curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

Diễn đàn mở rộng của nhóm chủ trương Giao Điểm

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

..........

    03_gd09.JPG (8261 bytes)

    Tôn giáo: vấn đề của thời đại:

 blue_dot.gif (122 bytes) Darwin và thuyết Tiến hóa Trần Chung Ngọc

 blue_dot.gif (122 bytes) Thư của Charlie Nguyễn trả lời nhóm Thánh Gia

 blue_dot.gif (122 bytes) đạo Hồi: đức tin của chiến tranh và bạo lực Charlie Nguyễn

 blue_dot.gif (122 bytes) Hội thừa sai và chính sách đế quốc tại VN... P. JN. Tuck Uỷ ban đoàn kết Công giáo

 blue_dot.gif (122 bytes) Hồ sơ tội ác của Hội thừa sai Pari và Giáo hội CGVN  Charlie Nguyễn 

 blue_dot.gif (122 bytes) Nguyễn Văn Trung: kẻ ám sát tôn giáo   Trần nghi Hoàng

 blue_dot.gif (122 bytes) Những điều răn đã mất giá trị  Nguyễn Ái Thư dịch new_03.gif (2954 bytes)

  blue_dot.gif (122 bytes) Hiện tượng ‘Nguyễn huệ Nhật” Trần Chung Ngọc new_03.gif (2954 bytes)

  Vấn đề lịch sử - hư cấu tiểu thuyết và sự ngộ nhận của tri thức:

 blue_dot.gif (122 bytes) Giáo sĩ    Trần Vũ

 blue_dot.gif (122 bytes) Phản ứng qua bài “Giáo sĩ’ và trả lời của tác giả

 blue_dot.gif (122 bytes) Lịch sử trong tiểu thuyết - một tuỳ tiện ý thức   Trần Vũ 

  40 năm nhìn lại - PG 63:

 blue_dot.gif (122 bytes) Cuộc chơi hơn nủa đời người  Hoàng Nguyên Nhuận

     đặc biệt của Chính Đạo:

 blue_dot.gif (122 bytes) “Phiến Cộng” trong dinh Gia Long (phần I)

 blue_dot.gif (122 bytes) Những thế lực chi phối bên ngoài (phần II)

 blue_dot.gif (122 bytes) Sự điên rồ của tập thể gia đình cai trị và Kết từ 

   Câu chuyện thời sự trong tháng 9:

 blue_dot.gif (122 bytes) Tay vấy máu?  Nicolas Kristof

 blue_dot.gif (122 bytes) Giải phóng bắng hình ảnh Nguyễn Văn

 blue_dot.gif (122 bytes) Bóng ma của Uday and Qusay        Robert Fisk 

 blue_dot.gif (122 bytes) Giới thiệu sách mới: “VN: Spirit of the Earth”

 blue_dot.gif (122 bytes) Tín vắn đó đây

 blue_dot.gif (122 bytes) Chính quyền Bush và Iraq   TCN

     Bạn đọc góp ý:

 blue_dot.gif (122 bytes) Thư góp ý pháp lệnh tôn giáo  Học Hội Giêsu giáo

08_gdmau.jpg (3664 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
whiteball.gif (923 bytes)    Trang nghiên cứu đối thoại quý 3 tháng 9-2003    whiteball.gif (923 bytes)

  

Vài lời của Giao Điểm: Giáo sư Patrick J.N. Tuck là một nhà nghiên cứu, giáo sư sử học tại đại học Liverpool, Anh quốc. Ngoài tác phẩm lịch sử “Thừa sai Công giáo Pháp và các chính sách của đế quốc tại VN 1857-1914” (The French Catholic Missionaries and the Politics of Imperialism in VN 1857-1914) đã được Uỷ Ban Đoàn Kết Công giáo Yêu nước VN dịch và xuất bản năm 1989 mà chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu trên mạng lưới GĐ, ông còn xuất bản các tác phẩm khác liên quan đến vai trò của Thiên Chúa giáo La mã kết hợp với thế lực đế quốc trong chính sách xâm lăng Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng như:

- The French Wolf and the Siamese Lamb - The French Threat to Siamese Independence 1857-1907, White Lotus 1995

- The East India Company 1600-1858, Routledge 1998

- Britain and the China Trade 1635-1842, Routledge 2000 v.v...

Giáo sư Tuck hiện là Giám đốc Ban Nghiên cứu Lịch sử Hiện đại và Chính trị thuộc đại học Liverpool, thủ đô Luân Đôn, nước Anh. Ông đã từng được giải Viện trưởng, tuyên dương là giáo sư giảng dạy xuất sắc năm 1996. Chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu bản dịch Việt ngữ của tác phẩm trên từng kỳ, và sẽ có phần điểm sách và giới thiệu các công trình liên hệ của giáo sư Patrick J.N. Tuck đến quý độc giả Việt trong và ngoài nước. Địa chỉ @ liên lạc với giáo sư Tuck : pj630@liverpool.ac.uk

Phụ trách web GĐ, nvh. 

THỪA SAI CÔNG GIÁO PHÁP
CÁC CHÍNH SÁCH CỦA ĐẾ QUỐC TẠI VIỆT NAM
1857 – 1914
 
Patrick J.N.Tuck
MỘT BỘ SƯU TẬP TƯ LIỆU
(LIVERPOOL UNIVERSITY PRESS, 1987)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
UBDKCGYNVN
TP. HỒ CHÍ MINH 1989

   Giáo hội Việt Nam đã có trên 400 năm lịch sử, với những khởi đầu, những giai đoạn thăng trầm rất phức tạp nhất là do ảnh hưởng các tình huống bối cảnh chính trị xã hội của đất nước qua các triều đại nhà Nguyễn.

Trước giải phóng đã có những cuốn giáo sử Việt Nam được xuất bản, cách riêng tại Miền Nam Việt Nam. Nhưng các tư liệu lịch sử liên quan đến giáo hội Việt Nam được xuất bản lại rất hiếm hoi.

Patrick J.N. TUCK, một sứ giả kiêm sử gia người Ấn Độ, hiện là giảng sư đại học Liverpool ở Anh, đã có công sưu tập nhiều tư liệu liên quan đến giáo sử Việt Nam, trích từ kho tàng văn khố của Hội Thừa sai Hải ngoại Paris, phần lớn chưa hề được phổ biến.

Chúng tôi xin giới thiệu bạn đọc Việt Nam bộ sưu tập tư liệu quí giá này, dịch từ văn bản tiếng Anh, nhằm góp một phần nhỏ bé gợi hứng cho những ai đang thao thức tìm hiểu Giáo sử Giáo hội Việt Nam và đối với người Công giáo nói riêng, đang tha thiết yêu mến và phục vụ Giáo hội với lòng mong muốn được có thêm những nhận thức cần thiết về các tình tiết phong phú và nhiều phức tạp của Giáo hội Mẹ mìn trong các thời cận đại và hiện đại.

Lời nói đầu

Bộ sưu tập các văn kiện này không có ý khảo cứu toàn bộ lĩnh vực hoạt động truyền giáo ở Việt Nam trong thời kỳ 1857 - 1914 mà chỉ bàn đến những mối quan hệ giữa chính quyền thực dân Pháp và Hội Thừa Sai Pháp ở Hải ngoại - Hội Thừa Sai duy nhất của Pháp có hoạt động trong vùng. Sách này nhằm mục đích giúp các sinh viên khoa sử học làm quen với việc đối chiếu và giải thích chứng cứ lịch sử qua nghiên cứu một số mẫu tài liệu nguyên bản có liên hệ. Việc biên soạn cũng nhằm trình bày những chứng liệu hơn là để rút ra những kết luận. Trước mỗi phần trưng dẫn văn kiện đều có đoạn bình luận ngắn, xác định những thay đổi quan trọng trong tình hình lịch sử và ở cuối sách có một chương ghi chú về tiểu sử, cho biết nghề nghiệp của những nhân vật quan trọng. Bối cảnh của mỗi văn kiện lại có thể xác định được qua các tác phẩm và các bài viết sao chép có trưng dẫn trong phần thư tịch ở cuối mỗi phần.

Cũng cần lưu ý là vì nguồn tài liệu bị hạn chế, nên sách này chỉ đề cập đến một phạm vi có giới hạn. Nó phản ánh mối quan hệ giữa nhà cầm quyền Pháp ở cấp cao với hàng Giáo quyền của hội Thừa Sai Pháp, cũng như những quan hệ nội bộ của mỗi bên.

Cũng không có được nhiều văn kiện xuất phát từ nhà cầm quyền địa phương của Pháp ở Việt Nam và không có một văn kiện nào từ văn khổ của các vị Đại diện Tông toà trong Hội Thừa sai Hải ngoại. Sách cũng chẳng được bao nhiêu tài liệu có nguồn gốc từ Hội Thừa sai Tây Ban Nha và giới hành chính Việt Nam. Đây là chuyện thật đáng tiếc, vì điều kiện của mỗi vị đại diện Tông toà rất khác nhau, nhưng trong sách này, sự khác biệt ấy chỉ được nhận thấy rất lờ mờ. Tài liệu của các đại diện Tông toà lưu trữ tại địa phương có thể không còn nữa. Còn tài liệu của các nhà cầm quyền Pháp và Việt Nam tại các tỉnh được lưu trữ ở văn khổ Quốc gia của Việt Nam lại không nằm trong tầm tay cá nhân tôi. Những điều ấy tuy đáng tiếc, nhưng chưa đến nỗi hoàn toàn gây bế tắc, ví những tài liệu sưu tầm được từ tàng thư của Phủ toàn quyền Đông Dương, Bộ thuộc địa và Hội Thừa sai ở Paris, cũng bao gồm được hầu hết các khía cạnh trong mối quan hệ giữa chính phủ và Hội Thừa sai, nằm trong phạm vi những chủ đề chính của sách này. Hơn nữa, những thiếu thốn tài liệu từ phía Hội Thừa sai Tây Ban Nha từ phía người Việt Nam và từ phía các tỉnh cũng có thể được bù lại đôi chút bằng những phương cách khác. Nguồn tài liệu chính từ phía Chính phủ Pháp ở Aix-en-Provence - Văn khố Nha Thuộc địa (về sau đổi thành bộ) và chính quyền trung ương ở Đông Dương - có chứa lẻ tẻ một ít các văn kiện của các tỉnh. Tuy chừng đó chưa đủ để tổng hợp đến nơi đến chốn, nhưng cũng đủ để chúng ta suy gẫm về một số vấn đề. Mặc dù các tài liệu liên hệ đến các đại diện tông toà Dòng Đa-Minh người Tây Ban Nha ở miền Đông và miền Trung Bắc kỳ hiện nay được lưu trữ ở Manila - không được tham khảo đến, nhưng một số thư của các Giám mục Đa Minh như Tây Ban Nha trong Biên niên Sử về việc truyền bá Đức tin đã được dùng đến. Trở ngại lớn nhất là sự nghèo nàn số tài liệu mà tôi thu được từ Triều đình và giới cầm quyền Việt Nam. Thế nhưng tôi vẫn trưng dẫn được một vài văn kiện tiêu biểu, nếu không nói là đều đặn, những kiến nghị và chiếu chỉ của Việt nam đã được dịch, có lẽ khá sơ sài, bởi các quan chức thuộc địa và các thừa sai. Những văn kiện này được rút ra từ các tác phẩm đương thời, hoặc từ những bản phụ đính trong các công văn chính thức của Pháp. Những từ ngữ dùng trong các bản dịch từ tiếng Việt sang tiếng Pháp thường bộc lộ tính thiên lệch trong quan điểm người dịch và tôi đã cố gắng chuyển những nét ấy sang tiếng Anh. Nhưng rõ ràng là bản dịch tiếng Anh từ những bản dịch tiếng Pháp ngữ có thể vừa thiên lệch vừa thiếu chính xác, lại càng cần được sử dụng một cách thật thận trọng.

Phần lớn những tài liệu trình bày trong sách này từ trước đến nay vẫn chưa được ấn hành nhất là đối với phần cuối thời kỳ. Nhưng một số tài liệu có nguồn ngốc từ chính phủ và Hội Thừa sai liên quan đến thập niên 1860 và 1870 đã xuất hiện trong ba tác phẩm quan trọng bàn đến những vấn đề của Hội Thừa sai: Cuốn La geste Francaise en Indochine của Georges Taboulet ( Paris 1955, gồm hai tập) đồ sộ, nhưng quá thiên lệch. Cuốn La Place du Catholicisme dans les relations entre la France et le Việt Nam de 1851 à 1870 của E. Võ Đức Hạnh (Leydon 1963,3 tập) nhiều chi tiết và bình quân hơn. Cuốn Les Missions Étrangères et la pénétration Francaise en Việt Nam của N.D. Lê (Paris 1975), phong phú, nhưng lộn xộn. Cả ba tác phẩm đều có những giới hạn quan trọng. Trong lúc Taboulet có vè như vừa tham khảo được văn khố trung ương của Hội Thừa sai Hải ngoại, vừa tham khảo được văn khố của các đại diện Tông toà ở Đông Dương, thì những hoạt động truyền giáo lại chỉ là một đề tài - thứ yếu trong tập hai ( 1858-1914) trong đó tác giả ít khi trưng dẫn các tài liệu của Hội Thừa sai. Tác phẩm của Võ Đức Hạnh lại có nhược điểm trái ngược với Taboulet. Mặc dầu sách của ông có trình bày chi tiết và cặn kẽ về quan hệ của Hội thừa sai với nhà cầm quyền Pháp và Việt Nam trong một thời kỳ, tuy ngắn, nhưng đặc biệt quan trọng (1851-1870), nó không có một văn bản nào được trưng dẫn từ tàng thư của Hội Thừa sai vào thời kỳ sau năm 1859. Sách của ông Lê, tuy cũng bàn về một đề tài trong một thời kỳ dài hơn (1850-1882), lại hoàn toàn không có các tài liệu đầu tay bắt nguồn từ các Thừa sai.

Sách này mặc dù có những hạn chế khác, sẽ lấp đầy được những thiếu sót nói trên, vì tôi có thể tham khảo được khá nhiều tài liệu của Hội Thừa sai, để có thể bàn về những chủ đề chính trong sách này cho đến năm 1914.

Đôi lời cảm tạ

Tôi muốn bày tỏ lòng tri ân của tôi đối với ông R.P.Jean Verimaud đã quá cố, giám đốc văn khố của Hội Thừa sai Paris, không những về lòng tốt của ông đã cho phép ấn hành những văn kiện thuộc văn khố của Hội, mà còn về những giây phút bổ ích và sung sướng mà tôi được phép thảo luận với ông về lịch sử của Hội tại Việt Nam. Ông là người có óc hài hước ý nhị và lòng quản đại kín đáo, cái chết của ông là một mất mát lớn. Tôi rất đau buồn thương tiếc ông.

Tôi cũng muốn biểu lộ lòng biết ơn của tôi với các vị giám đốc và những nhân viên trong các văn khố của chính phủ Pháp mà tôi đã đến tham khảo trong khi biên soạn sách này. Tôi muốn cảm ơn họ đã để cho tôi được tham khảo những tài liệu họ đang giữ và về sự giúp đỡ nhiệt tình và lịch sự của họ khi phải tìm kiếm một văn kiện. Tôi đã được sự giúp đỡ đặc biệt của cô M.A. Ménier và bà Pouli quen thuộc văn khố Trung ương (Nha Hải ngoại) và của N.J. MAUREL thuộc tổng kho lưu trữ các văn khố hải ngoại ở Aix-en-Provence và tôi rất tỏ lòng mang ơn họ. Tôi cũng ngỏ lời cảm ơn ông giám đốc và các nhân viên thuộc văn khố Quai d’Orsay và văn khố về thành tích lịch sử của hải quân, về những sự giúp đỡ tương tự. Tôi cũng tri ơn ông Nguyễn Ngọc Tri, giám đốc khu Việt Nam thuộc viện bảo tàng Anh Quốc và giáo sư Hoàng Xuân Hãn về sự giúp đỡ những tài liệu minh hoạ. Tôi cũng muốn bày tỏ lòng biết ơn của tôi đối với Hàn Lâm Viện Anh và khoa sử học của đại học Liverpool về những khoản trợ cấp rộng rãi giúp cho việc ấn hành cuốn sách này và đối với tiến sĩ Michael de Cossart về lòng tốt của ông khi ông dành thì giờ và kiến thức chuyên môn để giải quyết những vấn đề kỹ thuật và biên tập khi ấn hành sách này. Sau rốt, tôi sung sướng bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt đối với giáo sư Nguyễn Thế Anh thuộc trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Paris, vì ông đã đọc và phê bình bản thảo cuốn sách này.

Mọi khuyết điểm trong sách này đương nhiên là trách nhiệm của cá nhân tôi.

DẪN NHẬP
 
NHÀ NƯỚC PHÁP VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI
THỪA SAI PHÁP Ở CHÂU Á TỪ THẾ KỶ MƯỜI BẢY ĐẾN GIỮA THẾ KỶ MƯỜI CHÍN.
  • Các công ty có giấy phép của nhà vua và các nhà chung thừa sai Pháp ở Châu Á dưới ٣hế độ ngày xưa.

            Từ khi phái Trọng thương ở Pháp được hình thành vào đầu thế kỷ XVII, cho đền khi công ty thường trực Ấn Độ bị sụp đổ vào giữa thế kỷ XVIII, lợi ích của các thừa sai Pháp ở Á Châu vẫn được ủng hộ đều đặn -và đôi lúc nhiệt tình của các cơ quan ngoại giao- thương mại và Hải quân thuộc triều đình Pháp. Hoàng gia và các triều thần Pháp, công cụ trong việc hoạch định, tài trợ và khuyến khích nhiều công ty tiếp nhau đến buôn bán từ Sénégal đến miền duyên hải Trung Quốc, đều chia sẻ những mục đích truyền giáo của các thừa sai công giáo và đã bày tỏ một sự ủng hộ đồng nhất. Trong việc này hoàng gia Pháp còn được đức giáo Hoàng khuyến khích các nhà truyền giáo và hoạt động thương mại của Pháp được coi là lựu lượng năng nổ hơn trong việc phát triển Kitô giáo ở Châu Á, so với đế quốc thương mại Bồ Đào Nha đang suy thoái.

            Sự ủng hộ nhiệt tình của Pháp đối với hoạt động thừa sai được chứng tỏ bằng việc thành lập vào năm 1944 hội thừa sai hải ngoại,một tổ chức mới và quan trọng, nhằm mục đích truyền giáo ở Châu Á. Vào thập niên 1960, Đức Giáo Hoàng bắt đầu sửa đổi giáo luật, đã từng cho phép Bồ Đào Nha độc quyền gởi các thừa sai đến vùng Châu Á, bằng cách thành lập các giáo khu mới cho thừa sai Pháp cai quản.

            Được ủng hộ bởi Hoàng gia Pháp và được khuyến khích bởi Đức Giáo Hoàng, các nhà chung thừa sai Pháp có khuynh hướng phát triển sự hợp tác chặt chẽ với các cơ sở thương mại Pháp. Sự trợ giúp lẫn nhau có nhiều hình thái. Điều lệ của một số công ty Pháp được phép thành lập từ buổi đầu, có quy định trách nhiệm yểm trợ và phát huy truyền bá đạo Kitô. Các thừa sai cũng tham dự trong Các đoàn sứ thần Pháp đến với các nhà cai trị ở Châu Á, để đòi hỏi đặc quyền thương mại và truyền giáo.

            Các thừa sai hoạt động ngoài phạm vi mạng lưới thương mại của các công ty, đôi khi lại thương lượng với các vua ở Châu Á, để xin phép đặt cơ sở buôn bán cho các công ty ấy. Các nhà quản trị các cơ sở công ty thường xuyên mượn cơ sở của thừa sai tại địa phương làm chỗ giao dịch. Và đôi khi Hoàng Gia Pháp bằng lòng yểm trợ quân đội và hải quân cho những cuộc phiêu lưu, vừa để thương mại lẫn truyền giáo, chẳng hạn như việc cố gắng đẩy ảnh hưởng Tin Lành của Anh Quốc và Hà Lan ra khỏi Thái Lan trong thập niên 1960. Trong phạm vi có thể về mặt tài chánh và chính trị, Hoàng gia Pháp thông qua các công ty được cấp phép, coi quyền lợi của Pháp về thương mại và truyền giáo như là một trách nhiệm chung không thể tách rời được ở Châu Á.

            Nhưng vào cuối thế kỷ XVIII, việc can dự của nhà nước vào công việc thương mại và truyền giáo của Pháp ở Châu Á giảm dần. Sự cắt giảm tài trợ đó của nhà nước từ từ và không đều đặn. Những tai hoạ của cuộc chiến tranh Anh - Pháp vào thập niên 1750 và 1760 ở Ấn Độ, đã làm hại đến uy tín tài chính của công ty thường trực Ấn Độ, một trong những công ty cuối cùng và thành công nhất trong số các công ty được Hoàng gia cấp phép. Tài chánh của công ty ấy trở nên quyện chặt vào cuộc khủng hoảng nợ nần của Hoàng gia và cuối cùng công ty phá sản vào năm 1769. Cùng với sự suy sụp của công ty ấy, Hoàng gia Pháp cũng bỏ hẳn quyền lợi tài chánh trực tiếp của mình trong công việc buôn bán ở Châu Á. Kết quả là cố gắng của người Pháp về mậu dịch mất hẳn nguồn đầu tư chính và thu hẹp lại thành một loạt những hoạt động tư nhân nhỏ nhoi. Đương nhiên Hoàng gia Pháp không từ bỏ những trách nhiệm về chính trị và tôn giáo của mình. Hải quân Hoàng gia vẫn tiếp tục được bố trí để đương đầu với đoàn tàu Anh quốc ở Ấn Độ Dương vào lúc có chiến tranh ở lục địa. Đôi lúc Hoàng gia Pháp còn yểm trợ về mặt ngoại giao cho công cuộc truyền giáo : trong một trường hợp đáng lưu ý về sau này, Louis XVI đã phê chuẩn một hiệp ước do Pigneau đe Béhaine, giám ục Adrana soạn thảo, cam kết yểm trợ về quân sự và tài chánh để đưa ông hoàng Nguyễn Ánh lên ngôi tại Việt Nam. Nhưng trong đa số các phương tiện, sự khích lệ chung của nhà nước đối với hoạt động truyền giáo đã mất đà khi cuộc cách mạng Pháp năm 1789 bắt đầu và đánh dấu một sự sút giảm rõ rệt những yểm trợ của Pháp đối với các nhóm Thừa sai.

  • Sự sút giảm hoạt động của các Thừa sai ở Châu Á trong thời cách mạng Pháp và dưới đế chế Napoléon 1789-1815.

            Cùng với sự sụp đổ của chế độ quân chủ vào năm 1792, các hội Thừa sai không những bị mất sự bảo vệ của nhà nước, mà còn mất mọi hình thức trợ giúp từ Pháp, đặc biệt là sự bảo trợ của giới quý tộc và tu sĩ, vẫn được tài trợ và cung cấp nhân sự từ trước đến nay cho các hội Thừa sai.

            Thiếu hẳn nhân sự và tiền bạc - và trong nhiều trường hợp còn bị chính thức bãi bỏ tư cách Hội đồng ở Pháp. Các nhà chung thừa sai Pháp đã thu nhỏ lại như một cái bóng của mình trước đó vào đầu thế kỷ XIX. Sau cuộc cách mạng và thời đế chế Napoléon, tuy các hội thừa sai và các cơ quan nhà nước có hợp tác với nhau, mỗi bên thường có khuynh hướng theo đuổi nhưng mục tiêu song song khác nhau hơn là theo đuổi cùng những mục đích chung.

Mặc dầu Napoléon ước ao muốn phục hồi và tái lập vai trò của pháp ở Châu Á, sự suy giảm trong buôn bán và truyền giáo ở Châu Á không đảo ngược tình thế được bằng những thành quả trong thời gian ông tại vị : Từ 1797, Napoléon đã tìm cách đẩy người Anh ra khỏi Ấn Độ và tăng cường sức mạnh của Pháp ở Ấn Độ Dương và vùng biển Đông Nam Á. Sự thành công của một công trình như vậy cho phép nhà nước phục hồi một cách đáng kể việc trợ giúp cho các nhóm thừa sai Pháp với tư cách là những đại diện không chính thức và rải rác khắp nơi cho ảnh hưởng chính trị của Pháp. Dự án của Napoléon ban đầu đầy hứa hẹn với việc chiếm được Ai Cập, nhưng nó bị thất bại khi hạm đội Nelson chỉ huy bị đánh bại ở ngoài khơi sông Nil năm 1718. Napoléon không mất hết hy vọng tìm được phương cách khác để đẩy người Anh ra khỏi Châu Á, nhưng nỗ lực liên tục của ông nhằm lật đổ sự thống trị của Anh lại tạo ra hậu quả trái ngược với ý định của ông : nó khuyến khích việc thu hẹp sức mạnh thương mại và hải quân. Vào năm 1815 ảnh hưởng của Pháp ở Châu Á đột ngột suy giảm do sự bại trận của Hải quân ở trong vùng. Việc mất Mauritius làm Pháp mất đi hải cảng duy nhất của họ ở Ấn Độ Dương và hạn chế họ ở đảo Bourbon và các thị trấn rải rác khác ở Ấn Độ - chủ yếu là Pondi-cherry, Chandernagore, Mahé và Karikal. Trong lúc ấy, việc buôn bán của Pháp ở Châu Á đã không tự nhiên bành trướng trong đế quốc, mặc dầu những hạn chế về sự độc quyền của các công ty đã đượcãi bỏ từ 30 năm trước. Từ vùng Ấn Độ Dương thuộc Pháp và các vùng duyên hải phụ cận, các nhà doanh nghiệp tư, với số vốn ít ỏi vẫn tiếp tục điều hành một nền mậu dịch nhỏ nhoi với Trung Quốc qua vùng biển Đông Nam Áٮ Mặc dầu các thừa sai Pháp và các thương buôn đôi lúc cũng có thể giúp đỡ lẫn nhau, các cơ quan nhà nước trong vùng tỏ ra chẳng yểm trợ hoặc ủng hộ bao nhiêu cho những mục tiêu của hội thừa sai.

  • Sự phục hồi hoạt động của các thừa sai Pháp ở Châu Á sau 1815.

            Sau khi Napoléon bị lật đổ, hoạt động của hội thừa sai đã phục hồi trước mọi hình thức hoạt động khác của Pháp ở Châu Á, chính trị cũng như thương mại. Các hội thừa sai bắt đầu được tái sinh ở Pháp, cuộc phục hưng Bourbon năm 1815 đã chứng kiến không những sự phục hồi ảnh hưởng chính trị của giới giáo sĩ, mà còn cả một làn sóng quần chúng trở về với tôn giáo chống lại đường lối cấp tiến của chế độ cách mạng và chế độ Napoléon.

            Hiệu quả của những thay đổi này đến được Châu Á rất chậm, vì những hội thừa sai quan trọng cần có thời gian để chấn chỉnh lại cơ cấu trung ương. Dòng Lazarô và hội thừa sai hải ngoại được cho phép hoạt động lại trong khoảng thời gian từ 1816-1820, nhưng mãi đến năm 1823, chủng viện nổi tiếng của hội ở đường Du Bạc mới được mở cửa lại. Một yếu tố khác quan trọng hơn đã kích thích sự phục hồi hoạt động của các hội thừa sai, là việc thành lập ở Lyon năm 1822 một cơ quan gây quỹ mới rất hữu hiệu, đó là hội truyền bá đức tin. Hội này trở thành tổ chức tài chánh trung ương của toàn bộ phong trào hoạt động thừa sai ở Pháp. Vào năm 1839, hội truyền bá đức tin đã nhận được gần hai triệu Francs do tự nguyện đóng góp. Sự thành công của hội là triệu chứng rõ nhất cho thấy quần chúng đã gia tăng ủng hộ các hoạt động thừa sai và đã đánh dấu bước khởi đầu thực sự của các hoạt động ấy. Cho đến thập niên 1830, khi các hoạt động thừa sai Pháp ở Viễn Đông bắt đầu lớn mạnh ồ ạt, người ta mới thấy tác dụng tài chính quan trọng của việc gây quỹ. Dòng Lazarit, dòng Marit, hội hoạt động thừa sai hải ngoại, đã nhận khá nhiều trợ cấp để mở rộng phạm vi hoạt động và đi vào những vùng đất mới.

            Năm 1839, Đức Giáo Hoàng Grêgoriô XVI đã chính thức thừa nhận hoạt động thừa sai Pháp là chủ lực ở Viễn Đông, bằng cách thuyết phục triều đình Lisbon từ bỏ cái Padroado, tức là đòi hỏi của Bồ Đào Nha muốn độc quyền bổ nhiệm người vào các tòa giám mục đã có ở Châu Á. Hầu hết các tòa này bấy giờ được chuyển giao cho các thừa sai Pháp. Thêm mười bốn giáo khu hoặc hạt mới được thành lập và giao cho các linh mục người Pháp thuộc dòng Lazarit, hoặc dòng tên, hoặc hội thừa sai hải ngoại vào thập niên 1830 và 1840.

Hội thừa sai hải ngoại chiếm phần lớn các giáo khu mới thành lập, cộng thêm với trách nhiệm từ trước trong nội địa Đông Nam Á. Ở đó các giáo khu dưới quyền kiểm soát của Hội được tách ra và nhân lên. Ngoại trừ Giáo khu Đông Bắc kỳ vẫn còn thuộc các tu sĩ Đa Minh người Tây Ban Nha xuất phát từ Phi Luật Tân, tất cả các giáo khu khác ở Việt Nam đều được giao cho Hội Thừa sai Hải ngoại Pháp. Giáo khu Nam Kỳ (lúc ấy bao gồm cả Trung Kỳ và Cao Miên) được chia thành hai giáo khu năm 1844, rồi lại được chia thêm một lần nữa để thành Giáo khu thứ ba năm 1850.

            Năm 1846, giáo khu Tây Bắc Kỳ được phân chia vào một Giáo khu mới, Nam Bắc Kỳ được thành lập. Vào sâu hơn trong nội địa, một Giáo khu mới ở Mã Lai được thành lập bằng cách tách ra khỏi giáo khu Thái Lan năm 1841. Sau rốt, các Giáo khu mới ở Nhật Bản, Mãn Châu, Tây Tạng và Miến Điện (Ava và Fegu) được thành lập giữa những năm1831 và 1856. Cả những Giáo khu này cùng với 4 Giáo khu ở Nam Trung Quốc đều được giao cho Hội Thừa sai Hải ngoại. Mặc dù vùng lãnh thổ trách nhiệm rất lớn lúc ấy còn bao gồm cả một Giáo khu ở Ấn Độ thành lập năm 1776 và sau này được chia nhỏ vào năm 1845 và 1850 - trung tâm trách nhiệm của Hội vẫn đặt ở Việt Nam. Ở đó con số người theo đạo lên tới 3.400.000 vượt xa tất cả các Hội Thừa sai công giáo khác ở Châu Á, ngoại trừ Phi Luật Tân thuộc Tây Ban Nha.

  • Sự bành trướng của nước Pháp và Hội Thừa sai Pháp ở Châu Á 1815 - 1840.

            Cho đến thập niên 1840, sự bành trướng của hội Thừa sai Pháp ở Châu Á trông cậy rất ít vào sự yểm trợ của nhà nước.

            Các nhà phục hưng Bourbon tuy có ưu đãi các hội dòng Thừa sai, bằng cách cho phép hội hoạt động lại, nhưng cũng chẳng làm gì nhiều để bảo vệ và khuếch trương hoạt động của Hội trong vùng Viễn Đông. Thiếu đồng minh ở Châu Âu, và muốn tránh đụng chạm quyền lợi với Anh Quốc ở Châu Á, các chính phủ thời phục hưng không muốn theo đuổi việc phục hồi sức mạnh hải quân và ảnh hưởng ngoại giao của Pháp ở vùng Viễn Đông. Kết quả là nhà nước thiếu hẳn những cơ quan để có thể trợ giúp cho các vùng ấy thường xuyên hơn.

            Sự phản ứng tôn giáo ở Pháp cũng chưa có mang lại lợi ích gì cho các đoàn Thừa sai khi các nhân vật chính trong triều đại Bourbon nhường chỗ cho cánh Orléans trong cuộc cách mạng 1830. Chế độ phục hưng ít nhất cũng có thái độ thiện cảm với sứ mạng truyền giáo nhưng cánh Orléans thì không. Để đương đầu với hàng giáo phẩm bảo thủ công giáo, mà đa số do phe phục hưng bổ nhiệm và chống lại những nguyên tắc của cuộc cách mạng 1830, nội các của Louis Phillipe đã ngã theo lập trường chống giới tu sĩ. Mặc dù có cố gắng ve vãn nhóm công giáo cấp tiến mới ra đời trong một thời gian ngắn và quá chậm trễ, cánh Orléans vẫn theo lập trường chống giáo sĩ cho đến khi sụp đỗ trong cuộc cách mạng 1848. Hậu quả là các Thừa sai đến Châu Á rất đông sau 1830 khó mà trông cậy vào sự yểm trợ của nhà nước.

            Tuy nhiên thật tréo cẳng ngỗng, các Thừa sai Pháp ở Viễn Đông lại nhận được nhiều giúp đỡ của nhà nước trong chế độ chống giáo sĩ của Orléans, hơn là trong thời các chính phủ ủng hộ giáo sĩ của nhóm phục hưng. Vì các nội các về sau của Louis Phillip phục hồi ý định bành trướng ở Đông Á, và trong khi thành lập các cơ quan mới để mở rộng ảnh hưởng Pháp, họ đã thừa nhận trách nhiệm bảo vệ các Thừa sai - không phải vì nghĩa vụ tôn giáo mà vì nhiệm vụ đối với dân tộc.

  • Sự phục hồi chính sách bành trướng của Pháp ở Đông Á 1840 - 1848.

            Nhiệm kỳ của thủ tướng Guizot (1840 -1848) đánh dấu bước khởi đầu một chính sách phối hợp nhằm tăng cường nền mậu dịch Pháp qua việc mở ra một vòng cung bằng sức mạnh của hải quân và đòn bẩy ngoại giao ngang qua Đông Á, từ Ấn Độ Dương đến Trung Quốc và Nam Thái Bình Dương. Việc Pháp tái can thiệp ở Đông Á không phải do những thúc bách xuất phát từ quyền lợi càng ít ỏi của Pháp trong vùng, mà chủ yếu là do chủ trương chính sách nhà nước muốn chuẩn bị cho nhu cầu thương mại trong tương lai. Guizot đặc biệt thèm muốn sự bành trướng thương mại của Anh và Mỹ ở Châu Á và Châu Mỹ, nên cố noi theo. Nền thương mại Pháp có vẻ như không muốn tự nó trở ra mở mang ở Đông Á, nên Guizot muốn khuyến khích nó qua các biện pháp của nhà nước. Guizot không ham thích việc chiếm cứ nhiều đất đai và tránh né những rắc rối quốc tế, hoặc những cam kết với địa phương, kéo theo việc thiết lập các thuộc đại rộng lớn. Ông quan tâm đặc biệt đến mức độ lớn mạnh của nền mậu dịch Pháp. Vì thế quốc tế của Pháp còn yếu kém và bất cứ sự mở rộng quyền lợi nào của Pháp ở Đông Á đều ít nhiều tuỳ thuộc vào sự nhân nhượng của người Anh. Vì thế thay vì chiếm thêm đất đai, Guizot hoạch định mở một chính sách đế quốc thông qua ảnh hưởng gián tiếp, bằng cách phát triển mạng lưới mậu dịch ở Châu Á, qua các hiệp ước thương mại được hỗ trợ bằng sức mạnh hải quân. Để bảo vệ sự lớn mạnh của nền thương mại Pháp trong tương lai, ông áp dụng chiến lược phát triển các căn cứ hải quân biệt lập làm “điểm tựa”, hoặc các cứ điểm hải quân hùng hậu kế cận các thuỷ lộ mậu dịch quan trọng.

            Hải quân Pháp, có thói quen phần nào độc lập trong việc thu nhập những dữ kiện khoa học và địa lý, đã vạch sẵn con đường. Từ đầu thập niên 1800 đôi lúc hải quân đã được giao nhiệm vụ thăm dò và vẽ bản đồ Thái Bình dương. Ở đó, đôi lúc không được phép trước, các sĩ quan hải quân đã sát nhập vào quần đảo Marquise năm 1841 và áp đặt một hiệp ước bảo hộ đối với Tahiti năm 1842. Khi vấn đề được đưa ra để xin hợp thức hoá - Guizot đã công nhận lợi ích của những đảo này đối với quyền lợi đánh cá voi của Pháp ở Thái Bình Dương, nhưng ông mong muốn một chiến lược hợp lý hơn. Những cơ hội mậu dịch mới đang mở ra ở Trung Quốc, khi người Anh đánh thắng cuộc chiến tranh nha phiến năm 1839 1842 ở đó và mới loại bỏ được những hạn chế quan trọng trong công cuộc mậu dịch giữa Anh và xứ sở chúa con trời. Khả năng phát triển một nền mậu dịch béo bở giữa Pháp và Trung Quốc thật là quyến rũ. Guizot đã đồng ý cho phép kiếm một căn cứ hải quân gần hải lộ đến Trung Quốc hơn, giống như vùng Hồng Kông mà Anh Quốc mới chiếm được. Khi chính người Trung Quốc bày tỏ dấu hiệu hoan nghênh ảnh hưởng của Pháp, làm phương tiện giữ thăng bằng áp lực chính trị của Anh, Guizot có được cơ hội thuận lợi để can thiệp bằng ngoại giao.

  • Người Pháp thiết lập được sự hiện diện thường trực về hải quân và ngoại giao ở miền duyên hải Trung Quốc năm 1844 1888.

            Việc Trung Quốc chấp nhận những đề nghị của Pháp đã khuyến khích Guizot theo đuổi một công ước thương mại theo mô hình hiệp ước Nam Kinh (1842) của Anh. Khi chỉ thị cho đại sứ đặc mệnh toàn quyền Pháp De Lagrené, Guizot tỏ ra không tha thiết đến việc đòi đặc quyền cho các Hội Thừa sai ở Trung Quốc. Ông chỉ đặc biệt quan tâm đến mậu dịch. Tuy nhiên quyền lợi tài chính và thương mại của Pháp lúc ấy chưa bức bách phải nhảy vào thị trường Trung Quốc, vì lúc ấy chỉ có một cơ sở thương mại của Pháp hoạt động trên miền duyên hải Trung Quốc. Trong hoàn cảnh ấy, các Thừa sai Pháp trở nên người hưởng lợi đầu tiên do sáng kiến về Trung Quốc của Guizot chứ không phải các thương gia.

            Trong những cuộc thương thuyết giữa Pháp và Trung Quốc dẫn đến hiệp ước Hoàng Phô (1846) các Thừa sai với tư cách là thông ngôn, đã thuyết phục đặt sứ của Guizot, ông De Lagrené đòi cho được một chiêu dụ cho phép truyền đạo, đó là bản tuyên cáo đầu tiên chưa hề đòi được từ phía Trung quốc. Mức độ hiện đại của các Thừa sai, việc họ đòi được bảo vệ cấp bách và sự thành công về ngoại giao của Pháp khi yêu sách một chiêu dụ cho phép truyền đạo tất cả đều khuyến khích Lagrené và những người kế vị ông biến các Thừa sai thành một phương tiện gây ảnh hưởng ngoại giao của Pháp. Lagrené đã vạch ra con đường bằng cách thiết lập độc quyền trách nhiệm của Pháp đối với mọi lợi ích của công giáo ở Trung Quốc một vai trò ngoại giao mà cuối cùng được Đức Giáo Hoàng công nhận như một sự bảo hộ của Pháp đối với các hội Thừa sai công giáo.

Trong lúc ấy, với tư cách là cơ quan ngoại giao duy nhất của Pháp trong vùng Đông Á, lãnh sự quán của Pháp ở Quảng Châu luôn quan ngại đến sự an toàn của các hội thừa sai trong cả vùng, từ Nhật Bản và Triều Tiên cho đến Việt Nam và Thái Lan. Với nhiệm vụ rộng lớn hơn như thế, nó được yểm trợ bằng một lực lượng Hải quân lưu động hầu như lúc nào cũng hiện diện. Một khi đã được thiết lập như các cơ quan của nhà nước trên vùng duyên hải Trung Quốc, các nhà ngoại giao và giới Hải quân Pháp biến thành trung tâm vạch chính sách. Hai bên cùng giữ những vai trò tương đương trong việc yểm trợ những lợi ích của thừa sai khắp miền duyên hải Đông Á, tạo nên một sức ép tại chỗ có ảnh hưởng đến đường hướng về lợi ích chung cuộc cho những cam kết chính trị của Pháp ở trong vùng.

            Sự chú ý của giới Hải quân Pháp lại bị thu hút đặc biệt vào Việt Nam trong đầu thập niên 1840. Vị trí địa lý của Việt Nam như một giải đất phụ thuộc vào nam Trung Quốc, những lợi thế của một bàn đạp ở đó - có thể ở Đà Nẵng hoặc Côn Đảo đã lôi cuốn sự tính toán của Hải quân. Guizot vẫn tiếp tục tránh né các bàn đạp trong nội địa có thể dẫn đến sự dính líu quá nhiều vào chính trị tại địa phương. Nhưng các sĩ quan và các nhà ngoại giao Pháp vẫn tiếp tục chú ý đến Việt Nam trong suốt thập niên 1840, bởi hàng loạt những lời kêu gọi thật khẩn thiết của các thừa sai Pháp tại đó, Xin được bảo vệ để khỏi bị ngược đãi. Các lời than phiền của họ không những kéo dài hơn nhiệm kỳ của Guizot, mà còn tiếp tục gia tăng vào thập niên 1850. Chính vấn đề ngược đãi các thừa sai và việc Hải quân Pháp đáp ứng lời kêu gọi cứu đỡ của họ, đã đóng góp rất nhiều trong việc Pháp quyết định xâm lăng Việt Nam.

(sẽ đăng tiếp trong tháng 10 tài liệu lịch sử quý giá này. GĐ)

 

Mark_03.gif (833 bytes) Go to top page

half_under_water_sw.gif (3365 bytes)

Home  |  Về trang mục lục

 

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net