curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

Diễn đàn mở rộng của nhóm chủ trương Giao Điểm

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

..........

gd-803.gif (4051 bytes)

    tôn giáo và thời đại:

 Mark_03.gif (833 bytes)Con đường ngõ cụt của Vatican trên lộ trình xâm lăng văn hóa Á châu..CN

 Mark_03.gif (833 bytes)Màn kịch bịp bợm “Phép lạ Lộ Đức” của Vatican...  CN

 Mark_03.gif (833 bytes)Công giáo-Tin lành và sách lược cải đạo ở Á châu (phần II)... TCN

 Mark_03.gif (833 bytes)Một số ý niệm về kinh tế theo quan điểm Phật giáo Quán Như

 Mark_03.gif (833 bytes)Những lời châu ngọc về Kitô giáo.... TCN

 Mark_03.gif (833 bytes)Chiến lược mục vụ của Vatican và ý đồ "rửa tội"... NTL

    v/đ lịch sử còn tồn đọng:

 Mark_03.gif (833 bytes)Từ đồng minh với Mỹ đến thoả hiệp với Cộng...  HL. Đỗ Mậu

        Thời sự tháng 8:

 Mark_03.gif (833 bytes)Vũ khí viết văn (Maureen Dowd) .... N.Văn

 Mark_03.gif (833 bytes)Những dối trá do nhà nước bảo trợ (Ignacio Ramonet)

 Mark_03.gif (833 bytes)Sáng dạ (Daniel Danette)

 Mark_03.gif (833 bytes)Từ điển Dubya (Geov Parrish)

 Mark_03.gif (833 bytes)Mâu thuẫn và nghịch lý (Gary LaMoshi) N. Văn

  Vọng về mùa Vu lan:

 Mark_03.gif (833 bytes) Vu lan Huế, một thoáng trở về! Thái Kim Lan

   đặc biệt của Giới Tử:

 Mark_03.gif (833 bytes) Sư tử trùng (trọn bộ sách)

 Mark_03.gif (833 bytes)Võ văn Ái: chìm xuồng níu phao (Chuyển Luân phỏng vấn Tổng Đàn)

     Tin sinh hoạt từ thiện:

 Mark_03.gif (833 bytes)Lại chuyện mẫu giáo Huế....  TKL

 Mark_03.gif (833 bytes)Hành trình từ thiện của Diệu Liên

 Mark_03.gif (833 bytes)Báo cáo của ASAVINA... TCN

gd-mau803.gif (3814 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
Nghiên cứu & đối thoại tháng 8 quý ba năm 2003

   

TỪ ĐỒNG MINH VỚI MỸ
ĐẾN THỎA HIỆP VỚI CỌNG

Hoành Linh Đỗ Mậu

Lời giới thiệu của Giao Điểm – Trong tháng Tám năm 1963, có hai biến cố lớn đã làm chuyển đổi số phận của chế độ Ngô Đình Diệm, và đưa miền Nam Việt Nam vào một khúc ngoặt lịch sử mới. Đó là chiến dịch “Nước Lũ”để đối phó với cuộc đấu tranh đòi bình đẳng tôn giáo của Phật giáo Việt Nam, và những toan tính  nhằm tiến đến một thỏa hiệp chính trị với Hà Nội. Cả hai kế hoạch chủ yếu đều do vợ chống Cố vấn Ngô Đình Nhu thiết kế, chỉ đạo, tổ chức và điều hành.

Trong biến cố đầu,họ đã đạt được mục tiêu: Chỉ trong một đêm 21 tháng 8, lựu đạn và lưỡi lê, sự bạo tàn và tính gian dối đã phối hợp chặt chẽ với nhau để đưa tất cả cấp lãnh đạo then chốt nhất của phong trào Phật giáo vào tù. Nhưng cũng từ đó, Phật giáo trao lại ngọn lửa đấu tranh cho mọi từng lớp nhân dân khác của miền Nam Việt Nam đứng lên tiếp nối sứ mệnh lịch sử của mình. Ba tháng sau, chế độ sụp đổ, anh em Nhu-Diệm đã thắng đường ngắn mà thua đường dài.

Trong biến cố thứ nhì, nham hiểm và độc ác hơn, họ âm thầm xé bỏ Hiến Pháp, bí mật phản bội lẽ sống chính trị của quân dân miền Nam để cứu lấy số mệnh chính trị của một gia đình họ Ngô. Chuyện thỏa hiệp với kẻ thù không thành, nhưng âm mưu bại lộ và trở thành giọt nước cuối cùng, bất khả phản hồi, đẩy họ đến trước tòa án lịch để đền tội trước quân dân miền Nam.

Biến cố đầu đã được nhiều tài liệu ghi lại, nhưng biến cố sau thì ít được người biết đến. Nhân dịp nhìn lại 40 năm, Giao Điểm xin trích lại chương thứ XVI trong Hồi ký Chính trị Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi  (Văn Nghệ,1993)  của cố thiếu tướng Hoành Linh Đỗ Mậu để bạn đọc, khi nhìn lại bối cảnh chính trị của miền Nam Việt Nam năm 1963, đánh giá đúng thực chất của cấp lãnh đạo nền Đệ nhất Cọng hòa, mà tàn dư của họ đang cố gắng “phục sinh”tại nước ngoài.   

0domau.JPG (29330 bytes) Trong lúc biến cố Phật giáo đang sôi nổi thì trong giới chính trị và tình báo tại Thủ đô Sài Gòn   có hai vấn đề cũng được thảo luận và theo dõi gần như công khai.  Đó là nguồn tin về những vận động của chính quyền Nhu-Diệm nhằm thỏa hiệp với Cộng Sản HàNội và những tin tức về một cuộc đảo chánh có thể xảy ra.

Sài Gòn như lên cơn sốt mùa hè với những tin đồn phóng đại, những giả thuyết đầy mâu thuẩn và những vận động ngầm sôi nổi.  Đề tài về âm mưu thỏa hiệp với Hà Nội là đề tài nóng bỏng nhất vì không những nó liên hệ  đến chế độ Diệm mà còn trực tiếp tạo nhiều hệ quả lớn lao cho vận mệnh của miền Nam tự do.

Sau cách mạng 1-11-1963, các bí mật từ từ lộ ra qua các tài liệu Việt Nam và quốc tế, những nhân chứng trong cuộc cũng từ từ tiết lộ những sự kiện cụ thể  để ta có thể nghiêm túc trình bày lại diển tiến của âm mưu này cũng như ta có thể chín chắn suy ngiệm về biến cố mà hai anh em Nhu-Diệm đang từ theo Mỹ đến chống Mỹ và đang từ chống Cộng đến thỏa hiệp với Cộng.

Âm mưu thỏa hiệp với chính quyền Cộng sản Hà Nội của chế độ Diệm là một trong những động cơ quan trọng, nếu không muốn nói là động cơ thách đố nhất, thúc đẩy quân đội cùng với toàn dân đứng lên làm cuộc cách mạng 1-11-63 để ngăn chận và trừng phạt  dòng họ Ngô Đình.

Chính âm mưu này là nguyên động lực làm cho nhiều tổ chức chống chế độ có thể đoàn kết hợp tác với nhau mà không ngại ngùng và đến khi tiếng súng cách mạng phát khởi thì các đoàn thể quần chúng và nhân dân cả nước cũng đều một lòng yểm trợ cho cuộc cách mạng lật đổ Ngô triều thành công.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến quyết định thay đổi lập trường và chánh sách chống Cộng của anh em ông Ngô đình Diệm nhưng tựu trung có thể gồm lại trong bốn điểm chính : 

+ Thứ nhất là sự chống đối càng ngày càng quuyêt liệt của nhân dân và các lực lượng chính trị đối lập tại miền Nam

+ Thứ hai là áp lực càng ngày càng nặng nề của lực lượng chính trị võ trang của Cộng Sản

+ Thứ ba là sự căng thẳng trong mối bang giao Việt-Mỹ mà những đổ vỡ có thể mang đến các di hại trầm trọng; và

+ Thứ tư, quan trọng nhất, là bản chất thủ đoạn cũng như tính chủ quan của Ngô đình Nhu. 

Nếu chỉ có một, hay hai, hay ngay cả ba nguyên nhân mà thôi thì chưa chắc hai ông Diệm-Nhu đã thỏa hiệp với Cộng Sản, nhưng vì bốn nguyên nhân vừa khách quan vừa chủ quan này đã chậm chạp nhưng chắc chắn cùng phối hợp với nhau nên đã đánh bật lập trường chống Cộng của anh em Ngô Đình dù từ lâu mối thù giết anh ruột đã bắt gốc rễ vào tâm trí họ, và dù sự nghiệp chính trị của họ được xây dựng trên quyết tâm chống Cộng của quân dân miền Nam.

                                                                                    * * *

Thật vậy, cao trào chống đối của quân dân miền Nam trước chính sách độc tài và đàn áp các lực lượng quốc gia của chính  quyền Ngô Đình Diệm càng lúc càng gia tăng với bản cáo trạng lên án  chế độ của nhóm Caravelle, với hoạt động đối kháng của Mặt Trận Đoàn Kết do ông Nguyễn Tường Tam chủ xướng, của đảng Tự Do Dân Chủ do ông Phan Quang Đán thúc đẩy, của Liên Minh Dân Chủ Tự Do do nhóm các ông Phan Bá Cầm, Xuân Tùng, Hoàng Cơ Thụy lãnh đạo,....và hai cuộc binh biến táo bạo cũng như quyết liệt của binh chủng Nhảy Dù và vụ ném bom dinh Độc Lập.  Đó là chưa nói đến những cá nhân hoặc đoàn thể trước kia đã từng cộng tác, ủng hộ và nhiều khi hy sinh cả đời người cho hoạt động chính trị của hai ông Nhu-Diệm thì kể từ năm 1960 trở đi, cũng đã công khai lên án chế độ và bày tỏ thái độ chống đối gia đình họ Ngô.  Và đó chưakể đến sự công phẫn của công chúng mà điển hình là cuộc vận động cách mạng của Phật giáo bắt đầu lan rộng và biến thành những hình thức đề kháng chế độ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.

Những hoạt động chống đối đó đáng lẽ phải được nghiên cứu sâu sắc và truy tầm nguyên nhân để rút ra những bài học tích cực hầu xây dựng dân chủ và sửa sai chế độ thì hai ông Nhu-Diệm lại xem đó như những khiêu khích phản loạn cần phải diệt trừ cho tuyệt hậu họa.  Họ đã xem hành động đối lập của các lực lượng quốc gia như hành động của kẻ thù tối nguy hiểm vì chính đối lập mới thực sự đe dọa đến quyền hành và danh vọng của họ, quyền lợi và mạng sống của họ.   Họ lo lắng suy nghĩ và dành nhiều phương tiện cũng như nhân sự của quốc gia để lo đối phó với thành phần đối lập quốc gia còn hơn đối phó với kẻ thù Cộng Sản.  Nhưng như tôi đã trình bày và lịch sử giai giai đoạn đó đã chứng minh, chế độ càng đàn áp thì sự chống đối càng gia tăng.  Gia tăng trên cả hai mặt mức độ cũng như số lượng đến nổi đã dùng đến cả võ lực (vụ ném bom) vốn là hình thức cao nhất và dứt khoát nhất của mọi cuộc đấu tranh.

Tình trạng lớn mạnh của đối lập đó, trong những năm từ 1960 trở đi, tuy chưa trực tiếp và tức thì đe dọa chế độ nhưng hai ông Nhu-Diệm cũng đã phải nhận rằng nếu tình trạng đó kéo dài thì chính các lực lượng chính trị đối lập đó, chứ không ai khác, trong tương lai sẽ đập tan chế độ và uy quyền của họ.  Nhận định đó, khi biến cố Phật giáo xảy ra vào năm 1963, và nhất là khi những áp lực của người Mỹ trở thành nặng nề hơn, mới trở thành một yếu tố tác động lên quyết định thỏa hiệp với Cộng Sản Hà Nội để hoặc là dùng Cộng Sản như một phụ lực tiêu diệt đối lập, hoặc dùng Cộng Sản như một mối đe dọa để làm chantage lực lượng đối lập.  Kế hoạch hai mặt đó, hai ông Nhu-Diệm nghĩ rằng nếu không làm tê liệt được quyết tâm thì ít nhất cũng tiêu diệt được khả năng chống đối của người quốc gia.

Cho nên chính sự thất bại và bế tắc trong chính sách đàn áp đối lập cuối cùng đã là nguyên nhân sâu sắc nhất nhưng lại ẩn tàng nhất đẩy hai ông Diệm-Nhu vào vòng tay Cộng Sản để mong bảo đảm danh vọng và quyền lợi của họ.

Đó là nguyên nhân thứ nhất.

Nguyên nhân thứ hai là sự trưởng thành của lực lượng chính trị quân sự Cộng Sản, một kẻ thù khác, đang rõ ràng công khai thách thức tư cách chủ nhân miền Nam của chính quyền Ngô Đình Diệm và đánh phá sức mạnh đã bắt đầu lung lay của chế độ.  Sự ra đời của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam bốn năm trước đó, là cao điểm chính trị củaViệt Cộng sau khi đã làm ung thối tình hình thôn quê miền Nam mà những ấp chiến lược, những khu trù mật, những khu dinh điền, những chính sách quân phân ruộng đất, những chiến dịch tố Cộng,....đã tạo ra những phản tác dụng cho Việt Cộng khai thác và bành trướng.

Mặt khác sự ra đời của Mặt Trận cũng chính thức hóa sự lệ thuộc của nó vào hậu phương lớn Bắc Việt trên cả hai mặt chính trị lẫn quân sự cho thấy Mặt Trận chính là một bộ phận của Hà Nội và đánh Mật Trận là trực tiếp đánh Hà Nội.  Trên mặt thuần túy quân sự, sự ra đời của Mặt Trận đã cho phép họ thâu nhận nhiều yểm trợ khí cụ hơn cũng như kết nạp được nhiều nhân sự hơn, ngay tại miền Nam, để thành lập những đơn vị chiến đấu  lớn.  Thất bại nặng nề của sư đoàn 13 tại Tây Ninh cuối năm 1960 đã là dấu hiệu đầu tiên của sự lớn mạnh đó của Mặt Trận.

Hai ông Diệm-Nhu lẽ tất nhiên đã không xem Việt Cộng như những lực lượng phiến loạn địa phương kiểu các giáo phái Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo mà họ đã từng dẹp yên được, lại càng không xem đó như những lực lượng võ trang quốc gia đối lập chiến khu Ba Lòng của Đại Việt hay chiến khu Nam Ngãi của VNQDĐ mà họ đã từng tàn bạo tiêu diệt một cách dễ dàng.  Hai ông Diệm-Nhu đã từng thấy được tính cách trường kỳ dai dẵng của Việt Minh thời chiến tranh Pháp-Việt, cũng như bắt đầu thoáng thấy được sự vô hiệu của những chiến lược chống Cộng của họ từ nhiều năm qua, thì hẳn họ cũng hiểu hơn ai hết là thời gian không đứng về phía họ, nghĩa là trong cuộc chiến này, càng về dài thì địch càng mạnh họ càng yếu.  Cũng như càng về dài thì ngôi vị, danh vọng, quyền lực, và ngay cả mạng sống của họ càng bị đe dọa mà thôi.

Cho nên thay vì nhường quyền lãnh đạo quốc gia cho những lực lượng chống Cộng khác, hoặc cải tổ chính quyền va thay đổi chính sách để đáp ứng hữu hiệu hơn với sự đe dọa, thì hai ông Nhu- Diệm, sau này, khi cùng một lúc bị những áp lực khác đè nặng, đã như con đà điểu chui đầu xuống cát,  tìm cách đầu hàng bằng sự thỏa hiệp với kẻ thù.

Trước khi trình bày nguyên nhân thứ ba, nguyên nhân mà tôi gọi là sự căng thẳng trong mối bang giao Việt-Mỹ vào những năm đầu của thập niên 1960 khiến anh em Diệm-Nhu đã đi đến quyết định thỏa hiệp với Cộng Sản, tôi xin được rất thực tế mà nêu lên một số biến cố lịch sử để, qua đó, cụ thể phân tách một khía cạnh rất đặc thù về chính sách ngoại giao của Mỹ đối với các đồng minh trong sách lược chống Cộng toàn cầu của họ.

Lịch sử bang giao quốc tế từ thời xa xưa lúc các quốc gia  bắt đầu thành hình thành hình cho đến hiện đại, khi mà thế lưỡng cực Tư Bản - Cộng Sản càng lúc càng gay gắt đã cho thấy không thiếu trường hợp một quốc gia này yêu cầu một quốc gia khác đem quân đến giúp đỡ.  Lời “yêu cầu” đó có thể thật hay là giả, chính đáng hay không, hợp với công pháp quốc tế hay không, là tuỳ theo bản chất  của sự liên hệ của hai quốc gia.  Cũng vậy, “giúp” đó là thật hay giả, ngụy trang xâm lăng hay thật sự yểm trợ, là tùy tình trạng của biến cố đó.

Hoa Kỳ không những là một cường quốc, mà còn là một cường quốc lãnh đạo một khối để trực đối với một khối khác, nên lại càng bị lôi cuốn vào những tranh chấp tuy cục bộ nhưng lại ảnh hưởng đến tương quan lực lượng Tư Bản – Cộng Sản.  Do đó mà tuy mới 200 năm lập quốc, Hoa Kỳ  đã nhiều lần phải dính dự  vào các biến cố nội bộ của các quốc gia thân hữu mà Hoa Kỳ xem là đồng minh.   Những dính dự đó hầu hết là yểm trợ.  Và dù những yểm trợ đó có lúc bắt nguồn từ quyền lợi của nước Mỹ, đã có lúc vụng về gây tai hại nhiều hơn là đem đến ích lợi, nhưng nói chung thì những yểm trợ đó phản ảnh đức tính hào hiệp và vị tha của một dân tộc mà tôn giáo đã là một trong những nguyên ủy lập quốc, mà những lý tưởng về Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền đã là những sức mạnh duy trì sự cao cả của dân tộc họ.  Đức tính hào hiệp và những lý tưởng lập quốc đó đã chảy xuyên dòng lịch sử ngoại giao của Hoa Kỳ như một thứ cốt tủy, dù phần thể hiện của nó là các chính sách ngoại giao, có thay đổi theo thời đại hay theo từng nhiệm kỳ của mỗi vị Tổng thống.  Chúng thuộc về căn cước văn hóa của dân tộc Hoa Kỳ.  Hay nói như Coral Bell, một nhà nghiên cứu Úc, thì:

“Đạo đức và tinh thần thượng tôn pháp luật là hai tuyến lõi trung ương của nền ngoại giao Hoa Kỳ kể từ khi quốc gia này ý thức được vai trò cường quốc của mình.”

Thật vậy Hoa Kỳ đã hai lần đưa quân đội vào nước Pháp giúp giải thoát nước này khỏi gót giày xâm lăng của quân phiệt Đức.  Sau thế chiến thứ hai, Hoa Kỳ lại thực hiện kế hoạch viện trợ Marshall để giúp Pháp tái thiết xứ sở và nhất là giúp các lực lượng dân chủ Pháp đánh bại mưu toan cướp chính quyền của đảng Cộng Sản Pháp, lực lượng mạnh nhất lúc bấy giờ, mạnh đến nổi đã đánh bật vị anh hùng cứu quốc De Gaulle ra khỏi chính quyền năm 1946.

Cũng vậy, năm 1950, Hoa Kỳ gởi quân qua Thái Bình Dương giúp Nam Hàn chống lại cuộc xâm lăng của Bắc Hàn và Trung Cộng.  Trong những ngày đầu của trận chiến, tướng MacArthur đã khuyên Tổng thống Lý Thừa Văn bỏ thủ đô Hán thành rút về miền cực Nam để bảo toàn lực lượng mà vị Tổng thống này vị tự ái dân tộc đã không chịu nghe theo.  Đến khi Bắc quân đánh xuống như thế chẻ tre ông mới rút về Phú San, để từ đó cùng với quân lực Mỹ của tướng MacArthur phản công, đuổi quân thù ra khỏi vỹ tuyến thứ 38.  Sau khi hòa bình vãn hồi, nhận rõ áp lực nặng nề vẫn đe dọa đất nước, Tổng thống Lý Thừa Văn đã yêu cầu quân Mỹ ở lại để bảo vệ biên giới phương Bắc, đồng thới thực thi một nền tự do dân chủ có trách nhiệm để tạo những nền móng chính trị cho nền độc lập và cho những phát triển kinh tế lẫy lừng sau này.

Cũng tại Á Châu và gần gủi Việt Nam hơn, Phi Luât Tân đã bị Hoa Kỳ  chiếm đóng trong và sau đại chiến thứ hai.  Nhưng trong khi các nước Á Phi khác phải đổ rất nhiều xương máu và tốn rất nhiều thời gian để dành lại độc lập thì ngược lại Phi Luật Tân đã được Hoa Kỳ hào hiệp trao trả chủ quyền đất nước ngày 4 tháng 7 năm 1946 khác hẳn với chính sách duy trì chế độ thuộc địa của các đế quốc thực dân khác như Bỉ (ở Congo), Pháp (ở Việt Nam, Algérie), Hòa Lan (ở Nam Dương).

Để bảo vệ nền độc lập trong trường hợp bị Trung Cộng xâm lăng và để tỏ thiện chí cho mối giao hảo hầu mở đầu những bang giao kinh tế tốt đẹp sau này.  Phi Luật Tân đã nhượng cho Hoa Kỳ thuê (Cession and Bail) hai căn cứ quân sự lớn là Clark Air Base và Subic Bay mà số ngoại tệ thu nhận được từ hai căn cứ này đã đóng góp rất nhiều vào việc phục hưng nền kinh tế hậu chiến của Phi Luật Tân.  Trong suốt các thập niên 1950 và 60, Hoa Kỳ đã giúp Phi Luật Tân tối đa trên cả hai kinh tế lẫn chính trị để trở thành một trung tâm vận động của vùng Đông Nam Á mà điển hình là các định chế kinh tế, quân sự liên vùng như ADB Asia Development Bank (Ngân Hàng Phát Triển Á Châu), SEATO Southeast AsiaTreaty Organization (Tổ chức Minh Ước Liên Phòng Đông Nam Á) đều đặt trụ sở hoặc bộ chỉ huy trung ương tại Manila.

Một trường hợp đặc biệt khác mà tôi muốn đề cập ở đây như một bài học lịch sử là trường hợp của Nhật Bản.  Trong đệ nhị thế chiến, Hoa Kỳ đã từng tiến đánh và nhiều khi chiếm đóng các đảo của Nhật tại Thái Bình Dương để trừng phạt quốc gia này đã tấn công Trân Châu Cảng và hợp tác với Đức Quốc Xã của Hitler.

Sau sự tàn phá khủng khiếp của hai quả bom nguyên tử tại Hiroshima và Nagasaki, ngày 2 tháng 9 năm 1945, trên soái hạm Missouri, đại diện Nhật hoàng ký văn kiện đầu hàng vô điều kiện trước mặt vị Tổng Tư Lịnh Tối Cao của Quân Đội Đồng Minh tại mặt trận Thái Bình Dương là tướng MacArthur.  Những Đô Đốc, Tướng lãnh, Sĩ quan thường rất kiêu hãnh của quân đội Thiên Hoàng đã để những giọt nước mắt từ từ rơi xuống ngay trước mặt quân thù.  Đó là những giọt lệ chân thành và chua xót nhất của kẻ chiến bại mà đã một thời từng đánh tan hạm đội Nga Hoàng, từng tốc chiến tốc thắng tại Lư Câu Kiều (Trung Hoa), từng tung hoành oanh liệt khắp vùng Đông Nam Á làm bàng hoàng cả thế giới.

Trước đó ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật Hoàng Hiro Hito đã ra lệnh chấm dứt cuộc chiến.  Tại các mặt trận, quân đội Thiên Hoàng phải hạ súng, rất nhiều sĩ quan Nhật đã dùng gươm tự sát theo truyền thống của một võ sĩ đạo để đền nợ nước, trả ơn vua, và bảo vệ danh dự cùng khí phách của một quân nhân.  Lá cờ “mặt trời mọc” từ nay vắng bóng trên bốn bể năm châu, chỉ còn trên mấy hòn đảo xứ Phù Tang nghèo nàn đổ nát.

Trước nổi đau khổ nhục nhả vô cùng tận của quân dân, Nhật Hoàng đã thống thiết kêu gọi dân chúng Nhật....Hãy chịu đựng cái không chịu đựng nổi và hãy đau khổ cái không đau khổ nổi, và hãy hướng tương lai.  Sau đó Nhật Hoàng cắt một phần đất của Hoàng thành, nơi mà Hoàng gia trải qua bao đời yêu quí gìn giữ, để tặng lại cho dân chúng như một hành động tạ tội tượng trưng với đồng bào.

Đối với quân đội chiếm đóng Mỹ, toàn thể dân Nhật đều cố nén uất hận và che dấu căm hờn mà tự nhiên đối xử lễ độ.  Hể gặp một Mỹ kiều, dù là thuộc thành phần quân nhân hay dân sự, họ đều nghiêng mình cúi đầu xuống, chắp tay vái chào theo tục lệ của dân tộc Nhật.  Họ không để lộ thái độ thù hận, chống đối quá khích.   Khi bị áp lực của Mỹ phải ký Hòa Ước An Ninh Hổ Tương San Francisco (1951) mà trong đó có điểu khoản bắt Nhật không được tái võ trang quá giới hạn phòng vệ,  chính giới Nhật Bản vẫn cam chịu  để đổ dồn hết ngân sách vào sức mạnh kinh tế.  Thái độ ẩn nhẩn có vẽ khiếp nhược đó, một phần do lời kêu gọi “tôn trọng kỷ luật đối với kẻ chiến thắng” của nhà vua, một phần là do tính tình khôn ngoan, cẩn trọng, thức thời, và ý thức chính trị sáng suốt của con cháu Thái Dương Thần Nữ.   Họ dìu dắt nhau trong ý thức “thất bại là mẹ thành công” để xây dựng lại quê hương.   Chính nhờ triệt để thể hiện cái ý thức khôn ngoan đó mà người Nhật sớm thu lượm được những kết quả đầu tiên vô cùng to lớn mà ngay cả họ cũng không ngờ tới.

Bài học lịch sử của dân tộc Nhật là gì nếu không phải là bài học về sự vận dụng sức mạnh của địch cho sự cường thịnh của chính mình.  Và đàng sau bài học đó là một bài học rất lớn khác cho chúng ta về lòng yêu nước bằng một quan điểm sáng suốt và bằng một tinh thần thực tiển, chứ không phải chỉ bằng những xúc động mù quáng của một thứ tự ái dân tộc nhiều lúc rất phản quốc.

Trường hợp của Nhật Bản cũng như trường của Cộng Hòa Liên Bang Đức,  một kẻ cựu thù trong Đệ Nhị Thế Chiến, Hoa Kỳ đã biết mau chóng biến thù thành bạn để cùng xây dựng một khối NATO hùng mạnh hầu ngăn chặn sự bành trướng của Nga Sô.   Các nhà lãnh đạo Đức, dù bảo thủ như Adenauer hay chủ xướng Ostpolitik như Willy Brandt, đều biết vận dụng yểm trợ  của đồng minh lớn Hoa Kỳ để hùng cường hóa đất nước.  Và dù quân đội Mỹ có đóng trên đất Đức, dù hỏa tiển Pershing II  có đặt trên lãnh thổ Đức, không ai có thể nói rằng  Đức không có chủ quyền, không có độc lập.

Thật trái hẳn với đất nước ta đã không vận dụng được sức mạnh đó để cứu nước chứ đừng nói đến dựng nước, mà lại còn mất chủ quyền, mất độc lập nữa!  Từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa ông Diệm đã không làm nổi một Nhật Hoàng Hiro Hito, một De Gaulle, một Lý Thừa Văn thì làm sao trách được sau này Nguyễn Văn Thiệu không biến miền Nam thành một chư hầu trong quỹ đạo Hoa Kỳ.

Nêu lên một số sự kiện lịch sử trên đây từ Âu sang Á, từ bạn đến thù, tôi chỉ muốn nói rằng sau Thế Chiến thứ Hai, trước chiến lược bành trướng của Cộng Sản quốc tế, chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ dù là Confrontation, Containment, hay Rollover (chử của tạp chí Foreign Affairs) thì cũng đều nhằm đem sức mạnh nhân sự, sức mạnh tài lực, sức mạnh kỷ thuật của mình ra mà cứu bạn và xây dựng cho bạn thì mới cứu được mình và mới xây dựng được mình.

Chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ đối với Việt Nam từ sau Đệ Nhị Thế Chiến cũng không nằm ngoài quy luật đó.

Ngay sau Thế Chiến thứ Hai, Tổng thống Franklin Roosevelt đã chủ trương yểm trợ cho các phong trào “giải phóng dân tộc” của các quốc gia thuộc địa trong khuôn khổ của phong trào giải thực toàn cầu mà Việt Nam là một thí điểm kiểu mẫu.

Ngay trong thời kỳ Nhật chiếm đóng Đông Dương, ngày 22 tháng 8 năm 1945, một phái đoàn Mỹ gồm năm sĩ quan do thiếu tá Archimede L. Patti cầm đầu đã nhảy xuống vùng thượng du Bắc Việt giúp ông Hồ Chí Minh kháng Nhật, và chính phái đoàn Mỹ này đã về Hà Nội dự lễ Độc Lập đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.  Nhưng khi ông Hồ Chí Minh và Việt Minh bắt đầu quá phụ thuộc vào Cộng Sản Quốc tế thì phái đoàn Patti được lịnh chấm dứt mọi liên hệ để hồi hương.  Ngày 29 tháng 12 năm 1947, cựu Đại Sứ Hoa Kỳ William Bullit viết trên tờ Life Magazine một bài báo gọi trận chiến tranh Đông Dương là “trận chiến tranh buồn thảm nhất” (the sađdest war), ông kêu gọi Pháp phải trả độc lập hoàn toàn  cho Việt Nam dù là một Việt Nam do đảng Cộng Sản Đông Dương lãnh đạo.

Lời kêu gọi của William Bullit phát xuất từ tâm thức “giải phóng dân tộc” bắt nguồn từ chính cuộc cách mạng lập quốc 1776 giải phóng ách đô hộ của đế quốc Anh đã đánh động được dư luận Hoa Kỳ, vì vậy khi Điên Biên Phủ lâm nguy (tháng 5 năm 1954) và khi chính phủ Pháp yêu cầu Hoa Kỳ yểm trợ bằng lực lượng không quân thì Tổng thống Eisenhower và Ngoại trưởng Foster Dulles từ chối.  Quan điểm của Ngoại trưởng Dulles lúc bấy giờ là nếu Pháp muốn Hoa Kỳ cứu viện thì phải chịu hai điều kiện: một là phải trả độc lập hoàn toàn cho thành phần quốc gia Việt Nam không Cộng Sản, và hai là Mỹ phải dành lấy trách nhiệm lãnh đạo cuộc chiến tranh Đông Dương.  Tuy nhiên, phần thì chính phủ Anh không chấp thuận việc đồng minh tham chiến tại Đông Dương, phần khác vì cả Pháp lẫn khối Cộng Sản đều muốn giải quyết mau chóng vấn đề Việt Nam nên chủ trương của Ngoại trưởng Dulles đã không thực hiện được.

Qui ước của Hội nghị Genève 1954 đã tạm thời chia đôi đất nước tại vĩ tuyến 17.   Phản ảnh đúng đắn đường lối ngoại giao của mình, Hoa Kỳ can thiệp mạnh mẽ về vấn đề Đông Dương mà cụ thể là giúp ông Diệm về nước để xây dựng một tiền đồn chống Cộng tại Đông Nam Á.  Vì tiền đồn đó muốn đóng vai trò chống Cộng hữu hiệu thì phải thật sự tự do, dân chủ trên mặt chính trị, và phải thực sự hùng mạnh trên mặt kinh tế và quân sự nên Hoa Kỳ đã không ngại ngùng dùng mọi kế sách và phương tiện để ủng hộ cho miền Nam, kể cả việc không tôn trọng hai điều khoản quan trọng của Hội nghị Genève về vấn đề Tổng Tuyển Cử (năm 1956) và về vấn đề quân đội ngoại nhập.  Quân viện và kinh viện Hoa Kỳ đổ vào miền Nam như thác đổ, chuyên viên và phương tiện Hoa Kỳ như một kho tàng bất tận cho nhà cầm quyền miền Nam xử dụng, tiếc thay anh em ông Diệm đã không biết vận dụng sức mạnh đó để bổ túc cho sức mạnh cốt lõi của dân tộc hầu chống Cộng cứu nước và phát triển quốc gia.  Đã thế, khi không chống nổi Cộng Sản và trước những áp lực chính đáng của Hoa Kỳ đòi cải tiến chế độ, họ lại phản bội cả dân tộc lẫn đồng minh để thỏa hiệp với chính kẻ thù Cộng Sản.  Năm 1963 Ngô đình Nhu đã tuyên bố  rất rõ ràng:

“Tôi chống Cộng trên quan điểm ý thức hệ, tôi không phải là người chống Cộng trên quan điểm chính trị hay nhân bản.  Tôi xem những người Cộng Sản như anh em, như những con chiên lạc đàn.  Tôi không theo đuổi một cuộc thánh chiến chống lại Cộng Sản vì nước tôi chỉ là một nước nhỏ bé.  Chúng tôi chỉ muốn sống trong hòa bình”.

Ở đây tôi không bàn đến sự nông cạn trí thức của Nhu về ý thức hệ  Cộng Sản khi tách phạm trù chính trị và nhân bản ra khỏi ý thức hệ này;  tôi cũng không cần bàn đến sự ngây thơ  chính trị rất chủ quan của Nhu khi cho rằng vì là một nước nhỏ bé nên không chống Cộng, và tôi cũng chưa nhắc lại tại sao năm 1955 anh em ông Diệm không chịu thực hiện một quy chế  Trung lập Hòa bình cho miền Nam mà nay lại muốn thỏa hiệp với Cộng Sản để được hòa bình, mà tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến lập trường của Nhu, người lãnh tụ chính trị thực sự của miền Nam tự do, qua chính lược không chống Cộng Sản nữa vì họ là người “anh em”.  

Trước khi đi sâu vào sự thay đổi đột ngột về lập trường của Nhu và sau khi đã nhìn một cách tổng lược và khái quát về chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ đối với các quốc gia thân hữu hoặc đồng minh, đặc biệt là Việt Nam, tôi xin trở lại với nguyên nhân thứ ba là sự căng thẳng trong mối bang giao ruột thịt giữa chính quyền Mỹ và chế độ Ngô đình Diệm.

Để hiểu thêm bản chất và cường độ thực sự của tình trạng căng thẳng này, tôi xin được trình bày một số sự kiện liên hệ đến chính sách của các chính quyền Mỹ đối với chế độ Ngô đình Diệm, một chính sách đặt nặng tính khuyến cáo xây dựng để chính phủ Diệm sửa sai hầu phát huy chính nghĩa chống Cộng hơn là áp lực độc đoán để tước đoạt chủ quyền của miền Nam:

- Thứ nhất, ngay từ năm 1957, vị Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam là ông Ellridge Durbow đã thấy ông Diệm tiến hành một chính sách độc tài trong việc quản trị miền Nam cũng như hành xử một quan liêu phong kiến, khiến cho nhân dân bất mản và làm đình trệ các chương trình phát triển kinh tế, xã hội.  Ông Durbow cũng đã thấy được thái độ lộng quyền thất nhân tâm và phản tuyên truyền của bà Nhu, nên đã khuyến cáo ông Diệm nhiều lần.   Đặc biệt ông đề nghị giảm bớt các hình thức làm dân bất mản và tạo cơ hội cho địch tuyên truyền như giảm thiểu đoàn xe hộ tống đông đảo ồn ào, như đừng bắt dân bỏ công ăn việc làm cả ngày để chờ chực đón chào Tổng thống, như không nên ngồi chễm chệ trên ghế bành đặt trên thuyền để sĩ quan lội nước đẩy thuyền.  Ông cũng khuyên nên để bà Nhu ra nước ngoài một thời gian hầu xoa dịu lòng căm phẩn của dân chúng.

Nhưng những lời khuyến cáo của Đại sứ  Durbơw đã không có hiệu quả nào vì lúc bấy giờ Hoa Thịnh Đốn vẫn còn tin tưỡng vào “uy tín và tài năng” của ông Diệm nên không muốn tạo ra những mâu thuẩn cá nhân giữa hai người, làm phương hại đến mối giao hảo tốt đẹp giửa hai quốc gia.  Đã thế, ông Diệm lại bày tỏ sự bất mản đối với Hoa Thịnh Đốn về thái độ của Đại Sứ Durbow mà ông cho là “hay sinh sự” để bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ làm áp lực ngược lại ông Durbow.

Quan hệ giữa ông Diệm và Đại Sứ Durbow càng lúc càng trở nên căng thẳng và lên đến cao điểm sau biến cố  ngày 11- 11- 1960, biến cố mà vì những hằn học cá nhân ông Nhu cứ nhất định cho là do Mỹ chủ xướng và Đại Sứ Durbow là người đóng vai trò quan trọng.  Dù lúc bấy giờ Hoa Thịnh Đốn đã thấy sự suy sụp của chế độ  mà Đại Sứ Durbow từng báo trước từ lâu, nhưng vì muốn duy trì sự liên hệ ruột thịt giữa chế độ Diệm và Hoa Kỳ cũng như vì muốn làm hài lòng ông Nhu,  Tổng thống Kennedy đã kéo Đại Sứ Durbow về nước và cử Đại Sứ Nolting qua Sài Gòn thay thế, dù ông này không có nhiều hiểu biết hoặc kinh nghiệm về Việt Nam cũng như về Đông Nam Á.

Đại Sứ Nolting là một nhà trí thức hòa nhã, một nhà ngoại giao tế nhị mà bộ Ngoại Giao đã chỉ thị nên dùng những thái độ mềm mõng trong khi khuyến cáo  chính phủ Diệm để khỏi chạm tự ái những nhà lãnh đạo miền Nam.  Ông Nolting đã thi hành quá chỉ thị của thượng cấp đến độ tại Hoa Thịnh Đốn người ta có cảm tưởng ông ta bị lôi cuốn bởi bà Nhu để trở thành một vị Đại sứ của ông Diệm bên cạnh người Mỹ hơn là một vị Đại sứ của Mỹ tại Sài Gòn (3).  Cảm tưởng đó hẳn không sai lầm vì ông Nhu đã thành công trong việc điều động viên Đại sứ dễ vận động này và đã có lần khen ông Nolting là vị Đại sứ thông minh nhất của Hoa Kỳ tại miền Nam từ trước đến nay.

Mãi cho đến tháng 3 năm 1963, khi cờ gần tàn cuộc, ông Nolting mới bắt đầu “thức tỉnh” và làm cho một đồng nghiệp của ông, Đại sứ Pháp Roger   Lalouette, phải chế diểu:”Đại sứ Mỹ Nolting quả thật đang kẹt lắm.  Nào là những hiểu lầm giữa ông ta và Bộ Ngoại giao Mỹ, giữa ông ta và các phụ tá, giữa ông ta và các tướng lãnh Mỹ.   Ông Nolting lại đang kẹt với báo chí Mỹ, với gia đình và chính phủ Diệm, với tất cả nhà ngoại giao khác tại Sài Gòn.  Tất cả những điều kẹt đó chứng tỏ ông Nolting bắt đầu chớm hiểu.” (4)

Sự kiện thay thế Durbow bằng Nolting này biểu hiệu một cách rất rõ ràng rằng Hoa Kỳ sẵn sàng nhượng bộ và làm thỏa mản anh em ông Diệm dù sự nhượng bộ đó, về dài, có làm suy yếu chính sách ngoại giao của họ tại miền Nam nói riêng và sách lược chống Cộng tại Đông Nam Á nói chung.  Ta có thể phê phán người Mỹ thiếu cứng rắn, kém tâm lý, hoặc ta có thể phê phán họ ngây thơ, nhưng có một điều chắc chắn mà ta phải công nhận là họ đã nhượng bộ để làm hài lòng hai ông Diệm-Nhu khi quyết định việc thay đổi nhân sự này.

- Thứ hai là sự kiện người Mỹ đã tìm mọi cách để nâng uy tín ông Diệm lên cao, một uy tín đang bị sụp đổ và đang cần phải xây dựng lại gấp hầu duy trì khả năng chống Cộng của chính quyền miền Nam.

Thật vậy, vừa làm lễ nhậm chức cuối tháng Giêng năm 1961 thì ngày 15 tháng 5 Tổng thống Kennedy đã gởi Phó Tổng thống của mình qua miền Nam để thẩm định lại tình hình tại chổ, một tình hình không mấy lạc quan vì sự gia tăng hoạt động của Việt Cộng và những báo cáo bi quan về các thất bại chính trị của chính quyền miền Nam.  Đồng thời Tổng thống Kennedy cũng nhờ ông Johnson trao lại một lá thư riêng cho ông Diệm tái xác định quyết tâm của Hoa Kỳ tiếp tục ủng hộ ông Diệm và yểm trợ nhân dân miền Nam chống Cộng...Lá thư nói rõ rằng Hoa Kỳ chỉ giúp phương tiện và ngân phí mà thôi, còn việc chiến đấu bảo vệ quê hương là do chính nhân dân miền Nam nhận lấy trách nhiệm.

Trong chuyến viếng thăm này, để làm hài lòng bản chất tự tôn và tính kiêu hãnh của vị lãnh đạo miền Nam, ông Jonhson khi đến Sài Gòn đã không ngại ngùng công khai khen ngợi “Tổng thống Diệm là Churchill của thập niên này”.  Nếu ta so sánh cuộc đời cũng như sự nghiệp chính trị của Thủ tướng Churchill và ông Diệm thì ta sẽ thấy lời đề cao quá lố này chỉ là một lời tuyên bố thuần túy thuộc ngôn ngữ ngoại giao rất cần thiết nhằm gây lại uy tín cho  ông Diệm vốn đã suy sụp quá nhiều, và đồng thời vừa để chứng tỏ cho Cộng Sản cũng như nhân dân miền Nam biết rằng Hoa Kỳ vẫn cương quyết ủng hộ chế độ Ngô Đình Diệm dù những sai lầm và thất bại của chế độ đó.

Lời tuyên bố đó cần thiết đến độ Johnson phải dùng một sự so sánh không những sai lầm trên mặt lịch sử mà còn hoàn toàn ngược hẳn với sự đánh giá thầm kín của chính ông ta.  Thật vậy, cũng như trong chuyến viếng thăm này, khi ngồi trên phi cơ bay thị sát các quân khu và bị ký giả Mỹ chất vấn về lời tuyên bố đó, Phó Tổng thống Johnson đã trả lời:” Xì! Diệm là đứa duy nhất mà ta có ở đây.” (“Shit! Diem’s the only boy we’ve got out there.”) (5)

Loại ngôn ngữ ngoại giao đầy thủ đoạn chính trị đó, sau này, cũng đã được Nixon dùng khen Thiệu là “một trong bốn lãnh tụ tài ba nhất thế giới” tại vườn hoa tòa Bạch Ốc vào năm 1973.  Nhưng điểm đặc biệt đáng chú ý là Nixon khen Thiệu để khuyến khích thi hành hiệp định Paris cho Mỹ có thể giải kết khỏi miền Nam trong “danh dự”. và Thiệu biết lời khen đó là giả dối, còn Johnson khen ông Diệm là để  mong tạo uy tín thêm cho ông Diệm hầu cuộc chiến chống Cộng có thể thành công, trong lúc trong thâm tâm thì lại nghĩ khác, nhưng ông Diệm lại không biết điều đó.  Vì không biết,  nghĩa là không phát hiện ra sự giả dối và không thấy uy tín mình đang bị mất nên ông Diệm mới dại dột tuyên bố trong một bài diễn văn đáp từ Johnson rằng :Biên Giới của Thế Giới Tự Do chạy dài từ Alaska đến sông Bến Hải, tạo cơ hội cho đài phát thanh Hà Nội lợi dụng tuyên truyền về bản chất tay sai của chính quyền miền Nam trong quan hệ Mỹ-Diệm, và đã đập tan cái luận cứ độc lập và dân tộc chống Cộng của chính nghĩa miền Nam trong nhân dân.

Nhưng dù lời tuyên bố của ông Johnson có giả dối thì rõ ràng nó cũng phát xuất từ chính sách của Mỹ muốn cho ông Diệm mạnh thêm và muốn cho miền Nam vững thêm.  Một lần nữa ta có thể phê phán ông Johnson theo chiều hướng nào cũng được, nhưng chắc chắn là lời tuyên bố đó phản ảnh chính sách thân thiện và ủng hộ người Mỹ lúc bấy giờ.

- Sự kiện thứ ba là mặc dầu uy tín và sức mạnh chính trị bắt đầu bị tổn thương sau vụ thất bại tại “Vịnh Con Heo” ở Cuba vào tháng 4, nhưng Tổng thống Kennedy cũng đã theo lời yêu cầu của ông Diệm, tiến hành quyết định tăng cường số quân nhân tham chiến (ngụy trang dưới hình thức cố vấn quân sự và chuyên viên cứu trợ nạn lụt) tại miền Nam Việt Nam sau chuyến điều nghiên của Tướng Maxwell Taylor và Cố Vấn Walt Rostơw vào tháng 10 năm 1961.  Chiến dịch này đã được chính quyền Mỹ đồng thuận thi hành một cách tích cực mà sự ra đời của Bộ Chỉ Huy Yểm Trợ Quân Sự Mỹ (American Military Assistance Command) vào ngày 6 tháng 2 năm 1962 đã cho phép ông Diệm nhận thêm từ 700 cố vấn lên đến 12,000 cố vấn vào giữa năm 1962.  Nghĩa là gia tăng 1,700 phần trăm trong vòng 8 tháng! Sự gia tăng đó mạnh mẽ cả về mặt ý chí lẫn sức mạnh đến nổi trưởng Phái đoàn Ba Lan trong Ủy Hội Quốc Tế  Kiểm Soát Đình Chiến khi tới Bắc Kinh cũng đã nhận thấy “cấp lãnh đạo Trung Cộng rất lo lắng về sự can thiệp càng lúc càng gia tăng của người Mỹ tại Việt Nam”. (6)

Tất cả chiến dịch đó đã được chính quyền Mỹ khôn khéo trốn tránh chính Quốc Hội và báo chí Hoa Kỳ  (vốn đang bắt đầu có khuynh hướng chống việc gởi quân nhân Mỹ tham chiến tại ngoại quốc sau vụ thất bại tại Cuba) để mạo hiểm một mặt thỏa mản lời yêu cầu  của chính phủ Diệm và mặt khác để bảo đảm sự thành công của cuộc chiến chống Cộng tại miền Nam.

Thật vậy, mặc dù trong cuộc thảo luận  với Phó Tổng thống Johnson trước đó năm tháng ông Diệm đã không muốn đem quân  chiến đấu Mỹ vào miền Nam, nhưng khốn nổi vào tháng 10, khi tướng Taylor đang trên đường đến Sài Gòn thì Việt Cộng phát động các đợt tấn công dữ dội vào tỉnh lỵ Phước Thành, đốt phá các cơ sở, giết hại cả Tỉnh trưởng lẫn Phó Tỉnh trưởng và rất nhiều binh sĩ, cán bộ, công chức; đồng thời Việt Cộng lại tấn công nhiều quận lỵ của tỉnh Darlac và tung ra nhiều đơn vị lớn đánh phá khắp miền Nam, công hãm các đồn bót chiến lược dọc theo quốc lộ số 4 và gây thiệt hại nặng nề cho lực lượng VNCH.  Tình hình an ninh suy sụp đó khiến cho ông Diệm sợ hãi một cuộc tổng nổi dậy của Việt Cộng nên ông bèn đưa ra lời tuyên bố  chính thức rằng chiến tranh thật sự đã xảy ra tại miền Nam.

Vì không còn giữ ý định chống lại việc quân đội Mỹ tham chiến tại miền Nam nữa nên ông Diệm đã yêu cầu Mỹ đem số  “quân chiến đấu tượng trưng” vào miền Nam và lớn tiếng kêu gọi Hoa Kỳ cùng với Việt Nam Cộng Hòa ký một hiệp ước phòng thủ song phương (7).  Trước lời kêu gọi đó của ông Diệm, và trước tình hình an ninh suy thoái một cách trầm trọng của miền Nam, Bộ Tổng Tham Mưu Hoa Kỳ cũng khuyến cáo Tổng thống Mỹ nên gởi quân qua Việt Nam tham chiến.  Ý kiến này được Thứ trưởng Quốc phòng William P. Bundy ủng hộ mạnh mẽ vì theo ông Bundy, sách lược “tốc chiến, tốc thắng” có thể giúp ông Diệm nhiều may mắn hơn và có thể lật ngược thế cờ.   Nhưng vì việc quân đội Mỹ công khai tham chiến tại Việt Nam có thể gây nhiều phức tạp trong nội bộ chính trị Hoa Kỳ cũng như có thể gây các phản ứng quốc tế nguy hiểm nên tòa Bạch Ốc bề ngoài đã phải giảm thiểu những thúc dục ồn ào tại Sài Gòn lẫn Hoa Thịnh Đốn, bằng cách giả vờ lộ một số tin tức  cho nhật báo New York Times, tiết lộ rằng, “các cấp lãnh đạo ở Ngũ Giác Đài cũng như Đại tướng Taylor đều tỏ ra miễn cưỡng về việc gởi các đơn vị chiến đấu Mỹ sang Đông Nam Á”.  Bài báo này đã chận đứng được những tuyên bố  quá lộ liễu của ông Diệm.

Những sự kiện trên đây cho thấy mới giữa năm 1961 mà tình hình chiến sự tại miền Nam đã đến độ nguy ngập như tôi đã trình bày trong một chương trước. Sự kiện trên đây cũng cho thấy ông Diệm đã hoãng sợ, phải yêu cầu Mỹ tăng viện, kể cả việc đem quân chiến đấu ngoại quốc vào miền Nam (sự thực lịch sử này đã bị nhóm Công Giáo Cần Lao  bóp méo với luận điệu cho rằng ông Diệm bị Mỹ giết vì không chịu cho quân đội ngoại quốc đóng trên đất nước mình).  Sự thực rõ ràng là chẵng những ông Diệm đòi quân Mỹ, mà con nhờ Mỹ vận động với Trung Hoa Dân Quốc gởi một sư đoàn qua Việt Nam tham chiến.  Tài liệu mật của Ngũ Giác Đài dưới đây tiết lộ một bản mật điện của tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn gởi về Hoa Thịnh Đốn trình bày về cuộc thương thảo giữa Đại Sứ Nolting và ông Nguyễn Đình Thuần, Bộ Trưởng bộ Quốc Phòng kiêm Bộ Trưởng Phủ Tống Thống, cho thấy những bí ẩn đó:

#25 Những Đòi Hỏi Vào Năm 1961 Của Nam Việt Nam Về Những Đơn Vị Tác Chiến  Hoa Kỳ.

Điện văn từ tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn gởi bộ Ngoại Giao  /13-l0-l963/   Về những đòi hỏi của Nguyễn Đình Thuần, Bộ Trưởng bộ Quốc Phòng của Nam Việt Nam / Bản sao gởi Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Thái Bình Dương và tòa Đại Sứ Mỹ tại Bankok Thailand  và Taipei Taiwan. /

Trong buổi họp 13-l0 Thuần đã đưa ra những đòi hỏi sau đây:

1. Thêm phi đoàn AD- 6 thay vì phi đoàn T- 28 như đã dự định và gởi qua càng sớm càng tốt.

2. Yêu cầu cung cấp phi công dân sự Mỹ để lái máy bay trực thăng và phi cơ C-47 để bay những phi vụ tác chiến.

3. Nhiều đơn vị tác chiến Hoa Kỳ, hoặc những đơn vị gọi là “huấn luyện tác chiến” vào Nam Việt Nam.  Một phần để đóng ở phía Bắc gần vỹ tuyến 17 để thay các lực lượng  QĐVNCH ở đó phải đi chống du kích ở vùng cao nguyên. Và cũng để đóng ở nhiều tỉnh của vùng Cao Nguyên Trung Việt.

4. Phản ứng của Hoa Kỳ về dự định của Việt Nam yêu cầu Trung Hoa Quốc Gia gởi một sư đoàn tác chiến  cho mặt trận Tây Nam.

Thuần nhắc đến những tập nhật ký lấy được từ những sĩ quan Việt Minh  bị giết ở miền Trung trong đó có những tin tức về những dự án và kỹ thuật của Việt Minh.  Những tài liệu này đang được phân tích, dịch ra và được chuyển về (Hoa Kỳ).   Thuần nói: ông Diệm, vì thấy hiện tình của Lào, sự xâm nhập (của Việt Minh) vào Nam Việt Nam và việc Tổng thống JFK  gởi Taylor (qua Việt Nam), đã yêu cầu Hoa Kỳ xét gấp những đòi hỏi của Nam Việt Nam.

Về việc đòi hỏi gởi những đơn vị huấn luyện tác chiến Mỹ, Nolting hỏi xem Diệm có xét kỷ vấn đề chưa vì đã có nhiều vấn đề chống đối liên tiếp đòi hỏi này.  Thuần xác nhận rằng có, và Diệm đã đổi ý kiến (muốn Hoa Kỳ gởi quân qua Việt Nam) vì tình hình càng ngày càng tệ hại hơn.  Thuần muốn Hoa Kỳ biểu dương lực lượng gần vĩ tuyến 17 để ngăn ngừa Cộng Sản tấn công, và để thay thế lực lượng VNCH ở đó.  Cũng cần những đơn vị Hoa Kỳ đóng ở những  tỉnh cao nguyên, cho cùng một mục đích: thay thế cho quân lực VNCH ở đó.

Noltting nói (tại sao lại có) những đòi hỏi này ngay sau khi Diệm yêu cầu có một thỏa ước của cả hai phe, như vậy có phải Diệm muốn thay thế thỏa ước bằng những đòi hỏi trên hay không?  Thuần trả lời những đòi hỏi trên (giải quyết vấn đề) nhanh hơn thỏa ước.   Rằng việc gởi quân qua Việt Nam sẽ thỏa mãn Nam Việt Nam và thích ứng hơn một thỏa ước.  (Về việc thỏa ước này, rõ ràng  Thuần chưa suy nghĩ kỹ, cũng như chưa bàn với Diệm).

Bàn về Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến, Nolting nói rằng Nam Việt Nam trước đây đã coi trọng sự hiện diện của UHQTKSDC.  Thuần đồng ý nhưng nghĩ rằng những đòi hỏi trên không vi phạm vì những đơn vị Hoa Kỳ gởi sang để canh phòng chứ không phải để tác chiến, ngoại trừ  khi bị tấn công.  Cho nên có thể dùng những đơn vị này mà vẫn giữ được UHQT KSĐC ở Việt Nam.  Nolting nói rằng ông nghi ngờ điều này nhưng có thể thử xem.  (McGarr và tôi lưu ý hai điểm: về những đơn vị dự định cho mục đích huấn luyện chỉ là một sự giả mạo – một cái cớ – chứ không phải là mục dich thật.  Nếu có gởi những đơn vị Hoa Kỳ thì các đơn vị đó phải đủ mạnh vì chắc chắn Việt Cộng sẽ tấn công).

Về lực lượng Trung Hoa, Thuần nói rằng Tưởng Giới Thạch đã có dấu hiệu muốn giúp đỡ (tôi thấy điều này không chắc)  Thuần nói chính phủ Việt Nam không muốn quyết định về việc này nếu không có phản ứng từ Hoa Kỳ.  Ý định là phải dùng khoãng 10 ngàn quân (Trung Hoa) ở phía Tây Nam càng xa vĩ tuyến 17 càng tốt.  Thuần nghĩ rằng có lẽ nên đưa quân Trung Hoa vào một cách bí mật, nhưng thấy không đươc sau khi phân tách lại vấn đề.  Nolting nói: ông nghĩ rằng Trung Hoa chắc muốn một quyền lợi nào đó trong việc này, có thể là phương diện chính trị (giảm bớt áp lực chính trị) nếu gởi quân vào Á Châu lục địa.  (Nolting nghỉ là chỉ để thử mà thôi).

 Vấn đề chắc chắn sẽ đặt lại với Taylor.  Rõ ràng chính phủ Nam Việt Nam không thể để mất cơ hội đòi hỏi viện trợ nhiều hơn vì sự chú ý và lo lắng của chúng ta đã gia tăng.   Nhưng tình hình quân sự và tâmlý đã đi đến hồi mà vấn đề phải được xem xét một cách nghiêm chỉnh và nhanh chóng. (8)

Sau hai tuần lễ quan sát tại chổ và thảo luận với các nhà chức trách Việt Nam Cộng Hòa, tướng Taylor đưa ra đề nghị: tăng quân số các cố vấn quân sự Mỹ, tăng cường chuyên viên về máy móc, gia tăng các dụng cụ tối tân cho mọi ngành thuộc quân binh chủng VNCH, đặc biệt là tối tân hóa nghành truyền tin, gởi gấp qua miền Nam trực thăng chiến đấu, thiết vận xa M- 113 để tạo lưu động tính cho các đơn vị chiến đấu miền Nam, thay thế phi cơ T- 28 bằng phi cơ AD- 6 và nhiều vũ khí, dụng cụ tối tân khác.... Đồng thời với đề nghị trên đây, tướng Taylor cũng “lưu ý riêng” Tổng thống Kennedy là nên gởi qua miền Nam 8000 quân chiến đấu Mỹ, ngụy trang thành những đội chuyên viên giúp miền Nam đối phó với trận lụt đang đe dọa vùng châu Thổ sông Cửu Long.  Những sắp đặt trên đây, theo quan niệm của tướng Taylor, là một sự tham dự giới hạn của Mỹ vào chiến tranh Việt Nam theo tinh thần “limited partnership”, nghĩa là những “cố vấn quân sự Mỹ tiến đến gần hơn (nhưng chưa hẳn là) một bộ chỉ huy hành quân trên một chiến trường”. (9)

Tài liệu mật của Ngũ Giác Đài trên đây và sự gia tăng nhảy vọt của số lượng   cố vấn” Mỹ tại chiến trường Việt Nam sau đó, không những đã cải chính sự huênh hoang tội nghiệp của những phần tử Cần Lao Công Giáo đang có bám víu vào cái huyền thoại “Ngô Tổng thống không chịu cho quân Mỹ vào Việt Nam nên bị Mỹ lật”, mà còn làm nổi bật lên một sắc thái đặc thù của liên hệ Mỹ-Việt vào năm 1962 của chính phủ Ngô Đình Diệm: đó là dù ông Diệm có bất lực trong việc chống Cộng, chính phủ Mỹ vẫn yểm trợ , bảo bọc ông Diệm.  Và ông Diệm đã công nhận, đã chấp thuận sự bảo bọc đó một cách quá trớn, nhất là trong trường hợp can thiệp lộ liểu của “cố vấn” Mỹ trong những quyết định quân sự, đến nổi sau này hồi tưởng lại năm 1961, khi còn làm phóng viên tiền tuyến theo dõi các cuộc hành quân, ký giả Ngô Đình Vận viết:” Tôi thấy rõ quân đội trong thời Đệ nhất Cộng Hòa đã không thực sự có được độc lập, không có được đầy đủ sự chủ động ngay cả trong lúc giao tranh với địch quân.” (10)

Sự yểm trợ và bao che đó lại càng nổi bật hơn nữatrong trận Ấp Bắc mà kết quả thảm hại, dù rất rõ ràng hiển nhiên, đã được ông Diệm và bà Nhu đổi ngược thành chiến thắng, va trong liên hệ thắm thiết Mỹ- Việt lúc bấy giờ, đã nhận được một số nhân vật chủ yếu của chính quyền Kennedy đồng lõa công nhận.

Thật vậy, từ đầu năm 1962, khi các cố vấn quân sự Mỹ và số khí cụ tối tân mới được tăng viện cho miền Nam trong kế hoạch Taylor- Rostow thì quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã thu lượm được một số chiến thắng tại châu thổ sông Cửu Long và lần đầu tiên đã tiến được vào chiến khu D, rừng U Minh, vốn là những căn cứ bất khả xâm phạm của Việt Cộng.  Những chiến thắng quân sự thuần túy đó đã gây phấn khởi cho Sài Gòn lẫn Hoa Thịnh Đốn.  Để yểm trợ cho mặt trận tuyên truyền tại Hoa Kỳ, ông Diệm đã cho phép Đại tá Huỳnh văn Cao, Tư lệnh Sư doàn 7, diễn hành tại thủ đô Sài Gòn với sự tham dự của một số Dân biểu Quốc hội.  Trong lúc đó tại Mỹ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng MacNamara họp báo tuyên bố dân miền Nam Việt Nam của ông Diệm đang lật ngược thế cờ.

Nhưng chiến thắng đó chỉ như bọt sóng bắn lên tung tóe rồi sau đó tan vỡ mất vì ngay cả chỉ trên mặt thuần túy quân sự mà thôi, ưu thế lưu động của hai chiến thuật trực thăng vận và thiết vận xa M- 113 đã không được khai thác đúng mức, hơn nữa chúng lại không được hiệu dụng trong một trận chiến mà kẻ thù đã khôn khéo phối hợp được các kỹ thuật du kích chiến với những vũ khí tối tân do Nga viện trợ.  Nhưng đó vẫn chưa là lý do chính khiến cho Việt Cộng dành lại được ưu thế trên chiến trường mà lý do chính là vào những năm đầu thập niên 1960, tinh thần chiến đấu của các binh sĩ đã không còn hăng say nữa.  Tình cảm bất mãn chế độ, bất mãn cấp lãnh đạo là gia đình ông Ngô đình Diệm phát xuất từ những sự kiện rất thực tế trước mắt, rất liên hệ trực tiếp đến bản thân của sĩ quan và binh sĩ đã làm suy giảm rất nhiều tình thần hăng say và quyết tâm chiến đấu của quân lực.

Giữa năm 1962, hai phi công Quốc và Cử ném bom dinh Độc Lập định giết cả nhà, tức là cả chế độ, Ngô đình Diệm lại càng nung nấu và càng làm lan rộng sự bất mãn đó.  Đầu năm 1963, ba cán bộ Cần Lao Công Giáo của ông Diệm là Tư Lịnh Vùng 4 Huỳnh văn Cao, Tư lịnh Sư đoàn 7 Bùi Đình Đạm, và Thiếu tá Tỉnh trưởng Định Tường Lâm Quang Thơ, với quân số đông hơn, với vũ khí hiện đại hơn, lại hứng chịu thảm bại nhục nhã tại Ấp Bắc trước Tiểu đoàn 514 của địch không đến 400 quân. (Xin xem thêm “The Bright Shining Lie” của Neil Sheehan.  Bản dịch Việt ngữ  “Sự Lừa Dối Hào Nhoáng” của nhà xuất bản Hồng Lĩnh, 1991).

Thảm bại rõ ràng này không những đã khiến cho Tướng Lê văn Tỵ phải đích thân xuống điều tra tại chổ mà chính các cố vấn quân sự Mỹ, đặc biệt là Trung tá John Paul Vann – người phối hợp tất cả phương tiện hỏa lực gồm M – 113, trực thăng UH – 1A, trực thăng CH – 21, các đơn vị quân đội Mỹ trong vùng cho trận Ấp Bắc này – đã phải nhục nhã gọi là “một thành tích khốn nạn” vì tướng Cao đã “chọn lựa tăng cường sự thất bại thay vì nổ lực để chiến thắng” (“A miserable damn performance...  They choose to reinforce defeat rather than to try for victory”) (11).

Báo chí Mỹ tức giận vì sự bất lực của quân đội Việt Nam Cộng Hòa và sự vô hiệu của các chiến cụ viện trợ đã phanh phui sự thất bại đó và còn quá khích đòi hỏi chính quyền Mỹ phải dành lấy quyền lãnh đạo chiến tranh tại Việt Nam để tiêu diệt Cộng Sản.  Thảm bại đã rõ ràng như thế, nhưng để tránh cho cuộc khủng hoãng chính trị tại Sài Gòn khỏi phải lan rộng thêm vì một thất bại quân sự nặng nề, ông Diệm – và ngay cả bà Nhu, người không có thẩm quyền về các vấn đề quân sự – đã tuyên bố rằng Ấp Bắc là một ... chiến thắng oai hùng của Sư đoàn 7 !

Các nhà lãnh đạo Mỹ, đặc biệt là Bộ trưởng Quốc phòng MacNamara, Đại sứ Nolting, Đại tướng Tư lịnh Quân đội Mỹ tại Việt Nam Paul Harkins, đành phải binh vực ông Diệm bằng cách xác nhận đó là một chiến thắng (12).  Thái độ bưng bít sự thật để tiến hành chính sách – mà trong giai đoạn đó là chính sách ủng hộ “người hùng” Ngô đình Diệm – còn tiếp diễn dài dài sau này suốt cuộc chiến Việt Nam.  Ở đây tôi không phân tích những lợi và hại của thái độ đó, mà tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng qua thái độ đó thì cho đến đầu năm 1963, mối liên hệ giữa các nhà lãnh đạo Mỹvà ông Diệm vẫn rất thắm thiết.  Thắm thiết đến độ phải nói láo để binh vực cho cái thế  và cái lực của một con tốt vô dụng vào lúc cờ tàn.

- Sự kiện thứ năm là sự đồng lõa của một số viên chức cao cấp Hoa Kỳ nhằm che dấu những thất bại của quốc sách ấp chiến lược hầu bảo vệ ông Diệm.  Chương trình Ấp Chiến Lược là do sáng kiến của ông Thompson người Anh, Cố vấn Du kích chiến của tòa Bạch Ốc.  Chương trình này được Tổng thống Kennedy hết lòng yểm trợ và đặt hết hy vọng vào hiệu quả của nó mà sự thành công đã được chứng nghiệm tại Mã Lai dù điều kiện ứng dụng có khác.  Khi Mỹ đề nghị thực hiện chương trình này trong mục đích tiêu diệt hạ tầng cơ sở của Việt Cộng tại nông thôn thì bị ông Ngô đình Nhu bác bỏ.   Mỹ phải vận động mãi và đặc biệt phải tăng tài phí lên rất cao Ngô đình Nhu mới chấp thuận.  Khi tiền viện trợ bắt đầu được tháo khoán, Nhu đích thân nắm lấy việc điều khiển thực hiện chương trình và cho áp dụng kế sách riêng của ông ta theo đường hướng của chủ nghĩa “nhân vị” và đặc biệt để tạo một bộ máy nhân sự trung thành với chế độ (13).  Mà bộ máy trung thành đó có mục đích quyết liệt nhất là gì nếu không phải là nhân danh công cuộc chống Cộng để phát động và thực hiện cho được âm mưu Thiên Chúa giáo hóa nhân dân trong các Ấp Chiến Lược như tôi đã trình bày ở một chương trước.

Nếu công cuộc thực hiện chương trình Ấp Chiến Lược được tiến hành một cách thực tế hơn, nghĩa là dựa trên thực tế chính trị quân sự cũng như thực tế xã hội của nhân dân miền Nam, và nếu thực hiện bởi những cơ cấu nhân sự trong sạch và vì dân chớ không phải vì bè phái tham nhũng  mà cụ thể là đừng bắt dân đóng góp vật liệu, đừng bắt dân chúng lao động cực nhọc suốt đêm ngày không công, đừng quá cứng rắn trong việc bắt dân rời nhà cửa vườn tược của ông cha họ để lại, nghĩa là đừng làm mất lòng dân quá đáng, thì có lẽ kế hoạch Ấp Chiến Lược cũng đã có thể thu hoạch được phần nào thành quả.  Khốn nổi chương trình Ấp Chiến Lược lại được chỉ đạo và kiểm soát bởi một Ngô Đình Nhu bệnh hoạn nên mới trở thành một hỏa diệm sơn thù hận và làm suy yếu luôn sức mạnh chống Cộng ở miền Nam.

Trước sự thất bại và hệ quả nguy hại rõ ràng đó, ông Rufus Phillips, nhân viên cao cấp nhất của Mỹ đặc trách về chương trình Ấp Chiến Lược đã phải phúc trình trực tiếp với Tổng thống Kennedy để yêu cầu tái xét lại ngaycả sự cần thiết của chương trình này.  Nhưng một lần nữa, những nhân vật rường cột của chánh sách Mỹ tại Việt Nam như Ngoại trưởng Rusk, Bộ trưởng MacNamara, Đại sứ Nolting, Tướng Harkins, và ngay cả Thứ trưởng Ngoại giao Roger Hillsman (người sau này quyết liệt ủng hộ lật đổ chế độ Diệm) vẫn binh vực ông Diệm và cho rằng chương trình Ấp Chiến Lược đã thành công.

Mặc dầu thái độ của họ phát xuất trước hết từ những động cơ khác như vì quyền lợi của Mỹ, như vì chiến sách chống Cộng toàn cầu, như vì muốn giới hạn vai trò  của báo chí... nhưng thái độ đó – khi che dấu sự thật và nhận định trái ngược hẳn với chính người trực tiếp phụ trách công tác là ông Rufus Phillips – cũng phát xuất từ ý định nâng đỡ và bao che cho chế độ Ngô đình Diệm, nếu không muốn nói là bênh vực và chiều thuận chế độ đó.

                                                                                    * * *

Nhìn mối bang giao Mỹ-Việt, đặc biệt là liên hệ giữa chế độ Diệm và các cấp lãnh đạo Hoa Kỳ trong suốt chín, mười năm trời cai trị miền Nam, anh em ông Diệm đã phạm không biết bao nhiêu lỗi lầm trầm trọng, ta thấy dù những lỗi lầm đó đã đưa đất nước từ thanh bình đến rối loạn, từ cảnh an ninh đến tình trạng chiến tranh thật sự, thế mà người Mỹ vẫn một lòng ủng hộ ông Diệm và chế độ của ông ta.  Người Mỹ đã chân thành khuyến cáo để anh em ông Diệm sửa sai, khuyến cáo không nổi thì nhượng bộ, chiều lụy, thế mà ngược lại anh em ông Diệm vẫn cứ chê trách chống báng.  Mà sự chống báng đó thật ra không phải phát xuất từ thể diện quốc gia (còn gì mà thể diện khi đã được khai sinh và nuôi dưỡng) hay độc lập dân tộc (còn gì mà độc lập khi quân viện và kinh viện đã tràn ngập đất nước) mà phát xuất từ bản chất phong kiến, quan liêu, tự tôn, tự đại của anh em giòng họ Ngô Dình.

Năm sự kiện tiêu biểu mà tôi vừa kể trên kia đã chứng minh thái độ chiụ đựng của người Mỹ trước sự ngoan cố của anh em ông Diệm.  Lời trình bày của Robert Shaplen dưới đây còn mô tả rõ hơn nối chán chường và khổ tâm của người Mỹ trong việc giao thiệp với những nhà lãnh đạo của miền Nam Việt Nam:

Đến tháng giêng năm 1962, sau những cuộc thảo luận kéo dài, một bản thông cáo ra đời cho thấy rõ ràng Diệm và Nhu đã thu hoạch tất cả những gì họ muốn về vấn đề tăng viện về quân sự và kinh tế mặc dầu không có dấu hiệu nào cho thấy họ cố ý thật sự thực hiện những cải cách.  Đây là khúc quanh cuối cùng trong liên hệ lâu dài và đau đớn giữa chúng ta và Diệm.  Nhưng ai trong chúng ta đã từng ở Trung Hoa vào năm 1946 và có theo dõi cố gắng của người Mỹ trong việc lôi kéo Tưởng Giới Thạch chấp nhận thực hiện cải cách thì có thể làm một sự so sánh ở đây.  Mỗi lần chúng ta nghĩ rằng chúng ta đang đạt được thành quả với Tưởng Giới Thạch và đang dễ dãi với thành phần cấp tiến của Kuomingtang, thì vô tình chúng ta đã làm cho thành phần bảo thủ chung quanh Tưởng Giới Thạch có thể thuyết phục ông ta không nên thực hiện bất cứ chương trình cải cách nào mà người Mỹ muốn bởi vì chúng ta (người Mỹ) đã gián tiếp

xác định rằng chúng ta sẽ tiếp tục hổ trợ cho ông ta trong cuộc chiến chống Cộng Sản.  Ở Sài Gòn vào khoãng thời gian thương thảo 1961 – 1962, Nhu cũng đã giữ vai trò giống như vai trò của thành phần phản động Koumingtang.  Nhu đã nói với ông Diệm rằng Hoa Kỳ sẽ không bỏ chế độ (Diệm), và do đó không cần phải nghe theo những đòi hỏi cải cách của Mỹ.  Hệ quả của việc để cho Diệm ở vị trí ưu thế này là người Mỹ ở Sài Gòn, một lần nữa lại bị bắt buộc phải lễ độ trong việc thuyết phục và khuyến cáo.  Điều đó cho thấy thế đứng của chúng ta lúc bấy giờ bị yếu hẳn, và rồi cuối cùng sẽ không tránh khỏi rối loạn.  Chúng ta đã cho người Việt Nam điều kiện để họ lạm dụng ý niệm “chủ quyền”, một người chán nản đã nói như vậy.  Bề ngoài thì tòa Đại Sứ làm bộ như đang thấy có những tiến bộ tại Việt Nam.  Một nhân viên cao cấp khác đã nói với tôi vài tháng sau đó :”Thời gian rất cần thiết, chúng ta chưa sẵn sàng để thấy đứa bé ra khỏi bồn tắm.  Tôi hy vọng sẽ thấy đứa bé sẽ ăn nhiều hơn từ tuần này qua tuần nọ.”  Tuy nhiên lúc riêng tư thì hầu hết các nhân viên đều nói rõ sự bất mãn của họ đối với tình trạng đang suy sụp dần.  Một nhân viên nữa của tòa Đại Sứ đã nói một cách tuyệt vọng rằng:”Chúng ta đã hiến mình quá nhiều cho Diệm rồi, nhưng chúng ta cũng phải giữ thế quân bằng.  Có nhiều cách để làm áp lực: một cách là chúng ta có thể chận lại nhiều chương trình như Diệm-Nhu đã chận và không cho Diệm-Nhu những gì họ đòi hỏi.  Hay nói thẳng với họ:”Các ông không muốn làm như vậy à? OK, vậy thì chúng tôi cũng sẽ không làm như vậy”.    Có thể gọi là lối phản kháng tiêu cực, cũng như đó là lối chơi theo kiểu Đông phương xưa, và đã đến lúc chúng ta cũng phải học cách chơi theo kiểu đó”. (14)

Ngoài Robert Shaplen đã có nhận định trên, ký giả Karnow còn có ý kiến sâu sắc hơn:

....Trong thời gian đó Diệm chống lại khuyến cáo của Hoa Kỳ trong việc cải cách chế độ bởi vì Diệm biết rằng Hoa Kỳ cần Diệm để chống Cộng. Như một giới chức Mỹ ở Sài Gòn đã nói: “Diệm là một thứ bù nhìn tự kéo lấy giây”(a puppet who pulled his ơwn strings).  Diệm dùng phương tiện Mỹ cho những nhu cầu riêng tư, ông ta không quan tâm nhiều đến một quân đội chống du kích mà lo thành lập những đơn vị để bảo vệ ông ta chống lại những người quốc gia đối lập tại Sài Gòn. (15)

Những nhận định này nói lên thủ đoạn của anh em ông Diệm lợi dụng chính sách chống Cộng trong chủ thuyết Domino của người Mỹ để thao túng các kế hoạch quân viện và kinh viện, và nhất là để có thể khước từ  những khuyến cáo thực thi dân chủ và hiệu dụng hóa khả năng chiến đấu của quân đội VNCH mà người Mỹ đã nhiều lần thúc giục.  Những nhận định đó cũng nói thêm một điểm rất cơ bản khác là cho đến trước khi xảy ra vụ tấn phá chùa chiền vào tháng 8 năm 1963, người Mỹ vẫn tiếp tục “ngậm đắng nuốt cay” chiụ đựng chế độ Ngô đình Diệm, một chế độ đang bị chính nhân dân và quân đội miền Nam căm phẫn, một chế độ đang bị chính giới và công luận Hoa Kỳ lên án.

Phân tích dưới đây của một người bạn Mỹ rất thân của ông Diệm lại trình bày rõ hơn về những thăng trầm trong liên hệ Việt-Mỹ qua suốt gần mười năm dan díu:

Giải quyết vấn đề dân di cư  đã cho thấy sự phối hợp giữa cấp chỉ huy địa phương, tài nguyên quốc gia, và viện trợ của Mỹ có thể làm được việc.   Nhưng chính sự thành công trong lãnh vực này lại làm nổi bật lên sự yếu kém về phương thức điều hành của chế độ Diệm trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội, hành chánh và quản trị quốc gia.

Sự sống còn của quốc gia được đặt căn bản trên những kế hoạch kinh tế, xã hội và chính trị nhằm mục đích lôi kéo sự trung thành của nhân dân và làm cho nhân dân quyết tâm bảo vệ chế độ chống lại  những cuộc nổi dậy bằng bạo lực.

Tuy mức độ ủng hộ của nhân dân đối với Diệm không thể đo lường được dễ dàng, nhưng chắc chắn giữa năm 1955 và 1957, Diệm đã tạo ra nhiều tiến bộ. 

Ngay cả những kẻ chỉ trích chế độ khó tính nhất cũng đã phải nhận rằng, dù ngắn ngủi, Diệm đã hưỡng được sự ủng hộ của nhân dân, và điều này chứng tỏ rằng lịch sử đã cho Diệm một cơ hội thực sự.

Nếu mức độ ủng hộ Diệm (ở Việt Nam) không chắc chắn, thì sự ủng hộ ở Hoa Kỳ lại rất vững chãi.  Viện trợ của Mỹ rất quan yếu cho Nam Việt Nam đến nổi có những người Mỹ ở Hoa Kỳ đã xem sự viện trợ này thay thế – chứ không phải là một điều kiện – cho sự ủng hộ của nhân dân Việt Nam.  Ngay cả ông Diệm cũng xem điều này như vậy khi ông nhận ra rằng ông đã không lôi kéo được khối quần chúng và khối trí thức Việt Nam ủng hộ ông.

Mặc dù tinh thần quốc gia chống Cộng dưới sự lãnh đạo của ông Diệm có một lúc có vẻ như là một thế lực khả dĩ có thể chống lại được ảnh hưởng của Việt Cộng, nhưng đến 1960 thì rõ ràng ông Diệm đã không xử dụng viện trợ Mỹ để tranh thủ lòng dân.  Thay vì vậy, chính sách của Diệm chỉ gặt hái lấy sự bất mản của toàn dân.   Nhưng vì sao Diệm vẫn thành công trong việc duy trì được sự ủng hộ của Hoa Kỳ trong nhiều năm mặc dù tình trạng suy sụp về sức mạnh chính trị của ông ta đã biểu lộ rõ ràng?  Và tại sao rất nhiều người Mỹ, dù biết rõ vấn đề và dù có cái nhìn chính trị tinh tế, lại vẫn cứ tiếp tục binh vực ông ta trong nhiều năm!

Để hiểu dễ dàng hơn sự tin tưởng kiên cố của người Mỹ này, ta có thể chia chín năm cai trị của Diệm thành ba giai đoạn.   Giai đoạn Một kéo dài khoãng một năm, trong đó, ngược lại với mọi dự đoán, Diệm đã thành công trong việc giữ vững vị thế và đặt nền móng cho nền cai trị của ông ta.  Sự tin tưởng rằng tất cả đều tốt đẹp và rằng phép lạ đã xảy ra đã đâm rễ trong giai đoạn hai, và sự tin tưởng đó kéo dài không quá hai năm sau đó.  Thật vậy mọi nghi ngờ về sự vững chắc của địa vị ông Diệm đã biến mất hoàn toàn sau hai năm đầu tiên của giai đoạn Hai này, và mặc dù chế độ bắt đầu để lộ ra những khuynh hướng chính trị tạo rắc rối cho nền cai trị, nhưng niềm tin về khả năng hành xử theo chiều hướng xây dựng của chế độ vẫn cứ được nẩy sinh và duy chính trong giai đoạn này.

Khó nói được giai đoạn Ba bắt đầu từ lúc nào.   Ở Việt Nam thì sự bất mãn chế độ đã lan rộng vào năm 1957, ở Hoa Kỳ thì những kẻ ngưỡng mộ Diệm hồi trước đã ngưng ủng hộ ông ta sau năm 1960.  Tuy nhiên giới chính quyền Mỹ cho đến khi biến cố Phật giáo xảy ra vào năm 1963 mới lên án sự thất bại của chế độ Diệm.

Sở dĩ có một số người Mỹ lạc quan về Diệm là vì chính những người Mỹ này cần nuôi dưỡng sự lạc quan cho chính họ.  Chỉ có “good news” từ Sài Gòn mới giữ được niềm tin rằng phép lạ tại Việt Nam là thật chứ không phải là một ảo ảnh.  Nhu cầu “good news” đã làm cho nhiều quan sát viên chống Cộng mang một cái nhìn hời hợt, hay ít nhất đã bỏ qua những thất bại của Diệm, và sự kiện này đã làm cho những báo cáo về thành quả của Diệm trở thành vô giá. (16)

Giáo sư Buttinger, được xem như “khai quốc công thần” của chế độ Diệm, rồi giáo sư Fishel, Đại tá Lansdale, Thượng Nghị sĩ Mansfield..., những người vừa là bạn vừa là nhân vật đỡ đầu của ông Diệm trong chánh sách Mỹ, từ năm 1960, lần lượt chán nãn xa rời ông Diệm, trong cái tâm trạng “bỏ thì thương mà vương thì tội”.  Ngay Tổng thống Kennedy, từ trước năm 1954 và còn kéo dài sau đó, cũng đã từng triệt để ủng hộ ông Diệm, rối cuối cùng người ân nhân tối quan trọng đó cũng đã bị ông Diệm phản bội khi ông bắt tay với Cộng Sản Hà Nội.

Phần mà tôi vừa trình bày ở trên về chính sách của người Mỹ đối với các quốc gia nhược tiểu chống Cộng, và đặc biệt đối với chế độ Ngô đình Diệm, đã nói lên rõ ràng rằng cho đến tháng Tám năm 1963 (nghĩa là cho đến ngày Nhu cuồng dại tấn công vào cơ sở Phật Giáo Việt Nam), giới lãnh đạo Mỹ chẵng những đã không tạo một áp lực nào phương hại đến sự sinh tồn của chế độ Diệm (ngoài những khuyến cáo xây dựng để c