoại, những lời ta thán rằng sao PGVN lại cho đăng bài phỏng vấn đó, sao lại để cho Đỗ Mậu nói như thế?! Thầy chủ nhiệm và chủ bút Châu văn Thọ chỉ cười hiền lặng thinh. Nhưng đôi khi nhẫn quá cũng có thể đi ngược tinh thần vô úy thí? Thật vậy, nhị vị làm thinh, những người đó tưởng họ đúng, và họ tưởng họ đúng nên họ sẽ nói tới. Đa ngôn đa quá, không lý quý vị lại vô tình đồng lõa với điều độc đoán, chấp trước, loạn ngôn vọng ngữ?

            Trước hết, mình nói thì cũng phải để cho thiên hạ nói với chứ. PGVN đăng bài phỏng vấn của Nguyễn văn Hóa, Nguyễn văn Hóa chỉ ghi nhận ý kiến của Đỗ Mậu. Ý kiến đó có thể đúng, có thể sai, nhưng đó là quyền của Đỗ Mậu. Nếu có thấy Đỗ Mậu nhìn chưa chỉnh, nghĩ chưa tới thì cứ khoan hòa tương kính đối đáp, PGVN hẹp hòi gì mà không đăng những lời đối đáp đó?

            Không đối đáp và chỉ muốn thiên hạ phải ngậm miệng không được nói gì cả! Nhưng nhân danh cái gì mà cấm quyền ăn nói suy nghĩ của kẻ khác? Chạy trốn những kềm kẹp độc tài tư tưởng của “cộng sản” không phải để mà chịu đựng những độc tôn độc thiện của “cộng đồng”. Cả hai chỉ là cọng kẽm, cọng chì, chẳng lợi ích gì cho nhân quần xã hội cộng đồng cả. Hô hào tự do, đòi hỏi nhân quyền mà không hành động dân chủ, không tôn trọng quyền ăn nói suy nghĩ của kẻ khác là ngụy tín, nếu không phải là giả hình gian dối.

            Thứ nữa, ai muốn giận cá chém thớt, đó là quyền của họ. Nhưng PGVN không phải là cái thớt. Cay cú với Đỗ Mậu sao không nói thẳng với Đỗ Mậu, mà lại vo ve mè nheo Thầy Mãn Giác hay Châu văn Thọ?

            Đây không phải là lần đầu Đỗ Mậu nhận định về lòng yêu nước của Hồ chí Minh. Điều đó Đỗ Mậu đã nói trong Việt Nam Máu Lửa Quê Hương TôiTâm Thư. Cũng từng có một đôi ý kiến phản nghịch ý Đỗ Mậu, chỉ tiếc là những ý kiến đó chưa gột bỏ được những thiên kiến, chủ quan, lệch lạc nên không thuyết phục được Đỗ Mậu phải xét lại cảm nghĩ của mình về Hồ chí Minh.

            Lòng yêu nước của người dân bình thường, khác với lòng yêu nước của nhà lãnh đạo. Nghĩ cho cùng, quan niệm của Đỗ Mậu về lòng yêu nước của các nhà lãnh đạo thật giản dị. Có người bảo rằng Hồ chí Minh không yêu nước, rằng Hồ chí Minh làm chỉ là tay sai Đệ Tam Quốc Tế, chỉ theo lệnh quan thầy Nga-Hoa. Đó là giọng điệu tuyên truyền tố cộng thông tin chiêu hồi thông thường. Nhưng với một người, cho dù không yêu nước và chịu làm tay sai đệ Tam Quốc Tế hay theo lệnh quan thầy Nga-Hoa, nhưng cả đời đánh Pháp, đánh Mỹ, và khi cần đánh cả người ân nghĩa là Trung Hoa như năm 1979, một người lãnh đạo không có của chìm của nổi, không mua nhà ở ngoại quốc, không có tiền dấu trong nhà băng nước ngoài, không để cho vợ chạy áp-phe, không gởi con du học để trốn lính hay ở nhà làm lính ma lính kiểng, không để cho bà con dòng họ cậy thân cậy thế làm cha làm chú, một người suốt đời chỉ nghĩ và sống với chuyện quê hương đồng bào, thì gọi kẻ đó là gì?      

            Chuyện sai quấy trong quyết định hay thành bại trong hành động của nhà lãnh đạo là chuyện không thể tránh khỏi. Nhưng không thể vì những sai quấy thành bại đó mà phủ nhận lòng yêu nước của người ta. Chỉ có một từ ngữ phản nghĩa với yêu nước đó là bán nước hay phản quốc. Phản quốc đồng nghĩa với xu phụ ngoại nhân, nô lệ ngoại quyền, níu áo ngoại quốc để được ngồi yên trên ghế lãnh đạo và nơm nớp chờ lệnh ngoại nhân để cai trị đồng bào mình. Khi nước mất nhà tan, đồng bào bị nô lệ thì mục tiêu trước mắt của người lãnh đạo có chút tình dân tộc, nghĩa đồng bào là bất hợp tác và chống đối ngoại nhân, nhân danh độc lập tự chủ. Đó là điều, bất cứ người lãnh đạo nào cũng phải nghĩ đến trước hết. Ngoài ra, thực tế của quyền lực thế tục là nhất tướng công thành vạn cốt khô. Cái giá máu xương của chiến thắng hay chiến bại không phải là tiêu chuẩn để luận định tài trí của anh hùng chứ không phải là khuôn thước để đo lòng ái quốc. So sánh năm nhân vật lãnh đạo cuối cùng của lịch sử Việt Nam hiện đại là Bảo Đại, Hồ chí Minh, Ngô đình Diệm, Lê Duẫn, Nguyễn văn Thiệu về những điểm đơn sơ căn bản và riêng tư đó phải chăng cũng đủ luận định về lòng yêu nước  của mỗi người?

            Đỗ Mậu chẳng nói gì quá đáng, chưa nói đủ thì đúng hơn. Nhưng cái làm cho một số người cay cú không phải là điều Đỗ Mậu nói, mà là điều Đỗ Mậu làm. Nói rõ hơn, điều làm cho một số người cay cú bực tức không phải vì Đỗ Mậu bảo Hồ chí Minh yêu nước nhưng là vì Đỗ Mậu đã về thăm Việt Nam. Đỗ Mậu về Việt Nam không phải như một bại tướng nhưng là như một nhà văn hóa, một sử gia có những đóp góp về lịch sử và văn hóa. Đỗ Mậu trở về bất chấp những nợ máu đã gây ra từ hồi đi lính cho Pháp cho đến khi leo lên đến chức Thiếu Tướng Phó Thủ Tướng của một chính phủ tay sai do Mỹ nặn ra để biện minh cho việc đơn phương và độc quyền leo thang chiến tranh và theo đuổi chiến thắng quân sự. Đồ tễ một phút buông dao... Đỗ Mậu đã chống cộng hết mình, và cũng đã thẳng thắn quay về với dân tộc, với tổ quốc theo phương tiện riêng và phong thái riêng của mình. Tiến vi quan, thoái vi sư, Đỗ Mậu làm được việc mà một số đồng song, đồng liêu, đồng chí của Đỗ Mậu ước mơ nhưng không làm được. Phải chăng vì vậy mà họ nóng mặt cay cú với Đỗ Mậu? Nhưng nóng mặt cay cú với Đỗ Mậu thì nói thẳng với Đỗ Mậu chứ sao lại cằn nhằn Thầy Mãn Giác và Châu văn Thọ?

             Với chừng ấy tuổi đời chồng chất, Đỗ Mậu đâu cần - và đâu có thể, cầu cạnh gì nữa về quyền lực chính trị hay lựa chọn ý thức hệ khi Đỗ Mậu lên đường trở lại cố hương? Đỗ Mậu về thăm quê hương chỉ vì Đỗ Mậu nhớ quê hương, chỉ vì Đỗ Mậu yêu nước, theo ý nghĩa chân chất đơn sơ nhất của hai chữ nầy.

            Yêu nước là yêu nước, không cần phải yêu chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa quốc gia. Chủ nghĩa quốc gia hay xã hội chủ nghĩa chỉ là những sản phẩm ngoại hóa giai đoạn, những huyễn hoặc lịch sử, có thể trở thành tồi tệ như cường toan độc dược nếu cứ bám vào đó như chân lý tối hậu. Thiếu cảnh giác về điểm nầy thì chủ nghĩa hay ý thức hệ sẽ trở thành nếu không phải là thuốc phiện của nhân dân thì cũng chỉ là giả dược. Phật, Chúa, Mahomet, Giáo Hoàng, Đạt Lai Lạt Ma, Tổng Thống, Quốc Trưởng, Chủ Tịch hay bất cứ một người ngoại quốc đến đất nước Việt Nam mà không tôn trọng quyền tự do tự quyết của người Việt thì ngoại nhân đó là thực dân, là ngoại xâm, bất kể màu cờ, khẩu hiệu, chủ nghĩa, tín lý mà kẻ đó tung hô truyền bá. Có những người Việt Nam quên điều đó, nên đã nhận vơ kẻ thù của đồng bào và quê cha đất tổ mình là đồng minh, là sư phụ, là giáo chủ, là lãnh tụ và tìm cách lôi kéo đồng bào mình đi theo con đường nô lệ chính trị và tâm linh đó. Đây là những kẻ nhắm mắt tuân lệnh giáo chủ, mù quáng vâng lời giáo hội nhưng lại lớn tiếng đòi hỏi thiên hạ phải tranh đấu cho nhân quyền, nhân chủ. Họ đã chiến bại nhưng lại lớn tiếng dạy cho thiên hạ cách chiến thắng, họ đã tham ô đang nhưng lại hô hào kẻ khác phải trong sạch, họ đã toa rập với độc tài nhưng lại hô hào dân chủ tự do, họ đã vọng ngoại nô lệ ngoại bang nhưng lại tung hê quốc gia dân tộc! Họ là những kẻ đã hân hoan khi thấy đất nước mình nghèo nàn, đã vui mừng khi thấy dân tộc mình khốn khó, đã vui cười khi thấy đồng bào mình điêu đứng chết chóc vì thiên tai hạn hán. Họ phản ứng chẳng khác gì Moise và người Do Thái hò reo vui mừng khi Thượng Đế giận cá chém thớt thẳng tay trừng phạt người dân Ai Cập vô tội vì không làm gì được vua Ai Cập như đã kể trong Thánh Kinh.

            Những kẻ vo ve mè nheo Thầy Mãn Giác và Châu văn Thọ cũng là những kẻ nghĩ rằng, ai không theo ta là kẻ thù của ta. Nhưng với hạng nầy thì PGVN có nói gì cũng là sai, cũng là bị văn hóa vận của cộng sản thao túng. Hạng người có lập luận kỳ khôi đó thường không phải là những kẻ tâm chất đơn sơ bị tẩy não, bị mê hoặc, nhưng là những kẻ đầu cơ chính trị, muốn một mình được ăn được nói, được gói mang về. Hết độc quyền đấu thầu chống cộng, họ lại độc quyền đầu hàng đối phương, và bây giờ họ lại rắp ranh độc quyền thỏa hiệp với phe chiến thắng để mong vớt vác những tàn dư đã vơ vét được từ thời còn hành nghề độc quyền đấu thầu. Ai không chấp nhận điều đó là phá hoại tình đoàn kết quốc gia, đâm sau lưng chiến sĩ, làm lợi cho cộng sản, là bị văn hóa vận. Một số người bàng quang chân chất và Phật tử cũng đã vô tình chấp nhận cái lối quỷ biện được ăn được nói, được gói mang về đó nên trở thành những kẻ cầm cờ quạt lọng tàng theo hầu không công cho thiên hạ mà cứ tưởng mình đang đấu tranh cho quốc gia và dân tộc, cho tự do, nhân quyền, nai lưng nhịn ăn nhịn mặc đóng tiền cho thiên hạ mở quán ăn, mua cao ốc, hay đem triều cống qủy thần.

            Những người hôm nay tự nhận là quốc gia yêu nước, tự nhận là mình có quyền phê phán tối hậu ai yêu nước, ai không yêu nước, những kẻ đó đã nghĩ gì, làm gì khi Pháp chỉ mới ngấp nghé đô hộ Việt Nam, khi Pháp quyết tâm biến Việt Nam thành thuộc địa, khi Vatican quyết coi Việt Nam là nơi nước Chúa phải trị đến trăm phần trăm, khi những văn thân cần vương, những người yêu nước tân học nối đuôi nhau lên đoạn đầu đài hay vào xà lim. Những người hôm nay tự nhận là quốc gia yêu nước, tự nhận là mình có quyền phê phán tối hậu ai yêu nước, ai không yêu nước, đã nghĩ gì, làm gì năm 1945, 1954, 1963, 1964, 1966, 1975?

            Hoàng cao Khải, Nguyễn Thân, Petrus Ký, Nguyễn trường Tộ, Paulus Của, Huyện Sĩ cũng là những người từng nghĩ mình là yêu nước. Nguyễn văn Thiệu mới đây cũng nhận là yêu nước khi nghe lời hứa hẹn của Nixon để phá hội đàm Paris, giúp Nixon kiếm phiếu, đắc cử xong là hy sinh Miền Nam đổi lấy an toàn rút quân và thu hồi tù binh. Ai muốn lập đền thờ và phong thánh cho Hoàng cao Khải, Nguyễn Thân, Petrus Ký, Nguyễn trường Tộ, Paulus Của, Huyện Sĩ, Nguyễn văn Thiệu là quyền họ nhưng không thể trách những kẻ không chịu khấn lạy những ông thánh đó là ăn cháo đái bát, không có tinh thần quốc gia chống cộng, là đâm sau lưng chiến sĩ. Bức tường ý thức hệ Berlin đã bị đập sập, nhưng những bức tường độc tôn, độc tín, nô lệ tâm linh lại càng ngày càng được củng cố bồi đắp để giam hảm những người Việt Nam đã quên mình là ai, và chỉ cúi đầu chờ lệnh những giáo quyền tuyệt đối vô ngộ để chống lại đồng loại, đồng bào, đồng hương.    

            Về phương diện ý thức hệ quốc tế hay lý thuyết Chiến Tranh Lạnh, chiến cuộc dành độc lập của Việt Nam 1945-1975 còn xen kẻ với cuộc chiến là chiến cuộc giữa Độc Thần và Vô Thần, giữa Duy Thần và Duy Vật trong khi đa số người Việt là thờ Trời thờ Phật, thờ tổ tiên, không duy thần mà cũng chẳng duy vật, chỉ biết một điều là lúc bình thường sung sướng thì Không có Trời ai ở với ai, và khi đau khổ thì Nghiên vai ngữa vái Phật Trời / Trong cơn hoạn nạn độ người trầm luân.

            Trong khi tố khổ phe duy thần nô lệ tư duy, xu phụ giáo quyền đế quốc Vatican thì phe duy vật lại chấp nhận Marx, Lenin là giáo chủ, Moscowa, Bắc Kinh là thánh địa. Trong khi tố khổ phe duy vật nô lệ Mác, xu phụ triều đình chuyên chính vô sản Moscowa, Bắc Kinh thì phe duy thần lại chấp nhận Tư Bản chủ nghĩa là thánh kinh và Vatican, Paris, Washington là thánh địa và Tổng Thống Pháp, Tổng Thống Mỹ và Giáo Hoàng là giáo chủ. Những nô lệ ý thức hệ tôn chính đó có khác gì nhau không, và nếu có thì khác nhau chỗ nào ngoài chỗ ngụy tín, nói thì hay vổ tay thì lếu?

            Có những người tự nhận là quốc gia chống cộng nhưng không hề đóng góp gì cho chiến tranh, tâm sức, tiền bạc, máu xương đều là của kẻ khác, họ chỉ làm giàu nhờ chiến tranh và đấu thầu chống cộng. Ngày trước, cứ vào nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi và nghĩa trang Biên Hòa thì thấy ngay ai sung sướng, ai khổ cực đọa đày trong chiến tranh. Những kẻ đó đã vứt cao nguyên, vứt Huế, vứt Đà Nẵng, vứt Sài Gòn để chạy thục mạng, ra đến ngoại quốc lại tố cáo kẻ khác là không yêu nước, không chiến đấu, là làm lợi cho cộng sản, để chạy tội đào ngũ, đầu hàng và ăn cổ đi trước, lội nước đi sau.  

            Riêng những Phật tử chê đồng đạo hôm nay không biết yêu đạo, yêu nước. Thử hỏi những kẻ đó ở đâu khi Phật giáo thức tỉnh chấn hưng, khi Phật giáo khởi cuộc thống nhất, khi Phật giáo quyết đứng lên đòi hỏi tự do tín ngưỡng và bình đẳng xã hội, khi các tông phái dẹp bỏ dị biết để thống nhất dưới đạo kỳ GHPGVNTN, khi Tòa Đại Sứ Mỹ và Nguyễn văn Thiệu đập tạn Phật giáo thành hai mảnh Ấn Quang và Việt Nam Quốc Tự bằng Sắc Luật 23/67? Khi Thầy Thiện Minh và các Phật tử bị Nguyễn văn Thiệu-Trần văn Hương lôi ra tòa vì tội chống đối? Khi Thầy Thiện Minh giải nghiệp trong lao tù, khi Thầy Đôn Hậu, Trí Thủ trút bỏ nợ trần trong ưu tư lo buồn cho tiền đồ của Phật Giáo Việt Nam? Khi Thầy Huyền Quang công khai yêu cầu chính quyền đổi mới cái nhìn về vai trò của Phật giáo đối với hiện tại và tương lai của đất nước? Khi Thầy Thiện Siêu, Minh Châu, Trí Tịnh và bao nhiêu bậc tôn túc khác chịu nhẫn nhục hi sinh làm Hàn Tín, Phạm Lãi để duy trì và phục hoạt tín ngưỡng trước cơn sóng dữ duy vật và tự do vô tôn giáo?

            Những người Phật tử yêu đạo, yêu nước nầy làm gì ở đâu khi Cao huy Thuần, Nguyễn xuân Thọ, Chu văn Trình, Trần văn Kha, Đỗ Mậu, Nguyễn văn Thọ, Lê trọng Văn, Trần chung Ngọc, Bùi Kha và bao nhiêu người khác can trường lật mặt những gian dối lịch sử đã áp bức và tàn hại dân tộc bao nhiêu năm qua? Những người Phật tử đó làm gì ở đâu khi Thầy Mãn Giác và Châu văn Thọ công khai đặt vấn đề trên PGVN với Trần trung Quân, Trần xuân Thời, Phạm kim Kinh, Nguyễn văn Chức... khi những người nầy bất công nặng lời với Phật Giáo Việt Nam và các tôn trưởng tôn túc?

            Hai mươi lăm năm rồi cứ lặp đi lặp lại chuyện mất nước, phục quốc, đối kháng, thề phanh thây uống máu quân thù, chờ ngày đất nước sạch bóng quân thù. Chuyện nước non, nếu không trở thành một cách chạy tội, một cách kinh doanh không vốn bằng nước bọt thì cũng là một cách giải trí cuối tuần bên bàn tiệc nhậu hay bên lò barbecue. Và thường là cả ba nhập làm một, lập lờ đánh lận con đen. Thủ thuật chạy tội của họ là mềm nắn, rắn buông, được đằng chân, lân đằng đầu. Gian dối được thì gian dối, không gian dối được thì bỏ đi rồi quay lại kêu gọi hòa hợp để chờ dịp ra tay nữa. Một số Phật tử, và đồng bào các tôn giáo bạn chưa hiểu điều đó nên vô tình trở thành nạn nhân của trò nhập nhằng nầy, hay tệ hơn, có người còn trở thành đồng lõa dưới ngọn cờ liên tôn, đoàn kết tôn giáo nữa. Nếu những Phật tử nầy ý thức được thực trạng đó thì biết đâu Thầy Mãn Giác và Châu văn Thọ đã không phải có những thoáng bận tâm vì những lời nặng nhẹ vo ve của một số đồng đạo, thì biết đâu tạp chí PGVN sẽ được nhiều thiện duyên hơn nữa trong hạnh nguyện vun quén đạo hạnh và tình tự dân tộc bằng phương tiện truyền thông.

            Những cơn gió chướng thoảng qua đâu có thể cản bước người bộ hành.  

            Mùa kỵ Thầy, tháng 10.2000            

 

Mark_03.gif (833 bytes) Go to top page

half_under_water_sw.gif (3365 bytes)

Home  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net