curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

Diễn đàn mở rộng của nhóm chủ trương Giao Điểm

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

..........

gd-803.gif (4051 bytes)

     đặc biệt của Giới Tử:

 Mark_03.gif (833 bytes)Sư tử trùng, tại sao?

 Mark_03.gif (833 bytes)Chuyện năm cũ và Nguyện năm mới

 Mark_03.gif (833 bytes)Hòa Thượng có phải là phật tử xuất gia?

 Mark_03.gif (833 bytes)Về một chuyện xưa rất mới

 Mark_03.gif (833 bytes)Úm ba la, chúng ta cùng lên tiếng!

 Mark_03.gif (833 bytes) Thượng thủ Pháp sư Hội chủ

 Mark_03.gif (833 bytes) Quyền làm người nô lệ

 Mark_03.gif (833 bytes)Thầy Nhất Hạnh, nạn nhân đầu tiên và cuối cùng?

 Mark_03.gif (833 bytes)Muợn sư cúng Thần liên tôn

 Mark_03.gif (833 bytes)Nằm vùng

 Mark_03.gif (833 bytes)Giáo hội và giáo hội

 Mark_03.gif (833 bytes)Quanh sự hy sinh dũng cảm của Huynh trưởng Hồ tấn Anh

 Mark_03.gif (833 bytes)Về một chuyện xưa rất mới

 Mark_03.gif (833 bytes)Hòa Thượng phải nhờ “Việt cộng”

 Mark_03.gif (833 bytes)Cơn bão trong chén trà

 Mark_03.gif (833 bytes)Những điều trông thấy

 blue_dot.gif (122 bytes) Võ văn Ái: chìm xuồng níu phao (Chuyển Luân phỏng vấn Tổng Đàn)

blue_dot.gif (122 bytes) về trang mục lục “Sư tử trùng”

 blue_dot.gif (122 bytes) Về trang mục lục tháng 8-2003

gd-mau803.gif (3814 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
Trang nghiên cứu & đối thoại tháng 8 quý ba năm 2003
Sư tử trùng (phần 16)
Sư tử trùng
Sư tử trùng

Những Điều Trông Thấy *

            Nhiều năm qua, số đông Phật tử không khỏi đau lòng chứng kiến những cảnh quay cuồng của một số Phật tử. Họ như những con thiêu thân nhào tới ánh đèn vô minh, tham sân si, để rồi nếu có một phút dây hối hận thì cũng đã quá muộn.

 Đơn Xin Cứu Xét Nhiều Việc của Hòa Thượng Huyền Quang            

            Ngày 26.6.1992, HT Huyền Quang gởi cho chính quyền Đơn Xin Cứu Xét Nhiều Việc trong đó đoạn cuối cô đọng 9 điểm có thể thu gọn như sau:

            - Để cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất sinh hoạt bình thường.
            - Làm sáng tỏ cái chết của HT Thiện Minh và 11 tu sĩ tự thiêu tại Hậu Giang năm 1976.
            - Trả tự do cho Tăng Ni và Phật tử cũng như những người bị bắt lâu ngày mà không xét xử.
            - Trả lại tự viện và cơ sở.
            - Hoặc xét xử hoặc trả lại tự do cho cá nhân Thích Huyền Quang.
            - Nhờ cơ quan quốc tế nhân quyền can thiệp.
            - Không nên xem tôn giáo là kẻ thù.

            Khách quan mà nói, các yêu sách nói trên không có gì là quá đáng so với các nước tự do dân chủ ngày nay. Nhưng đối với hoàn cảnh đất nước Việt Nam - nhất là vào thời điểm 1992, thì quả tình đó là một sự thách đố, một sự đối đầu công khai táo bạo.

            Những yêu sách trên cũng mang đến một kết quả tốt cần được ghi nhận. Về phía chính quyền, họ thừa nhận có sự đối xử bất công và tệ với Phật giáo mà đáng lý không nên có. Kết quả là chính quyền đã nhờ HT Quảng Liên ra Quảng Ngãi để tìm cách điều đình với HT Huyền Quang. Rủi thay, việc điều đình nầy chẳng đi đến đâu vì sự vụng về của người được nhờ làm gạch nối.     

            Mặc dù về sau nầy các văn thư được coi là từ trong nước gởi ra đều nhân danh Hội Đồng Lưỡng Viện, nhưng vì ở trong cảnh lưu đày, HT Huyền Quang phải hoạt động eo hẹp gần như đơn độc về cả hai phương diện nhân sự tham mưu và tin tức. Hậu quả là khi người ta giang tay ra thì mình lại không biết, hoặc có biết thì cũng không có ai để góp ý bàn bạc xem có nên bắt tay không, tại sao nên, tại sao không? Bắt tay lợi hại ra sao? lợi chỗ nào, hại chỗ nào? HT Huyền Quang không được trình bày rành rẽ về những câu hỏi đó trong khi một số Tăng Ni Phật tử chống cộng trối chết và liên tôn ở ngoại quốc lại cũng chẳng có chủ trương đường lối hợp lý rõ rệt nào trước vấn đề sinh tử nầy. Họ lăng xăng ồn ào lên tiếng hỗ trợ HT nhưng chẳng giúp gì được cho HT một cách thiết thực.

            Đơn Xin Cứu Xét Nhiều Việc cũng có những tác dụng đáng kể khác đối với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập năm 1981 trong nước, nhất là đối với thành phần Tăng Ni thiếu trí dũng, thiếu đức vô uý, quên mình là trưởng tử Như Lai nên xum xoe khúm núm xu phụ những kẻ có quyền lực. Hành động khí khái thách thức của HT Huyền Quang là một tiếng gầm của sư tử cảnh tỉnh những thành phần nầy trở về tinh tấn tu dưỡng, tự trọng và biết gìn giữ tác phong đạo hạnh trong mọi hoàn cảnh.

            Nhưng điều đáng nói ở đây là phản ứng ở ngoại quốc - hay có thể gọi là phản ứng quốc tế, đối với văn kiện này.

Từ Đơn Xin Cứu Xét Nhiều Việc đến Văn Phòng II Viện Hóa Đạo

            Đầu tiên là phản ứng từ phía Phật giáo Việt Nam lưu vong. Trong ba ngày 25, 26 và 27.9.1992, một đại hội Phật giáo Việt Nam hải ngoại đã được triệu tập tại San José, thuộc bang California, Hoa Kỳ. Đại hội quy tụ 376 đại biểu gồm 86 phái đoàn đến từ 50 tiểu bang Hoa Kỳ và các quốc gia khác như Pháp, Úc Đại Lợi, Đức, Canada... Đại hội thành lập một tổ chức mới với danh nghĩa Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ (GHPGVNTNHN-HK) và Văn Phòng II Viện Hóa Đạo (VP2-VHĐ).

            Nội dung chương trình cũng như không khí đại hội đã rõ ràng theo chiều hướng đối kháng chết bỏ, ít nữa là qua lời nói chữ viết. Chiều hướng nầy một phần phản ảnh những sân hận của một số đại biểu đối với chính quyền vì những oan khiên cá nhân trong quá khứ hay hiện tại, phần khác, cũng vì chính sách đương hành thiếu cởi mở hay cứng rắn của Nhà Nước.

            Tuy nhiên, một số không ít những đại biểu cũng âm thầm thấy rõ rằng vấn đề tiên quyết không phải là định chế hay tổ chức mà là cá nhân. Phải bắt đầu bằng tự ngã. Tự thân quyết tu sửa tốt đẹp thì xã hội mới mong tốt đẹp.

            Một số khác vốn biết nhìn xa và thực tế đã không khỏi âu lo thấy rằng một lần nữa Phật giáo lại xuất tướng và lôi tập thể của mình vào thế tứ bề thọ địch. Hậu quả của lề lối hành động nầy là Phật tử có thể kẹt vào thế tranh chấp đối kháng quyết liệt hoặc nặng hoặc nhẹ nhưng đàng nào thì vẫn không tránh khỏi nguy cơ người ngoài lợi dụng thế đối kháng đó để phá hoại Phật giáo và dân tộc.

Nhóm Bát Quái của VP2-VHĐ

            Mới đầu, GHPGVNTHHN-HK quả đã quy tụ được một số lớn thành viên, nhưng hiện tại thì chỉ còn thiểu số hăng say tích cực hoặc vì ngây thơ chính trị, hoặc vì tư dục tư lợi nên vô hình chung mở đường những cá nhân và thế lực chuyên bán buôn thù hận và đấu thầu tự do dân chủ, núp bóng nhân quyền lũng đoạn, thao túng và lợi dụng.

           Thật vậy, Tổng Thư Ký giáo hội nầy là Sư Viên Lý từng bị tù về tội vượt biên nên đâm oán thù chế độ. Sư Viên Lý đã thuê dịch một vài cuốn sách rồi quảng cáo rầm rộ là Viên Lý, tăng sĩ, dịch tác gia chùa Diệu Pháp, viện chủ Viện Triết Lý Việt Nam và Triết Học Thế Giới. Phó Tổng Thư Ký là Sư Minh Dung, đệ tử của HT Huyền Quang, ở trong thế thầy hô thì trò phải dạ. Phó Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành là Sư Chánh Lạc và Vụ Trưởng Vụ Xã Hội là Sư Giác Lượng. Tác phong, trí huệ của quý vị nầy thế nào, chỉ có Phật Thánh may ra mới không nói tới. Năm 1986, Giác Lượng đã tham gia tổ chức mua bán linh hồn núp dưới tên Từ Thiện Á Châu của Ngô cẩm Đại, một tín đồ Công giáo. Tổ chức nầy bị xếp xó vì không được phép hoạt động trong nước. Vụ Trưởng Vụ Truyền Thông và Báo Chí là Bùi ngọc Đường, bị tù rồi vượt biên đến Hoa Kỳ năm 1980. Phụ tá cho Bùi ngọc Đường là Ngô văn Bằng. Sau 1975, Ngô văn Bằng chạy theo chính quyền nhưng không được trọng dụng nên đâm ra bất mãn. Ngô văn Bằng sang Mỹ năm 1990, tuy đã bỏ Phật giáo nhưng vẫn được ủy thác điều hành tờ Chánh Đạo cơ quan phát ngôn của GHPGVNTNHN-HK.

            Quan trọng nhất bên cạnh hàng lãnh đạo GHPGVNTNHN-HK là Trần quang Thuận và Bùi ngọc Đường. Không kể trường hợp có thể đã bị ngoại đạo đầu độc tin tức, các nhà lãnh đạo VP2-VHĐ như quý ngài Đức Niệm, Hộ Giác, Viên Lý, Giác Lượng đều lệ thuộc ý kiến của hai người nầy trong các quyết định chính trị và đối ngoại.

            Tuy bản chất là những chính khách trái mùa, Trần quang Thuận và Bùi ngọc Đường vẫn đủ sức chi phối đường lối của VP2-VHĐ vì thứ nhất, Bùi ngọc Đường tuy kinh nghiệm chính trị có hạn nhưng ăn nói mạch lạc nên dễ thuyết phục, trong khi Trần quang Thuận nói năng không đầu không đuôi nhưng lại có tiếng là cựu Tổng Trưởng Xã Hội và cựu Thượng Nghị Sĩ. Thứ hai, Trần quang Thuận và Bùi ngọc Đường đều là kẻ hoàn tục nên được một số các thầy tin, khỏi sợ bị nằm vùng hay bán đứng. Nguyễn Phúc Bửu Tập có lần gọi đích danh Trần quang Thuận là ỏthằng phá đạoõ có lẽ vì Trần quang Thuận thường âm mưu biến Phật tử thành những kẻ chạy hiệu trong ván bài bịp Liên Tôn. Trần quang Thuận và Bùi ngọc Đường chỉ xỏ mũi những ai ngờ nghệch để họ dẫn đi vào đường vô minh sân hận tự cao tự đại chứ không bán đứng các thầy. Bán đứng các thầy là một người khác cùng tầm vóc "cố vấn chính trị tối cao của giáo hội" với hai người đó như sẽ thấy sau.

            Đó là thành tích lý lịch sơ khởi của bảy nhân vật chóp bu trong số 28 thành viên của Hội Đồng Điều Hành (HĐĐH) và Hội Đồng Giám Sát (HĐGS) quyết định toàn bộ đường lối của GHPGVNTNHN-HK. Về sau nhóm bảy người nầy được Võ văn Ái từ Pháp tăng cường trong chức vụ Giám Đốc Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế, nghĩa là trưởng ban thông tin và phát ngôn viên của giáo hội này. Phật tử gọi tám người nầy là nhóm Bát Quái.

            Trong một buổi họp của HĐĐH, Bùi ngọc Đường nói rằng: “Việc môn đồ của HT Đôn Hậu cựu Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống, trao ấn tín cho HT Huyền Quang là một việc làm đầy ý nghĩa trọng đại chưa từng có trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.” Những lời văn hoa phóng đại đó hẳn phải làm xiêu hồn lạc phách những đồ đệ của HT Huyền Quang trong HĐĐH như Viên Lý, Minh Dung, cũng như phải làm cho các vị khác phơi phới hãnh diện rằng mình đang theo tiếng gọi của người được kế thừa gánh vác sứ mệnh lịch sử trọng đại của Phật giáo mà không tự hỏi xem việc trao ấn tín đó có hợp với khế cơ, khế lý, khế thời không? Phật giáo còn nhiều vị cũng đạo cao đức trọng cũng đủ trí tuệ để truyền lưu giáo pháp nữa, quý vị đó đã được tham khảo chưa, và đang nghĩ gì? Phải chăng không có ấn tín đó thì Phật giáo sẽ tàn lụi? Nếu tỉnh táo tự đặt cho mình những câu hỏi đó thì Bùi ngọc Đường đâu phải vẽ vời huê dạng như thế và qúy ngài lãnh đạo GHPGVNTNHN-HK đâu đến nổi bị những lời lẽ vẽ vời huê dạng đó mê hoặc. 

Lừa Dối Hào Nhoáng Hai Chiều

            Hồi còn ở nhà cũng như khi lưu vong, Sơn môn vốn  không quen với sinh hoạt chính trị hành lang nên chuyện giao tiếp xúc với các chính khách, các Dân Biểu Nghị Sĩ ngoại quốc thường là chuyện họa hoằn bất đắc dĩ thường chỉ dành cho hàng lãnh đạo cao cấp đầy đủ bản lĩnh thôi. Giờ đây, những nhân vật Hán Việt không thông, ngoại ngữ không rành bỗng nhiên được vài Nghị Sĩ, Dân Biểu, Bộ Trưởng tiếp, hay nhận được tấm thiệp hay lá thư hồi âm của Tổng Thống, Thủ Tướng, Thống Đốc, Thủ Hiến, Thị Trưởng... thì đã mừng rơn tưởng rằng ta đây quan trọng ghê gớm, rằng cường quốc thật đã bật đèn xanh cho ta phất cờ tiến lên dành thắng lợi. Hình ảnh những cuộc tiếp kiến, những lá thư xã giao nầy về đến bên nhà lại cũng có thể làm cho một vài người chóa mắt nghĩ rằng thời cơ đã đến thật. Trong các lễ hội tôn giáo, cứ nhìn mấy ngài hớn hở công bố thư chúc nầy chúc nọ của Tổng Thống, của Thị Trưởng, của Nghị Sĩ Dân Biểu cũng đủ thấy lòng cả tin ngây thơ của quý ngài về ý nghĩa và tầm quan trọng của những chuyện xã giao thông lệ nầy. Phải chi họ nhớ kinh nghiệm của Phan Bội Châu ngày trước khi tiếp xúc với chính phủ và các chính khách Nhật. Hôm trước Nhật còn long trọng tuyên bố ủng hộ Phan Bội Châu và phong trào Đông Du, hôm sau thì họ đuổi du học sinh khỏi nước Nhật và bán Phan Bội Châu cho Pháp, vì quyền lợi quốc gia của Nhật, dĩ nhiên.

            Sau đại hội năm 1992 đến bây giờ, các lãnh tụ GHPGVNTNHN-HK còn được mấy chính khách ngoại quốc chiếu cố? Quý vị lãnh đạo giáo hội này hẳn chưa quên nỗi đòi đoạn ngày 12.4.1999 trước trụ sở Hội Quốc Liên ở Genève khi họ lục tục lặn lội từ năm châu bốn biển đội sương gió mưa tuyết mong níu áo Báo Cáo viên phụ trách về vấn đề nhân quyền của Liên Hiệp Quốc là Amor hỏi cho ra lẽ tại sao đến Việt Nam mà lại không gặp HT Huyền Quang? Amor không có thì giờ tiếp quý ngài nhưng lại dư thời giờ nói chuyện với Võ văn Ái và đại diện của chính quyền Việt Nam. Võ văn Ái, Trần quang Thuận giải thích sao với quý ngài về việc đã xúi dục các ngài đến nằm vạ ở Genève mà chẳng được cơm cháo gì cả như thế?

Phật Giáo đối kháng của Bộ Nội Vụ và Nha Công An

            Chính quyền Việt Nam thực sự ở trong một tình trạng khó khăn sau khi khối cộng sản giải thể và vụ Thiên An Môn xảy ra. Vào thời điểm ấy, Việt Nam đã không thể nhích thêm được một bước ngắn nào trên đường vận động Hoa Kỳ hủy bỏ lệnh phong tỏa kinh tế. Người Phật tử thức thời, dù yêu đạo và yêu tự do dân chủ đến mấy đi nữa hẳn phải ý thức rằng trong tình trạng mà bên ngoài thì một số quốc gia muốn Việt Nam mãi mãi bị cô lập để dễ bề lũng đoạn, bức ép và bên trong thì phong trào Phật giáo có thể bùng lên nhờ mồi lửa văn thư 9 điểm của HT Huyền Quang, chính quyền không làm gì hơn là phải trấn áp. Và chính quyền đã làm thế thật. Trọng điểm của chiến dịch đàn áp nầy là Huế, nơi mà năm 1963 đã phát khởi phong trào đấu tranh chống chế độ Ngô đình Diệm và đưa Miền Nam vào một giai đoạn lịch sử mới.

            Quyết định của đại hội Phật giáo tại Hà Nội phong chức Hòa Thượng cho một số quý vị tuổi còn nhỏ, hạ lạp thấp trong khi một số khác đạo cao đức trọng hơn thì vẫn là Đại Đức, Thượng Tọa mà thôi quả đã gây ra một tình trạng lỏng chỏng trong hàng ngũ Tăng Ni ở Huế. Chính quyền đã khai thác tình trạng đó mâu thuẩn đó khi phát động chiến dịch trấn áp. Phật giáo Huế bị khuấy động thành hai phe, một bên do Bộ Nội Vụ xách động, một phe do công an giựt dây để tự chống báng, kèn cựa nhau nhờ vậy mà chính quyền trở thành trọng tài thay vì bị chống đối hoặc phải trực tiếp nhúng tay đàn áp.

            Phe chính thức là phe GHPGVN do TT Giác Quang làm Tổng Thư Ký. Phe kia mới thành lập do Sư Thiện Hạnh của chùa Báo Quốc và Sư Tánh Nhiếp chùa Linh Quang cầm đầu với danh xưng Tăng Đoàn Bảo Vệ Chánh Pháp phất cờ đối kháng. Một số quần chúng nhẹ dạ cũng như những kẻ sẵn có ân oán với chế độ tưởng rằng giờ lịch sử đã điểm, và tin rằng cứ nội công ngoại kích thì thế nào cũng thành công mà không hề biết rằng Thiện Hạnh vừa được chính quyền cho đi tham quan một vòng ngoại quốc về trong khi Tánh Nhiếp là người của chế độ từ trước năm 1975 và có cấp bậc quân hàm đàng hoàng. Sau khi công tác hoàn tất, Tánh Nhiếp đã được đưa đi ẩn dật tại Lào một thời gian. Viên Lý, Võ văn Ái cũng như nhiều vị khác trong GHPGVNTNHN-HK biết rõ tông tích của Tánh Nhiếp nhưng vẫn làm ngơ hì hục thổi phồng Tăng Đoàn Bảo Vệ Chánh Pháp lên như một phong trào đối kháng đích thực để gây thanh thế, hậu thuẩn, ngụy tạo công tác để tranh công cho phe mình.

Di Chúc của Hòa Thượng Đôn Hậu

            Biện pháp thứ hai của chính quyền là dùng một số thanh niên tăng chùa Linh Mụ như Thích Hải Tạng, Thích Hải Tịnh bày chuyện làm di chúc giả ký tên HT Đôn Hậu. Di chúc nầy đặt ra chuyện trao ấn tín cũng như khuyến cáo triệu tập Đại Hội VIII bầu lại hội đồng lưỡng viện cho GHPGVNTN. Bản thảo của di chúc nầy đã được đem đến chùa Báo Quốc cho một vài người xem. Có người góp ý là nên ghi lùi ngày lại vài năm trước, lúc HT Đôn Hậu còn minh mẫn chứ bây giờ HT đã ngoài 80 nên e rằng di chúc sẽ không còn có ý nghĩa gì về cả hai mặt pháp lý và hiện thực. Không hiểu vì lý do nào Hải Tạng không chịu ý kiến đó. Có người cho biết là bản chính của di chúc giả nầy hiện do công an cất giữ.

            Hải Tạng được bố trí vào chùa hầu cận HT Đôn Hậu là điều nhiều người biết, nhất là Viên Lý. Sau 1975, Hải Tạng quyết xin vô chùa tu nhưng không một chùa nào chịu nhận nuôi ong tay áo. Cuối cùng một nữ nhân viên công an và cũng là đệ tử của HT Đôn Hậu bố trí Hải Tạng hầu HT để mong khai thác tin tức nhưng vì HT đức độ và cẩn thận quá nên Hải Tạng chẳng tạo được thành tích công tác nào cho công an cả. Khi văn thư 9 điểm của HT Huyền Quang xuất hiện, Hải Tạng đã nhiều lần từ Huế vào Quảng Ngãi gặp HT Huyền Quang nhưng không hề bị khó khăn, điều đó khiến cho nhiều người phải suy nghĩ. Hải Tạng là cộng tác viên của chính quyền thời đó, bây giờ thì chẳng còn vai trò nào cả.

            Vụ biểu tình bạo động trên cầu Tràng Tiền Huế năm 1993 cũng do công an bố trí dàn cảnh. Hình ảnh nhà sư cướp xe cản trở lưu thông, múa may quay cuồng trên mui xe rồi lật xe đốt cháy là những hành động vô cùng tai hại cho hình ảnh ôn hòa bất bạo động cố hữu của Phật giáo. Việc đưa nhà sư đó ra tòa xét xử với một bản án nhẹ lại càng làm tăng tiếng tốt cho chính quyền Việt Nam về điểm nhẹ tay khoan hồng nữa. Người đi biểu tình thì ít, người đi xem thì nhiều, nhưng ít nhiều thì cầu Tràng Tiền cũng không thể chứa nổi 5.000 người, thế nhưng công an đã cung cấp tin cho Võ văn Ái ở Paris là có 40.000 người tham dự và Võ văn Ái đã hồ hởi lập lại y nguyên. Đọc và nghe thấy con số đó thì từ nay về sau, kẻ nghi ngờ Võ văn Ái đầu tiên chẳng ai khác hơn là người dân Huế. Thật may cho họ.

            Những kẻ ăn cơm chùa phản Phật khác được Võ văn Ái và GHPGVNTNHN-HK đưa lên tận chín tầng mây xanh là Thích Trí Lực và Thích Không Tánh. Trí Lực là môn đồ chùa Linh Mụ, nhưng vô hạnh còn hơn những người trần tục sa đọa nhất. Trí Lực nhảy ra bung xung xách động chỉ vì tài lợi. Nói sai và vu khống cho Trí Lực sẽ bị đọa địa ngục. Thích Không Tánh thiểu học nhưng tu hành đàng hoàng và biết nghiêm trì giới luật. Rủi là Không Tánh bị tâm bệnh cho nên nói năng không được trang nghiêm, phạm đến tư cách và thể diện kẻ xuất gia. Tai hại hơn nữa là Không Tánh đã được chọn làm Vụ Trưởng Vụ Thông Tin của GHPGVNTN. Khả năng và tư cách như thế thì còn ai coi tở chức của mình ra gì nữa. Trí Lực ngày nay không còn lăng xăng nữa, Không Tánh thì vẫn còn bám lấy chức Vụ Trưởng Vụ Thông Tin để đồng bóng làm mưa làm gió. Sau hết là phiên tòa xử mấy nhà sư phá rối trị an. Chính quyền rất ngán tinh thần truyền thống ủng hộ chùa của giới tiểu thương ở Huế. Cho nên, hơn tuần lễ trước ngày tòa nhóm, công an đã cho nữ cán bộ đi rĩ tai mấy bà rằng mấy nhà sư sắp ra tòa là những cán bộ đội lốt tu hành, giả xuất gia để nằm vùng bên Thầy Đôn Hậu, vì ôn đức độ họ không làm gì được, nay ôn mất họ lại phá phách để làm cho Phật giáo mang tiếng với thế giới... Thế là các bà tiểu thương không những không đình công bãi thị như thời Diệm hay thời Thiệu-Kỳ để phản đối việc bỏ tù mấy thầy mà trái lại họ còn nguyền rủa mấy nhà sư công an nữa! Tăng Đoàn Bảo Vệ Chánh Pháp do Tánh Nhiếp lãnh đạo thì dĩ nhiên là trùm chăn án binh bất động.

Con Chốt Thí trên Bàn Cờ Quyền Lực của Ngoại Nhân

            Văn thư 9 điểm của HT Huyền Quang là cơ hội ngàn vàng cho những kẻ núp bóng nhân quyền dân chủ để bán buôn thù hận và đấu thầu tự do. Đài BBC Luân Đôn đã tán trợ cho âm mưu khai thác lợi dụng đó khi đài nầy lấp lửng đổ thêm dầu vào lửa hỏi rằng phải chăng cuộc biểu tình của Phật giáo Huế ngày nay đang quay lại bánh xe lịch sử của 30 năm trước làm cho chính quyền độc tài Ngô đình Diệm bị sụp đổ?! Nghe đài BBC nói như thế các nhà sư trẻ nhẹ dạ tưởng mình đang chủ động vận hành lịch sử mà không biết rằng họ đang làm ngựa cho thiên hạ cưỡi, hay tự nguyện làm con chốt thí trên bàn cờ đấu tranh quyền lực của thiên hạ?!

            Công giáo và các hệ phái Tin Lành nhờ Mỹ mà có chỗ đứng tại Miền Nam trước đây, nhưng sau năm 1975 tại hải ngoại, các tổ chức này chỉ chống cộng lấy lệ. Nhưng kể từ khi có văn thư 9 điểm của Thầy Huyền Quang thì cả hai tôn giáo nầy đã tự tách mình khỏi ngay cả những hoạt động chống cộng lấy lệ đó luôn. Đã có người đưa lưng gánh việc nặng và tạo thế cho mình mặc cả rồi thì dại gì mà chọc giận chính quyền Việt Nam để rồi tự gây trở ngại cho mưu toan âm thầm chui sâu trèo cao của mình?!

Cái Trò Liên Tôn Quốc Gia Chống Cộng

           Đường lối chính trị của Công giáo và Tin Lành thật dễ hiểu. Dùng giáo hội để chính thức thỏa hiệp và thương lượng với chính quyền, dùng con chiên lũng đoạn khích động những khuynh hướng chống cộng cực đoan, không phải nhân danh tín lý hay đường lối truyền đạo và bành trướng ý thức hệ đã lỗi thời của Vatican hay Hoa Kỳ, nhưng là nhân danh đoàn kết quốc gia, nhân danh những người Việt chống cộng sản - và cả những người Việt không cộng sản, đang muốn chứng minh rằng trước năm 1975 mình không phải là đám láu cá ăn hại phó mặc việc chống cộng cho Mỹ và đồng bào thấp cổ bé họng lơ ngơ còn mình thì chỉ lo tránh gian nguy, làm giàu và hưởng thụ, rằng sau năm 1975 mình không phải là thuyền nhân canh me, dân tị nạn kinh tế nhưng đích thị là những chiến sĩ tự do đã bỏ phiếu bằng chính sinh mạng mình. Điều nầy giải thích tại sao có một số người đã rất sợ bị chụp mũ không chống cộng, thân cộng, cộng sản hay thành phần thứ ba chủ hòa chủ bại vân vân và vân vân. Hậu quả của sự lo sợ đó là họ phải tỏ ra chống cộng còn hơn các Tổng Thống Mỹ hay Nguyễn văn Thiệu. Tất cả phản ứng vì mặc cảm tội lỗi đó rốt cuộc chỉ có lợi cho những kẻ giỏi ỏtránh gian nguy tranh công đầuõ chuyên nghề đấu thầu chống cộng như trước năm 1975 ở trong nước. Những gian thương đầu cơ thời cuộc nầy đã khai sinh, nuôi dưỡng, khai thác và khích động triệt để những hoạt động chống cộng không phải để mong chế độ cộng sản sụp đổ - mà họ biết rõ chỉ là ảo tưởng, nhưng là làm áp lực thương lượng bòn rút được chút nào hay chút ấy những nhượng bộ của chính quyền Việt Nam giúp họ tái lập thời vàng son cũ. Đáng lo là chủ trương “vừa đánh vừa đàm” phần nào đã thành công. Họ thành công nhờ ba lỗi lầm Mác-xít. Ba lỗi lầm đó là thứ nhất, cho rằng đạo nào cũng như đạo nào, Thiên Chúa giáo cũng như Phật giáo, đạo nào cũng là công cụ áp bức của phong kiến đế quốc cả. Thứ hai, tin rằng để thay thế cho ý thức hệ Mác-xít, có thể bám vào một ý thức hệ thế tục khác làm xương sống cho chế độ mà không cần đến những truyền thống tốt đẹp hữu dụng của dân tộc, của lịch sử. Thứ ba, tham nhũng. Khai thác triệt để ba lỗi lầm đó, người ta bỏ tiền ra vừa được tha hồ xây dựng trụ sở hay nơi thờ tự, vừa mua chuộc được chính quyền địa phương bao che mọi hoạt động của mình, thế thì còn gì bằng? Cũng vì vậy mà các tôn giáo từng ôm chân Pháp, ôm chân Mỹ bây giờ lại ôm chân cán bộ hủ hóa để dễ dàng bành trướng ảnh hưởng, chiêu mộ tín đồ và phát động những âm mưu đòi tự trị, đòi độc lập theo kiểu East Timor. Điều nầy đã và đang xảy ra ở một vài vùng cao nguyên Việt Nam vốn từng được Pháp nuôi dưỡng qua phong trào FULRO và Mỹ mua chuộc qua phong trào tuyển mộ biệt kích Thượng để đánh phá đường mòn HCM. Một số vùng Thượng đang được các nhà truyền giáo dạy cho biết rằng Hoa Kỳ giàu nhất thế giới vì phần đông dân chúng theo đạo Chúa, rằng cái gì của Mỹ cũng tốt cũng nhất cả, kể cả tôn giáo.

Trở Lại Con Đường Thực Dân Đã Đi

            Thế kỷ 21 được ban phép lành như thế kỷ truyền đạo hướng về Á châu. Nạn nhân đầu tiên không ai khác hơn là dân East Timor, dân Indonesia và những đồng bào thiểu số trên cao nguyên Việt Nam. 

            Không ai nói cho những người đơn sơ chất phát biết một số người da trắng có đạo đã xem người da đen, da màu như súc vật. Sáng chủ nhật họ đi nhà thờ, lễ xong họ vác súng đi săn Da Đen như những người Ku Klux Klan ở Mỹ, người Apartheid ở Nam Phi, người da trắng ở Úc hồi mới khai quốc.

            Không ai nói cho họ biết hầu hết các nước Nam Mỹ hay Mỹ châu La-Tinh đều đã được những người thực dân và các thừa sai cải đạo và đang trở thành những nước nghèo nhất thế giới. Peru, Nicaragua, El Salvador, Costa Rica là những ví dụ, kể cả Mexico là nước với 90% Công giáo. Gần với Việt Nam hơn là Philippines với 94% dân số theo Công giáo La-Mã và Tin Lành, đã độc lập, hòa bình cả trăm năm nay nhưng kinh tế còn tệ hơn Việt Nam. Philippines đang có bốn triệu cô gái giỏi tiếng Anh có bằng Cử Nhân, Cao Học không kiếm được việc làm trong xứ nên phải lang thang khắp thế giới để làm đủ thứ nghề.

            Không ai nói cho họ biết rằng Thiên Chúa giáo - nghĩa là Công giáo và hàng ngàn giáo phái Tin Lành, đã không còn đất đứng trong thế giới Tây phương là thế giới mà tôn giáo nầy cưu mang dạy giổ cả ngàn năm qua. Tình trạng cha làm thầy con đốt sách đó xảy ra vì lý trí và tri thức tiến thì mê tín lùi, dân chủ tự do tiến thì độc tôn cố tín lùi, đầy đủ ăn no mặc ấm rồi ăn ngon mặc đẹp thì con người sẽ không cần đến thuốc an thần ru cơn đau đói khốn cùng áp bức để chờ hưởng thiên đàng kiếp sau.

Phất Cờ Nhân Quyền và Kinh Tế Thị Trường

            Vì không còn đất đứng ở Âu châu và Bắc Mỹ nên Thiên Chúa giáo tìm cách trở lại Á châu và Phi châu mà các nước thực dân kỳ cựu Tây phương buộc lòng phải nhả ra từ khi thế chiến thứ hai chấm dứt năm 1945. Chỉ có Pháp là đi ngược chiều ở Việt Nam, loay hoay vẫy vùng được 9 năm thì phải nhả ra một nửa năm 1954, nửa còn lại giao cho Mỹ tự tung tự tác định liệu và Mỹ cũng phải nhả năm 1975... Bây giờ Công giáo và Tin Lành, đang tìm cách trở lại. Không phải nhân danh những khẩu hiệu đã lỗi thời như Phúc Âm, Tin Lành, Nước Trời, Khai Phóng, Đề Huề Tiến Bộ nhưng là nhân danh những chiêu bài đang ăn khách như nhân quyền, dân chủ tự do, toàn cầu hóa. Không phải núp bóng thực dân áp bức bóc lột, nhưng là nhân danh kinh tế thị trường, cải thiện mức sống. Không phải nhân danh chống mê tín dị đoan mọi rợ nhưng là tương kính, tôn trọng các giá trị truyền thống địa phương. Trời Phật, thánh hiền, tổ tiên ông bà một thời đã bị quét sạch khỏi bàn thờ nhường chỗ cho tượng Chúa giờ lại được nhặt lên phủi bụi cho vào những bàn thờ nhỏ hơn, thấp hơn bên cạnh để làm tà-lọt cho Thiên Chúa toàn năng duy nhất. Đó là cốt lõi của lập luận cho rằng sở dĩ con người tôn trọng Phật Thánh, có hiếu với tổ tiên ông bà vì ông bà tổ tiên Phật Thánh đều là con chung của một Cha toàn năng toàn thiện trên trời. Nói thế khác, chỉ có những ai biết thờ một Chúa Trời trên hết mọi sự thì mới là kẻ đích thực biết tôn trọng Phật Thánh và hiếu hạnh với tổ tiên, thảo kính cha mẹ.

Dụ Dỗ Thiên Hạ Làm trâu Ngựa

            Ngày trước, chính quyền Hoa Kỳ dùng phi pháo để tiếp trợ cho các hoạt động ngoại giao trên bàn hội nghị thế nào, thì ngày nay người ta cũng lợi dụng cảm thức sợ cộng sản và những hoạt động chống cộng ngay tình để mặc cả quyền lợi tôn giáo như thế. Vatican và các phái Tin Lành một mặt tuyên bố chỉ “mong tìm sự thay đổi tự nguyện nơi cộng sản Việt Nam” nghĩa là Việt Nam cho đến đâu hay đến đó và đưa hết phái đoàn cao cấp nầy đến phái đoàn cao cấp khác sang Việt Nam nói chuyện một cách bình thường, ôn hòa thân thiện, mặt khác lại bật đèn xanh cho một số các con chiên ở ngoại quốc chống cộng một cách ngông cuồng hung hản bằng tiền của, mồ hôi nước mắt và xương máu của đồng hương tỵ nạn. Ai không theo họ hay phản đối thì số người này dùng đủ mọi thủ đoạn, nhất là sách báo, radio, tivi để vu vạ là cộng sản, là thân cộng, là làm lợi cho cộng sản... khiến cho nạn nhân hoảng hốt hoang mang phải ti toe ồn ào chống cộng để minh oan. Nhưng kể từ khi có thư 9 điểm của HT Huyền Quang thì họ không phải bận tâm nhiều chuyện chống cộng nữa. Đã có người khác đội nón rơm chữa lửa cho họ rồi.

            Thật vậy, Đơn Xin Cứu Xét Nhiều Việc của HT Huyền Quang xuất hiện ngày 26.6.1992, thì đến ngày 5.10.1992 Văn Phòng Trung Ương Tông Đồ Mục Vụ Việt Nam Hải Ngoại do Đức Ông Philippe Trần văn Hoài điều khiển ở Vatican đã tổ chức ngay cái gọi là ngày cầu nguyện cho hòa bình tại Việt Nam. Trước tiên, có thể coi đây là một cách lấy điểm với chính quyền Việt Nam bằng cách gián tiếp tố cáo HT là xách động gây rối. Nhưng đồng thời đây cũng là khởi điểm của một chủ trương mới của Vatican. Thật vậy, ngày cầu nguyện nầy đã cho ra đời một tổ chức chính trị ngoại vi gọi là Ban Điều Hợp Hiến Chương Roma 92, ban điều hợp này khai sinh Lực Lượng Trí Thức Hoa Thế Nguyên, lực lượng này lại đẻ ra Cao Trào Đối Lập Quốc Dân Quốc Nội - Hải Ngoại sau đổi thành Mặt Trận Quốc Dân Đối Kháng Cộng Sản Quốc Nội - Hải Ngoại. Chỉ huy mặt trận nầy là Bộ Phận Tham Mưu Chiến Lược của Lực Lượng. Bề mặt, tất cả cái gọi là ban điều hợp, lực lượng, cao trào, mặt trận, bộ tham mưu chiến lược nầy đều do Tiến sĩ Nguyễn bá Long nào đó ở Canada cầm đầu từ trên xuống dưới, và mặt chìm dĩ nhiên là Đức Ông Philippe Trần văn Hoài. Hai công cụ mà Văn Phòng Trung Ương Tông Đồ Mục Vụ Việt Nam Hải Ngoại dùng để vận dụng và xách động tập thể người Việt hải ngoại là Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại do một người tên Nguyễn đăng Khánh đứng làm vì và thứ hai là Văn Phòng Liên Lạc Tôn Giáo hay Văn Phòng Liên Tôn do đích thân Đức Ông Trần văn Hoài nắm giữ.

            Sau khi dàn trận như vậy rồi thì chiến dịch phát động nhằm vào các mục tiêu sau đây:

            1. Gây áp lực buộc Việt Nam phải để cho Giám Mục Nguyễn văn Thuận nhận chức Phó Tổng Giám Mục Sài Gòn như Vatican từng bổ nhiệm.

            2. Lên án hoà hợp hòa giải dân tộc là một thủ đoạn man trá của cộng sản Việt Nam.

            3. Tấn công triệt hạ ảnh hưởng của Thiền sư Nhất Hạnh.

            4. Khủng bố chụp mũ những ai dám chống lại bằng cách ồ ạt đánh phá cái gọi là ỏcác báo chí đội lốt Phật giáoõ và ỏcác cơ quan truyền thông mang danh nghĩa Phật giáoõ. Tất cả những màn kịch nầy đã lợi dụng một vài Phật tử hữu danh như Giác Lượng, Viên Lý, Võ văn Ái, Ngô trọng Anh, Ngô văn Bằng, Nguyễn cao Thanh và một số lau hau ngất ngơ khác nữa để làm hoa lá cành. Nhưng xấc láo hơn cả là công khai tấn phong HT Huyền Quang và Quảng Độ vào chức vụ đặc trách phân bộ quốc nội của Mặt Trận Quốc Dân Đối Kháng Cộng Sản sau khi họ đã thất bại không lợi dụng được Nguyễn đan Quế, Nguyễn Hộ, Đoàn viết Hoạt để treo đầu heo ban thịt chó. Muốn thấy rõ cái màn kịch Liên Tôn nầy thì cứ đọc các số báo Khai Thác Thị Trường tức cơ quan phát ngôn của phong trào nầy thời kỳ 1992-1995, cụ thể là các số 12, 13, 14, 15,16 và 19 thì rõ.

            Thấy có HT Huyền Quang và Quảng Độ đứng ra nên một số Phật tử hùa theo vô tình làm ngựa cho thiên hạ cưỡi và bưng nước cho thiên hạ giải khát. Hăng hái nhất là GHPGVNTNHN-HK và VP2-VHĐ, và Võ văn Ái, đã hẳn.

            Trong chiến dịch chống Trần Trường tại Bolsa năm ngoái, Sư Viên Lý đã được ban tổ chức năn nỉ mời đến phát biểu trong đêm thắp sáng niềm tin do Tuổi Trẻ Việt Nam Quốc Gia Hải Ngoại phụ trách. Ban tổ chức đoan quyết đây là một hội diễn liên tôn gồm đủ mặt đại diện các tôn giáo. Đến nơi, Viên Lý chỉ thấy ba linh mục không mặc áo dòng mà chỉ mặc đồ thường, loay hoay có mặt một lúc để chụp hình rồi biến mất, Viên Lý thì bị lôi lên diễn đàn đại diện cho liên tôn để phát biểu ý kiến, chối từ thế nào cũng không được.

            Việt Nam Thời Báo ở San José, Hoa Kỳ số ngày 8.12.1999 chạy tít lớn Biểu Tình và Hội Thảo Ngày Nhân Quyền 1999 tại Paris. Báo nầy cẩn thận tuyên xưng danh sách các đại diện tôn giáo thuyết trình gồm có một - HT Thích Minh Tâm, đại diện Phật giáo Âu châu, hai - ông Lê trung Can, đại diện Ủy Ban Bảo Vệ Tín Ngưỡng đạo Cao Đài, ba - ông Nguyễn văn Phố, đại diện Ủy Ban Tranh Đấu Tự Do của Phật Giáo Hòa Hảo và bốn - ông Phạm Dung, chủ tịch Hội Tranh Đấu cho Nhân Quyền Việt Nam. Không hề có một đại diện nào của Công giáo hay Tin Lành thèm đến dự. Liên tôn tránh gian nguy tranh công đầu, ăn cổ đi trước lội nước đi sau là vậy đó. 

Sư Tử Trùng

            Võ văn Ái đã biết rõ và đã tích cực tiếp tay cho màn kịch di huấn của HT Đôn Hậu và sau đó cũng chính là kẻ đã hà hơi tiếp sức thổi phồng Tăng Đoàn Bảo Vệ Chánh Pháp và các hoạt động của tổ chức do công an tạo ra để làm gậy ông đập lưng ông Phật giáo Huế. Và khi màn kịch đấu tranh Pháp Nạn 3 nầy khai diễn thì Võ văn Ái đã xúi dục, lừa dối một số chư tăng làm mọi cách duy trì không khí căng thẳng bi thương của Pháp Nạn 3. Nhưng trong mấy năm sau nầy, giáo hội nầy đã tổ chức bao nhiêu cuộc tuyệt thực tại trụ sở Liên Hiệp Quốc ở New York, ở Genève. Các tôn giáo nào khác đã tham dự? Không ai cả, ngoài một số Phật tử và mấy sư hung hăng như Giác Lượng, Viên Lý, Minh Dung, Nguyên Trí, và quý ngài ngơ ngác tin lời các cố vấn chính trị Trần quang Thuận, Võ văn Ái.

            Như một con vi trùng Koch sống nhờ buồng phổi của con bệnh ho lao, Võ văn Ái đã nhờ Pháp Nạn 3 mà có “grant”, có “job”, có tên, có tiền. Muốn vậy thì Tăng Ni và Phật tử bên nhà càng điêu đứng ê chề càng tốt, chính quyền và Phật giáo càng va chạm, đối kháng càng hay, càng có lý do gia tăng công tác, càng dễ xin tiền. Võ văn Ái đã nhận của Quốc Hội Mỹ qua tổ chức National Endowment for Democracy 70.000 Mỹ kim năm 1993 và 90.000 năm 1997. Điều nầy có thể thấy trên Internet qua trang nhà http://wwwnedorgwais/grants-top/folder.0064/sec.2081.html. Như vậy, HT Huyền Quang công bố Đơn Xin Cứu Xét Nhiều Việc giữa năm 1992 thì năm 1993, Võ văn Ái nhận 70.000 đô-la để biến chuyện đó thành Pháp Nạn 3. Ai muốn biết thêm chi tiết thì có thể viết thư gởi cho tổ chức đó để hỏi thêm các năm khác Võ văn Ái đã lảnh thầu thực hiện chiến dịch Pháp Nạn bao nhiêu tất cả. 

            Với Võ văn Ái, thì tất cả cho pháp nạn, tất cả phải là pháp nạn, không phải pháp nạn cũng phải vặn vẹo cho thành pháp nạn. Ở Lâm Đồng, Trương thành Tâm, tên vô loại đội lốt nhà sư đã dùng bùa ngãi dụ dỗ phụ nữ, kể cả ni cô nhiều năm qua ngay cả trước năm 1975. Nhưng thời đó chính quyền sợ bứt dây động rừng và lại không ai đứng ra tố cáo nên đã làm ngơ. Đến năm 1996, vì sư hổ mang Trương thành Tâm làm quá, cha mẹ phải đứng ra tố cáo để bảo vệ con em họ. Chính quyền ra tay, bắt nhốt Trương Thành Tâm và triệt hạ những hang ổ truỵ lạc do sư hổ mang nầy dựng lên trái phép. Dân chúng địa phương ai cũng nhẹ nhỏm mừng vì con quỷ bùa ngãi đã sa lưới. Chỉ trừ Võ văn Ái, anh hùng bảo vệ quyền làm người Việt Nam bên Pháp, bên Mỹ. Võ văn Ái nhảy vào biến vụ Lâm Đồng nầy thành vụ cộng sản bắt bớ sư sãi, đập phá chùa chiền tại tỉnh Lâm Đồng. Ai muốn thêm bằng chứng cứ điện thoại về chùa Linh Phong Đà Lạt, số 63.824.092 sẽ rõ vì chính một ni cô chùa nầy cũng đã là nạn nhân của Trương thành Tâm. Trứ danh hơn nữa là Võ văn Ái tự lập ra cái gọi là Ủy Ban Bảo Vệ Quyền Làm Người Việt Nam và tự tôn vinh là chủ tịch. Nhưng nếu không có Võ văn Ái bảo vệ quyền làm người thì người Việt chỉ có quyền làm trâu bò sao? và ai ở Việt Nam đã nhờ Võ văn Ái lấy tiền Mỹ để bảo vệ nhân quyền cho họ?

            Tại sao HT Huyền Quang, Quảng Độ - hai người bị Võ văn Ái ghi vào bảng phong thần những người bị bách hại đàn áp nhất tại Việt Nam - và thật sự cũng là những người mà Võ văn Ái đang âm thầm cầu khẩn ngày đêm sao cho họ thọ nạn hay hy sinh để Võ văn Ái có cớ khỏi mất việc, đã không dám nhắc đến Võ văn Ái hay có một lời tuyên dương công lao hay tán thán công đức nhân quyền của Võ văn Ái? Có phải vì quý vị đó thấy rõ bản mặt Nam Mô Một Bồ Dao Găm của nhà vô địch nhân quyền pháp nạn nầy? Quý HT Đức Niệm và Hộ Giác có tự đặt những câu hỏi đó không khi tấn phong cho Võ văn Ái làm Giám Đốc và để cho Võ văn Ái biến Ủy Ban Bảo Vệ Quyền Làm Người Việt Nam thành Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế của VP2-VHĐ và dùng GHPGVNTNHN-HK như cái mộc củ khoai thị thực cho những hoạt động đấu thầu pháp nạn, đấu thầu nhân quyền?

Âm Thầm Rã Đám

            Vì vô minh, tà tâm, tư lợi mà thiên hạ đẩy nhau đến chỗ lừa mình, lừa người, loay hoay lòng vòng như đèn trung thu. Võ văn Ái, Trần quang Thuận, Ngô văn Bằng vàđám cố vấn chính trị hì hà hì hục thổi phồng GHPGVNTNHN-HK. GHPGVNTNHN-HK lại thổi phồng Hội Đồng Lưỡng Viện của GHPGVNTNHN, thổi phồng chuyện di huấn, pháp nạn và Tăng Đoàn Bảo Vệ Chánh Pháp, khuếch đại chuyện chính khách ngoại quốc ủng hộ HT Huyền Quang, Quảng Độ, cung cấp những tin tức sai lạc phóng đại tô màu về thực trạng Phật giáo để đầu độc tâm trí Phật tử hải ngoại và Phật tử ở quê nhà.

            Nơi quê người, thành phần Tăng Ni và Phật tử hữu tâm, sáng suốt rất đau buồn tình trạng Sơn Môn chia năm xẻ bảy, mạnh ai nấy làm, ưa gì nói nấy, lôi thôi lếch thếch lủng ca lủng củng. Phật giáo có “món hàng” tốt vượt thời gian không gian, nhưng “người bán hàng” lại quá kém, cả kiến thức lẫn tư cách. Trước tình trạng đó, người Phật tử đương nhiên khao khát một sự xích lại gần nhau để tu học và lưu truyền chánh pháp. Cũng vì thế, trong đại hội tháng 9.1992 tại San José, bang California Hoa Kỳ, để thành lập GHPGVNTNHN, đại hội đã quy tụ đến 75 phần trăm các đơn vị tự viện tại Hoa Kỳ, chưa kể các quốc gia khác như Canada, Pháp, Đức, Úc Đại Lợi. Thế đó nhưng sau 7 năm bảo vệ chánh pháp, giải trừ pháp nạn, tranh đấu quyền làm người... bây giờ giáo hội nầy còn lại bao nhiêu? Tại Bắc Cali, chỉ còn Thắng Hoan, Giác Lượng và Trí Lãng, mà tư cách của hai vị sau thì thôi xin miễn bàn. Số còn lại gần 20 tự viện thì đã lặng yên giã từ giáo hội. Trong số 36 tự viện tại Nam Cali bây giờ chỉ còn 4 đơn vị còn theo giáo hội, đó là các tự viện của quý Sư Vân Đàm, Nguyên Trí, Viên Lý và HT Đức Niệm. Trong số 22 đơn vị ở Texas thì chỉ còn 3 ở lại với giáo hội, đó là các chùa của HT Hộ Giác, TT Tín Nghĩa và TT Huyền Việt. Riêng trường hợp TT Huyền Việt, vì là học trò của HT Hộ Giác nên TT Huyền Việt bất đắc dĩ mà phải đa mang theo những chuyện này thôi. Âu châu còn hai đơn vị, Úc châu còn 9 trên 32 đơn vị. Sở dĩ Úc châu được như thế vì đa số còn trung thành nầy đều xuất thân từ Quảng Ngãi hay Bình Định. Tóm lại, trong số 400 đơn vị tự viện hải ngoại thì chỉ còn khoảng 30 đơn vị còn ở lại với GHPGVNTNHN của quý HT Đức Niệm, Hộ Giác. Nói rõ hơn, GHPGVNTNHN chỉ quy tụ được khoảng 7.5% thực lực Phật giáo quốc ngoại. Đem thực lực đó ra để đòi thừa kế quyền đại diện Phật giáo ở quê nhà cũng như quốc ngoại thì có phải hoặc là lãng trí, hoặc là có mưu đồ treo bảng mì căn mà bán lòng heo không?

Những Lý Do Tại Sao

            Phật tử hải ngoại quay lưng lại với GHPGVNTNHN của hai HT Đức Niệm, Hộ Giác vì nhiều chuyện mà những lý do chính là...

            Thứ nhất, thời đấm đá, chém giết điên cuồng đã lắng dịu. Liên bang Nga Sô giải thể kéo theo sự tan rã của khối Đông Âu chư hầu. Không đội trời chung như Do Thái và Palestine, Syria mà cuối cùng cũng phải hòa hoản. Việt Nam và Hoa Kỳ hận thù 30 năm cuối cùng cũng phải bang giao vì quyền lợi quốc gia của hai phía.

            Thứ hai, những chiêu bài phục quốc, đối kháng không còn hấp dẫn nữa. Năm nầy qua năm khác, người Việt lưu vong đã ớn tận mang tai khi nghe mấy ông mấy bà yêu nước giờ thứ 24, chống cộng giờ thứ 25 hứa hẹn “cộng sản sắp chết tới nơi”, “chế độ sắp đổ nay mai”. Những “ngày mai ăn phở khỏi trả tiền” của những kẻ giỏi nghề đấu thầu chống cộng, đấu thầu dân chủ, nhân quyền, vốn cũng là những kẻ ăn trước, ăn nhiều hơn ai hết và cũng chạy trước hơn ai hết trong năm 1975.

            Thứ ba, sau năm 1992 nhiều Tăng Ni Phật tử về nước chứng kiến hoàn cảnh đổi mới kinh tế xã hội, mức sinh hoạt của người dân từng buớc được cãi thiện, sinh hoạt tôn giáo từng bước được cởi trói. Đất nước vẫn còn nghèo, nhưng không còn khốn cùng lụn lại, không còn chém giết, còn nghi kỵ nhưng không còn hận thù. Bất công thua thiệt vẫn còn, nhưng quyền bám vào hiện tại và hy vọng vào tương lai được bảo đảm. An lạc, hạnh phúc là điều có thể có chứ không chỉ là bánh vẽ. Đừng chụp mũ tôi cộng sản. Cứ về thăm một lần sẽ thấy. Dĩ nhiên là chính quyền có những cái trì trệ lỗi thời, tụt hậu về tham nhủng, xì ke ma tuý và giáo dục, nhưng đây chưa phải là chỗ tôi nói ra.

            Thứ tư, băng đảng bốn người. Từ lúc thành lập tháng 9.1992 tới nay, GHPGVNTNHN của hai HT Đức Niệm, Hộ Giác chẳng làm được việc gì có ích đáng để lưu truyền sử sách, hay ít ra cũng được các nhà viết sử khách quan công nhận. Hòa hợp Tăng chúng? Không! Hướng dẫn tín đồ tu học? Không! Đào tạo tăng tài? Chẳng có! Nhưng thành tích đáng kể nhất là sự thành hình của một băng đảng dưới danh nghĩa Lực Lượng Hộ Trì Chánh Pháp gồm bốn người là Giác Lượng, Trí Lảng, Vân Đàm và Nguyên Trí. Băng đảng này chuyên nghề rình rập xem có Tăng Ni nào từ Việt Nam ra hải ngoại chữa bệnh, thăm bà con đồ đệ là mít-tinh, biểu tình chống đối. Những người chủ động và đa số tham gia đều là tín đồ Công giáo, Tin Lành và những kẻ chống cộng cầu danh cầu lợi. Ngay cả những bậc đạo cao đức trọng như HT Thanh Từ, HT Trí Dũng họ cũng không chừa trong khi đó những chức sắc Công giáo như Giám Mục Nguyễn văn Sang, Giám Mục Phạm minh Mẫn và bao nhiêu giáo quyền Công giáo khác đến nước Mỹ được đón tiếp rầm rộ, đi quyên tiền, đi nói chuyện nhiều nơi tin tức được công khai loan báo rần rộ thì tuyệt nhiên không thấy băng đảng bốn người nầy có một tiếng ngo ngoe phản đối. Chuyện nầy không chỉ xảy ra một nơi mà nhiều nơi, không phải một lần mà nhiều lần nhưng không thấy hai HT Đức Niệm, Hộ Giác có một hành động hay một văn thư nào chấn chỉnh chuyện ăn cơm Phật tử chống đối Tăng Ni này. Tôn giáo khác quyên tiền làm nhà thờ nhà nguyện và mua chuộc hủ hóa cán bộ thì được, Phật tử quyên tiền làm chùa thì là ỏcộng sảnõ. Tháng 12.1996, tờ báo Giao Điểm tổ chức buổi cơm chay gây quỷ giúp chùa Đậu ở Hà Nội thì Nguyên Trí dẫn một đám lâu la ngoại đạo đến phá đám. Trong phong trào cứu trợ nạn lụt miền Trung mới đây, băng đảng bốn người nầy đã gọi điện thoại hăm dọa các chùa phải gởi tiền về cho GHPGVNTN bên nhà, ai không tuân lệnh là cộng sản, sẽ bị công khai đấu tố.

            Không có “sư quốc doanh” ở lại sống trên quê hương nghèo đói và tai họa chiến tranh thì ai giữ chùa, ai giữ gìn mối đạo. Sư quốc doanh Thích Minh Châu, Thích Chơn Thiện cũng đào luyện được một số lớn Tăng Ni có tu có học. Trên hai trăm Tăng Ni du học cấp Cao Học và Tiến sĩ ở Ấn Độ và các nước. Đây là con số du học cao nhất từ ngàn năm qua của Phật giáo Việt Nam. Sư quốc doanh Thích Thiện Siêu mở Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Huế gấp rút đào tạo hàng trăm tăng tài trẻ cung ứng cho nhu cầu hoằng pháp ngày một gia tăng. Vậy thì sư quốc doanh đáng tung hô hay đáng trách? Còn một số sư chống quốc doanh, bỏ bạn bè thầy tổ, bỏ tín đồ, bỏ quê hương, 25 năm qua đào tạo được bao nhiêu tăng chúng? truyền đạt giáo lý cho bao nhiêu người ngoại quốc? Có ai không, hay chỉ có thi đua làm chùa, tranh nhau in Bạch Y Thần Chú? khờ khạo chạy theo Liên Tôn, lót đường, cầm lọng che cho thiên hạ? Nói ra thì mang khẩu nghiệp, không nói thì đau lòng.

            Thứ năm, huyễn hoặc. Mỗi năm hoặc hai năm, GHPGVNTNHN của hai HT Đức Niệm, Hộ Giác lại đại hội một lần. Đại hội túi áo, báo cáo túi quần. Chưa đại hội nhưng bản đúc kết đại hội cũng như diễn văn bế mạc nhất định đã có ghi câu: đại hội đã thành công mỹ mãn. Đại hội vừa qua năm 1999 là một bằng chứng. Các đơn vị tự viện dự đại hội rất ít nên nhiều khi một chùa đã được chia năm xẻ bảy thành nhiều đơn vị. Ví dụ Phật Học Viện Quốc Tế là một đơn vị, nhưng Ban Hộ Trì Tam Bảo của chùa, và Đoàn Phật Tử Vùng San Fernando cũng của chùa lại được kể như là hai đơn vị nữa. Cho xôm tụ rậm đám mà thôi. Nếu vẫn còn thấy ít thì đem Tăng chúng trong chùa và bổn đạo vào trám đầy các hàng ghế đại biểu để chụp hình quay phim. Lần đại hội nầy giáo hội còn ra thông cáo đại hội mở rộng, ai muốn tham gia cũng được vì thế có những chính khách hoạt đầu, những chính trị gia thời cơ nhảy vào lái đại hội theo những hướng có lợi cho họ. Một số chính khách Công giáo còn được Trần quang Thuận và đám thích liên tôn đưa vào dự các phiên họp quan trọng của GHPGVNTNHN-HK nên tâm nguyện và đường đi nước buớc của các Thầy đều bị thiên hạ biết hết. Dù đã thêm râu thêm ria như vậy nhưng đại hội cũng chỉ quy tụ được 58 đại biểu kể cả 30 Tăng Ni và những tín đồ ngoại đạo trá hình.

            Lễ bế mạc đại hội tổ chức trùng với lễ Phật Đản tại khuôn viên Santa Ana College với khoảng từ ba đến năm ngàn người tham dự phần đông là các bà và trẻ em đến xem văn nghệ. Tôi điện thoại cho một người bạn trong Tổng Hội Phật Giáo Liên Hữu Cư Sĩ thì người bạn nầy cho biết là Tổng Hội nầy phụ trách lễ bế mạc và chương trình văn nghệ. Số ghế thuê cho buổi lễ là 3000 - ba ngàn! và số người ngồi vẫn chưa hết, số ghế trống càng lúc càng nhiều vì người ta đến cốt xem văn nghệ nhưng lại chỉ có mấy thầy đọc diễn văn lê thê, phát biểu dài dòng nên bỏ ra về. Thế đó mà Võ văn Ái lại loan tin là buổi lễ quy tụ 20.000 người - hai chục ngàn! Một vài Thầy trong giáo hội điện thoại về Việt Nam lại tăng gấp đôi thành 40.000. Các báo Việt ngữ địa phương loan tin từ 8 đến 12 ngàn, trong khi báo Register của Mỹ bảo là “khoảng năm ngàn”. Mấy chữ thành công mỹ mãn được tung ra như sấm động thực sự chỉ để lừa dối HT Huyền Quang và Quảng Độ mong rằng kỳ tới nếu còn đại hội thì quý HT sẽ nhớ ban cho thông điệp hay điện mừng đại hội!

            Thứ sáu, cánh tay nối dài của những thế lực đen tối. Trước sau, Vatican chỉ có một mục tiêu, đó là bành trướng thế lực. Ở Việt Nam, cái thế lực mà Vatican gầy dựng sau gần trăm năm đô hộ của Pháp đã bị anh em Ngô đình Diệm vô tình đẩy đến chỗ sụp đổ tan tành. Chín năm của Nguyễn văn Thiệu là thời kỳ Công giáo ở Miền Nam phát triển hỗn độn xô bồ chụp dựt cho đến 1975 thì hết đường cứu vãn. Cung cách cố hữu của Vatican sau 1975 là triệt để khai thác những áp lực ngoại quốc đối với Việt Nam để tiến hành những vận động ngoại giao nhằm duy trì và bảo vệ những gì còn có thể bảo vệ. Chính thức, Vatican không làm một điều gì, không nói một lời nào trực tiếp chọc giận Việt Nam. Nhưng thực tế ở ngoại quốc, Vatican đã triệt để khai thác cái tinh thần chống cộng như một thánh chiến chống Quỷ Đỏ mà Vatican đã tiêm nhiễm vào đầu óc tín đồ của họ từ thời Giáo Hoàng Pius XII. Điều Vatican và riêng Công giáo tại Việt Nam muốn che đậy là kẻ đã làm mất Miền Nam chính là hai Tổng Thống Công giáo không phải do dân chúng Miền Nam tự do lựa chọn mà là do ngoại quốc đặt lên. Hai Tổng Thống đó đã  được Vatican ban phép lành để đấu thầu chống cộng và cả hai cuộc thầu đều thất bại. Muốn che đậy những thất bại đó thì thứ nhất phải tỏ ra mình chống cộng thật chứ không phải chống cộng bằng nước bọt, thứ hai phải tìm vật tế thần gánh hết tội lỗi cho mình. Sau 1975, đại đa số tầng lớp cán bộ trung và cao cấp của Công giáo đều chạy ra ngoại quốc và một số đã được vận dụng thực hiện chiến dịch chạy tội và phục vụ kế hoạch trở lại Việt Nam của Vatican. Phật giáo là đối tượng chính cho số này nhắm tới. Báo chí và cơ quan truyền thông của họ chụp mũ và đánh phá bất cứ Tăng Ni Phật tử nào có khả năng. Những kẻ ngây thơ phải nín thở cầu an hoặc trùm chăn để tránh tai bay vạ gió, hoặc phải ăn nói chống cộng ồn ào để minh oan. Ngoài việc đánh phủ đầu để chạy tội đó họ đã mở chiến dịch liên tôn để lũng đoạn các tổ chức Phật giáo, để mua chuộc hăm dọa những thành phần cầu an nhưng háo danh hoặc những thành phần vô hạnh ăn cơm chùa phản Phật vì danh lợi. Cũng vì vậy mà các buổi họp của GHPGVNTNHN-HK luôn luôn có những bản nhận định, những bản đúc kết rặc mùi chống cộng hăm hở. Hầu hết thành phần lãnh đạo và tổ chức đại hội Vụ Cư Sĩ của Thích Minh Tuyên ở Virginia Hoa Kỳ năm 1996 là cư sĩ... ngoại đạo, với Tạ quang Trung - một tín đồ Công giáo cực đoan ngồi chễm chệ trên bàn chủ tọa. Tháng 5 năm 2000, Vụ Cư Sĩ nầy lại dự định tổ chức đại hội ở Paris. Paris là căn cứ địa của ban điều hợp hoạt động chính trị Công giáo Việt Nam lưu vong. Paris là trụ sở Ủy Ban Công Lý và Hòa Bình của Giám Mục Nguyễn văn Thuận và cách văn phòng của Đức Ông Trần văn Hoài ở Vatican không đầy ba bước. Paris cũng là trụ sở tờ tam nguyệt san Định Hướng do Đức Ông Trần văn Hoài chủ trương và Nguyễn đăng Trúc là thư ký thường trực. Bên Mỹ thế nào cũng có Giác Lượng, Viên Lý, Chánh Lạc, bên Úc thế nào cũng có Quảng Ba, Huyền Tôn... hăm hở phó hội? Trong thành phần ban tổ chức đại hội nầy, có những kẻ hoạt đầu chính trị, cay cú vì làm ăn thua lỗ ở Việt Nam, và những tên nằm vùng như Lê đình Cai, một cán bộ Đại Việt hệ phái Ba Lòng Quảng Trị của Hà thúc Ký, em út của nhóm Sao Sáng Hố Nai như Nguyễn gia Hiến, Nguyễn gia Kiểng, Bùi văn Giải, Nguyễn Lý Tưởng chuyên môn đánh phá Phật giáo. Nếu người dân Sàigòn chưa quên Nguyễn gia Hiến đã lấy tiền của Nguyễn Khánh đem một số du đảng về Sàigòn chém giết Phật tử năm 1964 thì người dân Đà Nẳng - Huế cũng không thể quên đám du côn đội lốt Xây Dựng Nông Thôn của Bùi văn Giải ở Đà Nẳng và của Nguyễn lý Tưởng - Thiếu Tá Lý - Lê đình Cai ở Huế đã nhận tiền của Thiệu-Kỳ và Mỹ để dẹp bàn thờ, tấn công chùa chiền, giết hại Phật tử như thế nào năm 1966. Lê đình Cai đã chui vào cướp được chức Trưởng Khối Chương Trình của đại hội Vụ Cư Sĩ Phật tử năm 2000 ở Paris. Hãy chuẩn bị mà nghe những nhận định, những quyết nghị liên tôn, đoàn kết lực lượng quốc gia ủng hộ Nguyễn văn Thiệu và phục hồi tinh thần Ngô đình Diệm, hô hào đối kháng phục quốc, đòi cho Công giáo và Tin Lành tự do bành trướng, đòi trả Trại Gà Scala ở Đà Lạt, cao ốc Crystal Palace, khách sạn Caravelle, khách sạn Thuận Hóa và bao nhiêu đất đai tài sản khác lại cho thiên hạ, và nghiêm khắc lên án những nhà sư, những Phật tử mà họ vẫn thường xuyên vu cáo là thân cộng, quốc doanh, ngụy hòa, xách động, kể cả Thích Quảng Đức, Thích Thiện Minh, Thích Đôn Hậu, Thích Huyền Quang vân vân và vân vân. Cầu mong những Phật tử hữu tâm - tại gia cũng như xuất gia, trong Vụ Cư Sĩ tinh tấn nhận chân những thủ đoạn nầy để ít ra cũng một lần tránh được cảnh cầm lọng che cho thiên hạ nhân danh GHPGVNTNHN-HK mà phá Phật giáo.

*    *
*

            Tóm lại, GHPGVNTNHN-HK và VP2-VHĐ là một thực tế có những điểm đáng ghi nhớ như sau:

            1. Không có chương trình tu học cho Tăng Ni và tín đồ của chính giáo hội, mà chỉ chú tâm vào con đường thế tục chính trị thời cơ, không nghiên cứu tình hình, không biết hoàn cảnh của quê hương đất nuớc, không cảnh giác mánh lới của ngoại bang và đế quốc tôn giáo, không kính trọng và thực tâm hộ trì những người còn nghĩ đến GHPGVNTN ở bên nhà mà chỉ đầu độc dư luận, xuyên tạc vặn méo tin tức để đưa những người nầy vào con đường nhận định và quyết đoán thiếu thực tế hay chỉ phù hợp với âm mưu lợi dụng Phật giáo.

            2. Những vị hữu đức trong GHPGVNTNHN-HK lại không lịch lãm bản lĩnh về chính trị và mưu mô của những chính trị gia gian manh, hoạt đầu nên đã sập bẫy của Võ văn Ái, Trần quang Thuận và một số vệ tinh chính khách nửa mùa ngất ngơ hay cầu danh cầu lợi đang bám vào GHPGVNTNHN-HK như những ký sinh trùng.

            Sư Viên Lý thì kiến thức cũng như kinh nghiệm chẳng đáng là bao không thể nào chu toàn trách vụ một Tổng Thư Ký giáo hội. Thêm vào đó là băng đảng bốn người chuyên nghề đấm đá, láo lường, thêu dệt, vọng ngữ biến giáo hội thành một tổ chức quái thai của Phật giáo hải ngoại, làm công cụ cho Võ văn Ái kiếm tiền và Trần quang Thuận kiếm hư danh.

            Là người còn ăn cơm của đàn na tín thí, tôi thấy có bổn phận phải nói lên một phần sự thật để các đồng môn biết mà trở về với Chánh Pháp, giúp cho Phật giáo hải ngoại thoát khỏi đại nạn làm công cụ cho những kẻ hại đồng đạo, đồng bào.

Ngày 15.1.2000.

* Cùng viết chung với Tâm Quán

Mark_03.gif (833 bytes) Go to top page

half_under_water_sw.gif (3365 bytes)

Home  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net