curley_sw_03.gif (1967 bytes) Trang mục lục

Diễn đàn mở rộng của nhóm chủ trương Giao Điểm

Unicode Standard curley_sw_03.gif (1967 bytes)

..........

gd-803.gif (4051 bytes)

    tôn giáo và thời đại:

 Mark_03.gif (833 bytes)Con đường ngõ cụt của Vatican trên lộ trình xâm lăng văn hóa Á châu..CN

 Mark_03.gif (833 bytes)Màn kịch bịp bợm “Phép lạ Lộ Đức” của Vatican...  CN

 Mark_03.gif (833 bytes)Công giáo-Tin lành và sách lược cải đạo ở Á châu (phần II)... TCN

 Mark_03.gif (833 bytes)Một số ý niệm về kinh tế theo quan điểm Phật giáo Quán Như

 Mark_03.gif (833 bytes)Những lời châu ngọc về Kitô giáo.... TCN

 Mark_03.gif (833 bytes)Chiến lược mục vụ của Vatican và ý đồ "rửa tội"... NTL

   v/đ lịch sử còn tồn đọng:

 Mark_03.gif (833 bytes)Từ đồng minh với Mỹ đến thoả hiệp với Cộng...  HL. Đỗ Mậu

  Thời sự tháng 8:

 Mark_03.gif (833 bytes)Vũ khí viết văn (Maureen Dowd) .... N.Văn

 Mark_03.gif (833 bytes)Những dối trá do nhà nước bảo trợ (Ignacio Ramonet)

 Mark_03.gif (833 bytes)Sáng dạ (Daniel Danette)

 Mark_03.gif (833 bytes)Từ điển Dubya (Geov Parrish)

 Mark_03.gif (833 bytes)Mâu thuẫn và nghịch lý (Gary LaMoshi) N. Văn

   Vọng về mùa Vu lan:

 Mark_03.gif (833 bytes) Vu lan Huế, một thoáng trở về! Thái Kim Lan

    đặc biệt của Giới Tử:

 Mark_03.gif (833 bytes) Sư tử trùng (trọn bộ sách)

 Mark_03.gif (833 bytes)Võ văn Ái: chìm xuồng níu phao (Chuyển Luân phỏng vấn Tổng Đàn)

     Tin sinh hoạt từ thiện:

 Mark_03.gif (833 bytes)Lại chuyện mẫu giáo Huế....  TKL

 Mark_03.gif (833 bytes)Hành trình từ thiện của Diệu Liên

 Mark_03.gif (833 bytes)Báo cáo của ASAVINA... TCN

gd-mau803.gif (3814 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
Nghiên cứu & đối thoại quý ba năm 2003

  

Những dối trá do nhà nước bảo trợ (*)

Ignacio Ramonet

 
Tôi không thể nào nói dối
George Washington

        Giống như câu chuyện về một kẻ trộm tri hô cả làng cùng nghe “Ngừng lại, tên trộm kia!”  Hồ sơ về Saddam Hussein và Iraq mà Tổng thống George W. Bush trình bày trước Đại hội đồng Liên hiệp quốc hôm 12 tháng 9 năm 2002 có tên là “A Decade of Lies and Deceit” – “Một thập niên của nói láo và lừa dối”.  Ông Bush cung cấp thông tin gì để làm bằng chứng?   Trả lời: Dối trá.  Ông tuyên bố rằng Iraq có liên hệ mật thiết với nhóm al-Qaeda và là một mối đe dọa đến nền an ninh của nước Mĩ, bởi vì Iraq có tàng trữ “vũ khí tàn phá hàng loạt” (WMD) – một cụm từ rùng rợn do các cố vấn báo chí của ông sáng chế ra. 

 

        Ba tháng sau khi quân đội Mĩ, với sự hỗ trợ của quân đội phụ tá Anh, hoàn tất cuộc xâm chiếm vùng Lưỡng hà, chúng ta nay biết rằng những lời tuyên bố trên, dù lúc đó bị thách thức khắp nơi, chỉ là những lời nói dối, hay những thông tin ngụy tạo (1).  Bây giờ chúng ta biết rõ ràng là các cơ quan tính báo Mĩ đã thổi phồng và thậm chí ngụy tạo những thông tin về vũ khí tàn phát hàng loạt.  Đội thanh tra Survey Group gồm 1.400 chuyên viên dưới quyền điều khiển của tướng Dayton cho đến nay vẫn chưa tìm ra bằng chứng nào để cho thấy Iraq từng có vũ khí tàn phát hàng loạt.  Và nay, chúng ta cũng biết rằng cái thời điểm mà ông Bush tố cáo Iraq tàng trữ vũ khí tàn phá hàng loạt, ông ta đã đọc qua báo cáo của các cơ quan tình báo, và các báo cáo này cho biết Iraq không có tàng trữ vũ khía tàn phát hàng loạt (2).  Theo Jane Harman, một thượng nghị sĩ (thuộc đảng Dân chủ) từ California, chúng ta là nạn nhân của một sự lừa dối lớn nhất từ trước đến nay trong lịch sử nước Mĩ (3).  Lần đầu tiên trong lịch sử Mĩ, công chúng đặt câu hỏi tại sao Mĩ phải gây chiến, mặc dù cuộc chiến đó đã chấm dứt.

 

        Một cơ quan mật thuộc Pentagon có tên là “Office of Special Plans” (hay Cơ quan kế họach đặc biệt, OSP) đóng một vai trò quan trọng trong sự dối trá qui mô này.  Qua tiết lộ của kí giả Seymour Hersh trên tờ New Yorker (4), Paul Wolfowitz (nhân vật số 2 tại Pentagon) thành lập OSP và đặt dưới quyền điều khiển của Abram Shulsky, một diều hâu trong chính phủ Mĩ.  Công việc của OSP là phân tích thông tin thu nhận từ các cơ quan an ninh và báo cáo với chính phủ những phân tích đó.  Dựa vào các phát biểu của những người Iraq lưu vong nằm trong nhóm Iraqi National Congress (một tổ chức do Ahmad Chalabi lãnh đạo và được Ngũ giác đài tài trợ) OSP thổi phồng mối đe dọa về WMD và mối liên hệ giữa Saddam Hussein và al-Qaeda.

 

        Bộ trưởng ngoại giao Mĩ, Colin Powell, cũng là nạn nhân của một kế hoạch lũng đoạn thông tin, và tương lai chính trị của chính ông đang lâm nguy.  Có người tường thuật rằng Powell phản đối áp lực từ Tòa bạch cung và Ngũ giác đài yêu cầu ông phải phân phối bản báo cáo mà nội dung rất mơ hồ.  Trong bài diễn văn trước Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc ngày 5 tháng 2 năm 2003, Powell bị bắt buộc phải đọc bản thảo do Lewis Libby viết (Libby là Chánh văn phòng cho Phó tổng thống Dick Cheney).  Bản thảo chứa nhiều thông tin rất hời hợt, không minh bạch mà có người nói chính Powell giận dữ vứt nó lên không và từ chối không muốn đọc.  Sau cùng, dưới áp lực của “cấp trên” Powell đành phải đọc, nhưng ông ta yêu cầu phải có George Tenet, Giám đốc CIA, ngồi bên cạnh sao cho ống kính có thể thấy cả hai người, để cùng chia sẻ trách nhiệm cho những gì mà Powell đọc.

 

        Trong một phỏng vấn với tờ Vanity Fair (số ra tháng 6 năm 2003) Paul Wolfowitz thú nhận rằng chính phủ Mĩ đã nói dối.  Ông cho rằng quyết định thổi phồng mối đe dọa về vũ khí tàn phá hàng loạt để làm cơ sở cho chiến tranh chống Iraq đã được thông qua vì “những lí do liên quan đến bộ máy hành chính . . . Chúng tôi thông qua một vấn đề mà ai cũng có thể nhất trí, và đó là vấn đề vũ khí tàn phá hàng loạt” (5).

 

        Do đó, Bush phải nói dối.  Trong quá trình đi tìm cái biến cố để khai mào cho cuộc chiến, và để thuyết phục Liên hiệp quốc cùng một vài quốc gia tòng phạm (Anh, Tây Ban Nha, Úc) vào dự án chinh phục Iraq, ông Bush không ngần ngại bịa đặt thông tin ở qui mô lớn.

 

        Nhưng ông Bush không đơn độc trong việc làm này.  Ngày 24 tháng 9 năm 2002, Tony Blair đứng trước Quốc hội Anh và tuyên bố: “Iraq tàng trữ vũ khí hóa học và sinh học. . . Tên lửa của Iraq có thể triển khai trong vòng 45 phút.”  Trước Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc hôm 5 tháng 2 năm 2003, Powell nói: “Saddam Hussein từng nghiên cu hàng tá hóa chất có khả năng gây bệnh, kể cả các loại bệnh như hoại tử, dịch, sốt typhus, uốn ván, tiêu chảy, sốt huyết.”  Vào tháng Ba, trước khi Mĩ bắt đầu cuộc chiến, Phó tổng thống Dick Cheney tuyên bố: “ Chúng tôi tin rằng hắn (Hussein) có vũ khí hạt nhân” (6).

 

        Ông Bush nhắc lại lời tố cáo này trong nhiều bài diễn văn khác.  Sau khi họp với Powell vào ngày 6 tháng 2, Bush còn đi xa hơn và thêm thắt một chi tiết [sai] khác: “Iraq gửi các chuyên viên làm bom, chuyên viên làm giả tài liệu để làm việc với al-Qaeda.  Iraq còn cung cấp vũ khí hóa học và sinh học cho al-Qaeda.  Chúng tôi biết rằng Iraq đang chứa chấp mạng lưới khủng bố do một cán bộ cao cấp al-Qaeda lãnh đạo.”

 

        Những lời tố cáo này được giới truyền thông chủ chiến phóng đại với một cường độ đến nổi chúng trở nên những tài liệu tuyên truyền.  Các hệ thống truyền hình như Fox News, CNN và MSNBC, và một hệ thống 1.225 đài truyền thanh khắp xứ Mĩ, và ngay cả những tờ báo uy tín như Washington PostWall Street Journal cũng nhảy vào dự phần.  Chính những tuyên truyền này đóng vai trò làm nền tảng cho giới chủ chiến trên khắp thế giới.  Ở Pháp, nhóm Pierre Lelouche, Bernard Kouchner, Yves Rocaute, Pascal Bruckner, Guy Millière, André Glucksman, Alain Finkelkraut và Pierre Rigoulot cũng dùng những tài liệu này để làm cái cớ cho chiến tranh (7).

 

        Tất nhiên, những lí giải này được đồng minh của ông Bush trân trọng.   Một trong những người hăng hái nhất là Thủ tướng Tây Ban Nha, José Maria Aznar.  Hôm 5 tháng 2 năm 2003, Aznar tuyên bố trước Hạ nghị viện Cortés rằng: “Chúng ta biết Saddam Hussein có vũ khí tàn phá hàng loạt . . .  Chúng ta cũng biết hắn ta có vũ khí hóa học” (8).  Ngày 30 tháng 1 trước đó, theo lệnh của Bush, Aznar sản xuất ra một bản tuyên bố nhằm ủng hộ Mĩ, với chữ kí của 8 người, trong đó có Blair, Silvio Berlusconi và Vaclav Havel.  Bản tuyên bố có đoạn viết: “Chế độ Iraq và vũ khí tàn phá hàng loạt của chế độ này là một mối đe dọa đến nền an ninh thế giới.” 

 

        Để biện minh cho cuộc chiến mà Liên hiệp quốc và công chúng thế giới không muốn có, một bộ máy tuyên truyền và lừa phỉnh (do những cố vấn chung quanh ông Bush tổ chức) sản xuất ra nhiều dối trá trong hơn 6 tháng liền.  Những dối trá này được Nhà nước chính thức bảo trợ, và đó là một đặc điểm của các chế độ đáng kinh tởm nhất trong thế kỉ 20.

 

        Chính phủ ông Bush còn phụ họa thêm một số dối trá mang tính truyền thống Mĩ.  Một trong những dối trá này là những sự kiện chung quanh vụ chiến hạm Maine bị nổ tung tại Vịnh Havana vào năm 1898.  Mĩ dùng sự kiện này làm cái cớ để gây chiến với Tây Ban Nha, và sáp nhập luôn Cuba, Puerto Rico, và Phi Luật Tân và đảo Guam.

 

        Ngày 15 tháng 2 năm 1898, lúc 9.40 giờ tối, chiến hạm Maine bị nổ và chìm ở eo biển Havana, làm chết 260 thủy thủ.  Lập tức sau biến cố này, giới truyền thông Mĩ rầm rộ đồng loạt tố cáo Tây Ban Nha đã đặt mìn.  Họ (giới báo chí) thậm chí còn lăng mạ rằng người Tây Ban Nha là dân tộc man rợ, những người ăn thịt người!

 

        Hai nhà đại tư bản của Mĩ lúc bấy giờ, Joseph Pulitzer (chủ tờ New York World) và William Randolph Hearst (chủ tờ New York Journal) thi nhau sản xuất ra những bản tin cực kì giật gân mang tính chống Tây Ban Nha.  Chiến dịch chống Tây Ban Nha được sự yểm trợ của các thương gia Mĩ từng đầu tư lớn vào Cuba và rất muốn tống cổ người Tây Ban Nha khỏi Cuba.  Nhưng công chúng và ngay cả giới kí giả lại không tỏ ra đồng tình với chiến dịch này.  Năm 1898, một họa sĩ chiến trường cho tờ New York Journal là Frederick Remington từ Havana viết cho Hearst [trích đoạn]: “Ở đây không có chiến tranh.  Tôi muốn về nhà (New York).”  Hearst trả lời qua điện tín: “Cứ ở đấy.  Ông cứ cung cấp cho tôi những bức họa, tôi sẽ cung cấp chiến tranh cho ông.”  Và sau đó là biến cố chiến hạm Maine bị nổ và chìm, và cho Hearst một cơ hội để quảng bá chiến tranh.  Mỗi ngày, Hearst dành nhiều trang để đưa tin và kích động chiến tranh, kêu gọi trả thù với những cái tít nảy lửa cảm tính: “Xin hãy nhớ Maine!  Cho Tây Ban Nha xuống địa ngục.”  Các tờ báo khác cũng làm theo.  Tờ New York Journal bán chạy: Từ 30,000 bản hàng ngày lên đến 400,000 bản, và sau đó lên đến 1 triệu.  Hết ngày này sang tháng nọ, công chúng trở nên phẫn nộ.   Không khí bừng bừng với ảo giác chiến tranh.  Bị áp lực từ mọi phía, Tổng thống William McKinley phải tuyên chiến với Tây Ban Nha vào ngày 25 tháng 4 năm 1898.  Nhưng 13 năm sau, một ủy ban điều tra biến cố chiến hạm Maine bị nổ đi đến kết luận rằng đó là một tai nạn xuất phát từ phòng máy của tàu, chứ chẳng dính dáng gì đến Tây Ban Nha (9).

 

        Trong thời chiến tranh lạnh vào thập niên 1960s, cơ quan tình báo CIA cung cấp những tài liệu mật cho giới kí giả với mục tiêu cho công chúng thấy Liên Xô đang dẫn đầu cuộc chạy đua vũ khí.  Lập tức, báo chí làm áp lực các ứng cử viên tổng thống phải phải tăng ngân sách cho chiến tranh, núp dưới danh nghĩa “quốc phòng”.   John F Kennedy hứa sẽ dành ngân sách cho việc phát triển chương trình tên lửa, một chương trình mà cả hai nhóm CIA và kĩ nghệ quân sự rất muốn.  Khi Kennedy đắc cử, ông giữ lời hứa, nhưng khi kí quyết định, ông mới phát hiện là Mĩ đã có khả năng quân sự trội hơn Liên Xô.

 

        Năm 1964, Chính phủ Mĩ tố cáo rằng Bắc Việt dùng ngư lôi tấn công tàu chiến Maddox của Mĩ, lúc đó đang “tuần tra” ở Vịnh Bắc Bộ.  Lập tức sau lời tố cáo, giới truyền thông biến sự kiện này thành một vấn đề quốc gia, mô tả sự kiện như là một sự sỉ nhục đối với Mĩ và đòi trả đũa.  Tổng thống Lyndon B Johnson dùng sự kiện này làm cái cớ để tấn công chống Bắc Việt Nam.  Ông kêu gọi Thượng nghị viện thông qua nghị quyết cho phép ông gửi quân đội và bắt đầu một cuộc chiến kéo dài cho đến năm 1975 với một sự thất bại thê thảm.  Sau này, thủy thủ đoàn của Maddox cho biết toàn bộ câu chuyện Bắc Việt tấn công tàu Maddox là một sự bịa đặt có tổ chức.

 

        Năm 1985 Tổng thống Ronald Reagan tuyên bố rằng nước Mĩ đang ở trong tình trạng khẩn cấp vì đe dọa từ Nicaraguan do nhóm Sandinistas cầm quyền ở Managua.   Chính phủ Sandinistas nắm chính quyền qua một cuộc bầu cử dân chủ vào tháng 11 năm 1984.  Nicaragua, Reagan tuyên bố, chỉ cách Mĩ “hai ngày lái xe t Harlingen, Texas.  Chúng ta đang lâm nguy!”  Bộ trưởng ngoại giao George Shultz nói trước Quốc hội: “Nicaragua là một bướu ung thư đang ăn dần ăn mòn vào xứ sở chúng ta, họ áp dụng học thuyết của Mein Kampf và đe dọa thống trị toàn bộ bán cầu” (10).  Những dối trá này được sử dụng để viện trợ ồ ạt cho nhóm du kích Contras, chống lại chính phủ Sandinistas, và dẫn đến vụ tai tiếng Irangate.

Những dối trá trong Chiến tranh vùng Vịnh vào năm 1991 cũng đã được phân tích nhiều (11) .  Luận điệu cho rằng Iraq có một quân đội lớn và hùng mạnh vào hàng thứ tư trên thế giới, rằng các khoa hộ sinh trong các bệnh viện ở Kuwait bị lính Iraq tiêu hủy, rằng  mối đe dọa của Iraq là thực, rằng tên lửa Patriot có hiệu lực cao, v.v... được lặp đi lặp lại nhiều lần.  Nhưng tất cả những luận điệu trên đều được chứng minh là giả dối.

 

        Sau khi George W. Bush đắc cử tổng thống vào tháng 11 năm 2000, và nhất là sau biến cố 9/11 việc vận động và kĩ nghệ tranh thủ dư luận quần chúng trở nên một mối ưu tư hàng đầu cho chính phủ mới.  Michael Deaver, một người bạn của Donald Rumsfeld và một chuyên gia về tâm lí chiến, chủ trương rằng ti-vi và báo chí nói chung phải được xem là một bộ phận của bất cứ chiến lược quân sự nào, bởi vì nếu quần chúng ủng hộ một cuộc chiến, thì chính phủ sẽ không thể nào ngăn chận cuộc chiến đó được; ngược lại, không có ủng hộ của quần chúng thì chính phủ sẽ hoàn toàn bất lực.

 

        Ngày 20 tháng 2 năm 2002 tờ New York Times tiết lộ rằng Ngũ giác đài, qua chỉ thị của Bộ trưởng Donald Rumsfeld và Thứ trưởng Douglas Feith, đã bí mật thành lập một cơ quan có tên là Office of Strategic Influence (OSI, tạm dịch: Sở Chi phối Chiến lược) để sản xuất ra những bản tin giả tạo nhằm phục vụ cho lợi ích chiến lược của Mĩ.  Cơ quan này được đặt dưới quyền điều hành của Simon Worden, một cựu tướng lãnh trong không quân.  Cơ quan có quyền ngụy tạo những thông tin nhằm đánh lạc hướng dư luận, đặc biệt là dư luận và báo chí thế giới ngoài Mĩ.  Để làm việc này, cơ quan OSI kí hợp đồng (bằng cái giá 100.000 Mĩ kim mỗi tháng) với Công ti Rendon Group, một nhóm tư vấn về truyền thông từng được sử dụng trong cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ nhất.  Để kích động cảm tính các thượng nghị sĩ Mĩ, công ti Rendon Group cho dàn dựng và bịa đặt lời khai của một “y tá” Kuwait tố cáo lính Iraq giết trẻ em trong các bệnh viện hộ sinh ở Kuwait) (12).  Lời khai này có một sức thuyết phục rất lớn, và là một trong những động cơ chính để họ yểm trợ chiến tranh.  Sau này, qua báo chí phanh phui, chúng ta biết toàn bộ câu chuyện là một sự bịa đặt tinh vi.  Cô “y tá” nọ không phải là y tá mà là con của viên đại sứ Kuwait tại Mĩ.  Khi câu chuyện được chứng minh là giả tạo, Brent Snowscroft (lúc đó là cố vấn an ninh quốc gia) cho biết “Lúc đó chúng tôi không biết đó là một bịa đặt”, nhưng ông thú nhận là câu chuyện có giá trị tuyên truyền cao. 

 

        Dù cơ quan OSI đã được chính thức giải tán sau những tiết lộ tai tiếng trên, nhưng trong thực tế cơ quan này có thể vẫn còn hoạt động bí mật.  Nếu không, làm sao chúng ta có thể giải thích được những xuyên tạc vụng về trong cuộc chiến mới đây ở Iraq, đặc biệt là câu chuyện về cuộc giải cứu binh nhì Jessica Lynch?  Hệ thống truyền thông Mĩ bắn tin đi khắp thế giới câu chuyện “giải cứu” vào tháng Tư năm 2003, rằng Lynch là một thành viên trong một nhóm gồm 10 lính Mĩ bị lính Iraq bắt sống.  Theo như bài tường thuật được giới quân sự Mĩ phê chuẩn, cô Lynch bị phục kích vào ngày 23 tháng 3, và bị bắt sống sau khi cô ta đã can đảm nổ súng vào lính Iraq cho đến khi hết đạn.  Nhưng cô ta bị bắn lại và bị thương.  Cô ta bị đâm, bị trói, và giam giữ trong một bệnh viện ở Nasiriyah.  đó cô ta bị sĩ quan Iraq đánh đập dã man.  Một tuần sau, lực lượng đặc biệt Mĩ giải cứu cô trong một cuộc hành quân chớp nhoáng và can đảm: bất chấp kháng cự của bọn lính Iraq canh giữ, lính Mĩ xông vào bệnh viện, giải cứu cô và chuyển cô về Kuwait bằng trực thăng.

 

        Buổi chiều cùng ngày, Tổng thống Bush từ Tòa bạch cung tuyên bố cuộc hành quân cứu thoát Lynch cho thế giới biết.  Tám ngày sau, Ngũ giác đài còn cung cấp cho giới truyền thông một cuốn băng video được quay trong cuộc giải cứu, với những cảnh tượng không khác gì phim ảnh đánh đấm của điện ảnh Hollywood.

 

        Sau khi cuộc chiến kết thúc, ngày 9 tháng 4, các kí giả, đặc biệt là kí giả của tờ The New York Times, Toronto Star (Canada) và El País (Tây Ban Nha) và đài BBC (Anh), đi tận Nasiriyah để truy tìm sự thật.   Họ cực kì ngạc nhiên khi khám phá rằng câu chuyện mà Mĩ tung tin trên toàn thế giới chỉ là giả tạo.   Qua những phỏng vấn trực tiếp với các bác sĩ trong bệnh viện, những người từng chăm sóc cho cô Lynch, vết thương của cô (gãy xương tay và xương chân, trật khớp mắt cá chân) không phải do bị đạn mà là do tai nạn lật xe.  (Và quả thật xe mà cô Lynch đi công tác bị lật xuống đường làm cả đoàn bị thương.)  Những nhận xét này cũng được các bác sĩ Mĩ khám lại và đồng ý với các bác sĩ Iraq.  Cô ta không hề bị ngược đãi, không hề bị tra tấn.  Ngược lại, các bác sĩ và y tá Iraq đã làm tất cả những gì mà họ có thể làm được để cứu sống cô ta.

 

        Bác sĩ Dr Saad Abdul Razak cho biết “Khi được chuyển vào đây, nhịp tim của cô ấy là 140.  Cô ấy bị mất máu nhiều.  Chúng ta phải truyền máu cho cô.  Cũng may mắn là một số thân nhân của tôi có cùng nhóm máu với cô ấy: máu O dương tính.  Thành ra, chúng tôi có đủ máu để truyền cho cô ấy.  Tôi cho rằng chúng tôi đã cứu sống cô ấy” (13).

 

        Bất chấp nguy cơ đến tính mạng của họ, các bác sĩ này tìm cách liên lạc với quân đội Mĩ để trả cô ta về lại Mĩ.  Hai ngày trước khi lực lượng đặc biệt Mĩ xông vào bệnh viện, các bác sĩ này thậm chí còn dùng xe cứu thương để chuyển cô ta đến một địa điểm gần nơi quân đội Mĩ trú đóng.  Nhưng lính mĩ nổ súng và súyt tí nửa là đã giết chết cô ta.

 

        Khi lực lượng đặc biệt Mĩ đến hùng hổ xông vào bệnh viện lúc hừng sáng, với những công cụ tinh vi, cả bệnh viện ai cũng ngạc nhiên.  Các bác sĩ đã nói trước với lính Mĩ là không có lính Iraq ở đây, và họ chờ lính Mĩ đến để trả cô Lynch về cho họ.

 

        Bác sĩ Anmar Uday nói với kí giả John Kampfner (đài BBC):  “[Cuộc hành quân] giống y như là một đoạn phim của Hollywood.  Trong bệnh viện hoàn toàn không có bóng dáng của lính Iraq nào cả, nhưng lính Mĩ lại sử dụng vũ khí của họ một cách nguy hiểm.  Họ bắn ngẫu nhiên, và chúng tôi còn nghe cả tiếng nổ của lựu đạn.  Họ la hét ‘Go! Go! Go!’  Cuộc tấn công vào bệnh viện là một loại màn trình diễn trên ti-vi, hay một cảnh trong phim đánh đấm với tài tử Sylvester Stallone” (14).

 

        Cuộc “giải cứu” được một phụ tá của Ridley Scott thu hình bằng một máy thu hình ban đêm.  Ridley Scott là đạo diễn Hollywood, và từng làm phim Black Hawk Down (2001).  Theo Robert Scheer, thuộc tờ Los Angeles Times, những hình ảnh này được gửi đến Bộ chỉ huy tiền phương ở Qatar để biên tập, và sau đó thông qua phê chuẩn của Ngũ giác đài, cuốn phim được phân phối toàn cầu (15).

 

        Cuộc giải cứu binh nhì Lynch là một biên niên sử của kĩ nghệ tuyên truyền.   Ở Mĩ, cô Lynch có lẽ thể hiện một thời điểm anh hùng trong cuộc chiến, ngay cả câu chuyện chỉ là một sự ngụy tạo như những dối trá chung quanh câu chuyện Saddam Hussein tàng trữ vũ khí tàn phá hàng loạt, hay mối liên hệ giữa chế độ Iraq và al-Qaeda.

 

        Bush và các quan chức thân cận của ông đã và đang lừa gạt người Mĩ và dư luận thế giới.  Như Giáo sư Paul Krugman nói, những dối trá của họ là “cái xì-căng-đan tồi tệ nhất trong lịch sử chính trị nước Mĩ, tồi tệ hơn cả Watergate, tồi tệ hơn cả vụ Iran-contra” (16).

 

Chú thích:

(*) Nguyễn Văn lược từ bài viết “State-sponsored lies” của Ignacio Ramonet, đăng trên Tạp chí Le Monde Diplomatique, số ra tháng 7 năm 2003.

(1)   "Poles apart", Le Monde diplomatique, English language edition, March 2003.

(2) International Herald Tribune, 14 June 2003 and El País, Madrid, 1 and 10 June 2003.

(3) Libération, Paris, 28 May 2003.

(4) New Yorker, 6 May 2003. See as published oncommondreams.org

(5) Press Release : US Department of Defense, Wolfowitz Interview with Vanity Fair's Tannenhaus. Published on www.scoop.co.nz/mason/stories/WO030...

(6) Time, 9 June 2003.

(7) See Le Monde, 10 and 20 March 2003 and Le Figaro, 15 February 2003. See also Anna Bitton, "Ils avaient soutenu la guerre de Bush", Marianne, 9 June 2003.

(8) El País, Madrid, 4 June 2003.

(9) www.herodote.net/histoire02151.htm.

(10) See "Entretien avec Noam Chomsky", Télérama, 7 May 2003.

(11) See La Tyrannie de la communication, Gallimard, Folio actuel series, no 92, Paris, 2001.

(12) This "nurse" was the daughter of the Kuwaiti ambassador in Washington, and her account was created for the Rendon Group consultancy by Michael K Deaver, formerly media adviser to Ronald Reagan.

(13) El País, 7 May 2003.

(14) John Kampfner, 'Saving Private Lynch story 'flawed', BBC, London, 18 May 2003

(15) Los Angeles Times, 20 May 2003. See also: www.robertscheer.com

(16) The New York Times, 3 June 2003.

 

Mark_03.gif (833 bytes) Go to top page

 
half_under_water_sw.gif (3365 bytes)

Home  | Về trang mục lục


© Giao Điểm.  Bài đã đánh vi tính, xin gởi attachment về email: hopthu@giaodiem.net