curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

Diễn đàn mở rộng của nhóm chủ trương Giao Điểm

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

..........

      03_gd09.JPG (8261 bytes)

    Tôn giáo: vấn đề của thời đại:

 blue_dot.gif (122 bytes) Darwin và thuyết Tiến hóa Trần Chung Ngọc

 blue_dot.gif (122 bytes) Thư của Charlie Nguyễn trả lời nhóm Thánh Gia

 blue_dot.gif (122 bytes) đạo Hồi: đức tin của chiến tranh và bạo lực Charlie Nguyễn

 blue_dot.gif (122 bytes) Hội thừa sai và chính sách đế quốc tại VN... P. JN. Tuck Uỷ ban đoàn kết Công giáo

 blue_dot.gif (122 bytes) Hồ sơ tội ác của Hội thừa sai Pari và Giáo hội CGVN  Charlie Nguyễn 

 blue_dot.gif (122 bytes) Nguyễn Văn Trung: kẻ ám sát tôn giáo   Trần nghi Hoàng

  blue_dot.gif (122 bytes) Những điều răn đã mất giá trị  Nguyễn Ái Thư dịch new_03.gif (2954 bytes)

  blue_dot.gif (122 bytes) Hiện tượng ‘Nguyễn huệ Nhật” Trần Chung Ngọc new_03.gif (2954 bytes)

  Vấn đề lịch sử - hư cấu tiểu thuyết và sự ngộ nhận của tri thức:

 blue_dot.gif (122 bytes) Giáo sĩ    Trần Vũ

 blue_dot.gif (122 bytes) Phản ứng qua bài “Giáo sĩ’ và trả lời của tác giả

 blue_dot.gif (122 bytes) Lịch sử trong tiểu thuyết - một tuỳ tiện ý thức   Trần Vũ 

       40 năm nhìn lại - PG 63:

 blue_dot.gif (122 bytes) Cuộc chơi hơn nủa đời người  Hoàng Nguyên Nhuận

     đặc biệt của Chính Đạo:

 blue_dot.gif (122 bytes) “Phiến Cộng” trong dinh Gia Long (phần I)

 blue_dot.gif (122 bytes) Những thế lực chi phối bên ngoài (phần II)

 blue_dot.gif (122 bytes) Sự điên rồ của tập thể gia đình cai trị và Kết từ 

   Câu chuyện thời sự trong tháng 9:

 blue_dot.gif (122 bytes) Tay vấy máu?  Nicolas Kristof

 blue_dot.gif (122 bytes) Giải phóng bắng hình ảnh Nguyễn Văn

 blue_dot.gif (122 bytes) Bóng ma của Uday and Qusay        Robert Fisk 

 blue_dot.gif (122 bytes) Giới thiệu sách mới: “VN: Spirit of the Earth”

 blue_dot.gif (122 bytes) Tín vắn đó đây

 blue_dot.gif (122 bytes) Chính quyền Bush và Iraq   TCN

     Bạn đọc góp ý:

 blue_dot.gif (122 bytes) Thư góp ý pháp lệnh tôn giáo  Học Hội Giêsu giáo

 blue_dot.gif (122 bytes) Đôi điều tâm sự  Quản Đức Me

08_gdmau.jpg (3664 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
whiteball.gif (923 bytes)    Trang nghiên cứu đối thoại quý ba tháng 9-2003    whiteball.gif (923 bytes)

Vài lời giới thiệu:

Cách đây vài tháng, tôi đọc được một bản tin đàn áp tôn giáo ở VN trong một diễn đàn internet, có kèm theo cả hình ảnh chứng minh nữa . Tôn giáo đây là một giáo phái của đạo Phản Thệ (Protestanism / còn được gọi là đạo Tin Lành). Nội dung bản tin nói công an quận 3 thành phố HCM “đàn áp tôn giáo” bằng cách ngăn cản sự mở rộng thêm nhà thờ và không cho tụ tập quá đông người, nhưng hình ảnh có vẻ trái ngược nội dung của bản tin : Phía trước một căn nhà lớn (có lẽ làm nhà thờ) nằm trên một khu đất rộng, trống có một anh mặc sắc phục công an đang đứng nói chuyện với một người đàn ông đứng tuổi, hai anh công an khác đang đứng lớ ngớ nhìn, và đứng rải rác chung quanh là một đám thanh, trung niên (có lẽ là các tín đồ Tin Lành) với thái độ hung hăng, thách thức, có kẻ lên nạnh rất ngang tàng. Rõ ràng hình ảnh không thuyết phục chút nào cả đối với cụm từ “đàn áp tôn giáo”. Tôi không có ý định tìm hiểu thêm để xem câu chuyện của sự đàn áp đó đã xảy ra như thế nào, chỉ đưa ra vài nhận xét về khía cạnh tâm lý nổi bật của các bức hình. Câu hỏi được đặt ra tại sao có những thái độ thách thức, hung hăng của các tín đồ Tin Lành đối với các nhân viên công lực của chế độ VN hiện tại?  - Chúng ta biết các giáo phái Tin lành xuất phát từ nước Mỹ, du nhập vào VN từ năm 1911, đạo này không gây nỗi cảm hứng bao nhiêu với người Việt, bởi lẽ dù nó có khác với đạo Catô (Công giáo La mã) về tổ chức rời rạc, manh mún, nhưng nó có cái chung bề mặt như cùng thờ một Chúa, và cả hai cùng dùng cuốn Thánh Kinh có tên là “Tân ước”. Gần 50 năm sau, mức độ thu phục tín đồ vẫn ở con số buồn tẻ, có những tỉnh lẻ ở miền Nam chưa bao giờ người dân nghe tới hai chữ Tin Lành. Dưới chế độ của hai anh em ông Diệm-Nhu, đạo Tin Lành bị một ông tổng thống và một lý thuyết dựa trên sự bành trướng của đạo Catô La mã, Tin Lành đã ngấm ngầm bị trù yếm, ngăn chận. Đạo Tin Lành chỉ thực sự được “cất cánh” sau khi quân viễn chinh Mỹ đổ bộ lên VN, trong đó có những ông Mục sư tuyên uý quân đội, dân sự đi kèm theo, song song với một hiện tượng kinh tế tự phát từ các sự đấu thầu các đống rác Mỹ, các phong trào làm sở Mỹ, thanh thiếu niên nghèo ở các vùng quê chiến tranh đổ dồn về thành phố cần một nơi nương tựa để tiếp tục học hành, hiện tượng đua nhau học tiếng Anh-Mỹ cho tương lai, phong trào tìm đường du học qua sự tài trợ của tôn giáo, và tất nhiên có hàng triệu cuốn “Tân ước” in bằng bìa cứng màu xanh lam đổ tràn vào các mãnh đất ở miền Nam. Tuy nhiên, kết quả con số tín đồ theo đạo cũng không khả quan lắm đâu, bởi con người Việt vốn có tinh thần huyết thống về sự tự trọng và liêm sĩ cao. Bởi vậy, tỉ lệ tín đồ Tin Lành ở VN không phải là con số đáng lo ngại cho Vatican trước một đối thủ mà Giáo hoàng J. Paul II từng gọi là “những con chó sói đói mồi”  (qua sự truyền đạo TL ở các quốc gia vùng Nam Mỹ). Vai trò chính trị của các giáo phái Tin Lành đối với cuộc chiến tranh phi nghĩa ở VN lại càng tế nhị, bởi không có một ông mục sư Tin Lành Mỹ nào muốn đạo mình bị đồng hóa với “đế quốc Mỹ”, cho nên có nhiều Hội thánh của các giáo phái lại còn chống chiến tranh mạnh như giáo phái Quakers chẳng hạn... Nhưng sau ngày đất nước thống nhất, hòa bình, nhất là sau thời kỳ VN đổi mới, thi triển kinh tế thị trường, “vai trò chính trị tế nhị” của Tin Lành đã được cởi tháo, họ trở lại thực thi một chính sách truyền đạo cổ truyền là Kinh Thánh nối kết với sự mua chuộc vật chất. Kế hoạch truyền đạo này rất có hiệu quả đối với một vài quốc gia còn đói nghèo như VN, trong giai đoạn chuyển tiếp về kinh tế và đời sống. Sự đua tranh và mặc cảm về sự thua kém vật chất giữa các cá nhân, gia đình trở thành một yếu tố làm con người cố quên đi vấn đề liêm sĩ, tự trọng... trong một thời gian nhất định. Sự cám dỗ của sự mua chuộc có thể trở thành cứu cánh cho một số người nhắm đến, nhất là đàng sau từng đợt những Việt-kiều-không-Tin-lành – nhất là từ Mỹ, trở về thăm đất nước phô bày những hình ảnh hào nhoáng vật chất  giả tạo. Do vậy, tín đồ Tin Lành 'thời thế' ở VN hôm nay còn len lấn một mặc cảm tự tôn là tín đồ của một cường quốc giàu có, hùng mạnh nhất thế giới. Nhưng sự mua chuộc vật chất không phải là vấn đề đơn giản. Nếu chúng ta tạm thí dụ, các giáo phái Tin Lành Mỹ bỏ ra 10 ngàn đôla phân phối cho một đầu người Việt cải đạo theo Tin Lành, thì chúng ta có thể tin trong vòng một thời gian ngắn, sẽ có con số cả triệu tín đồ mới dễ dàng. Nhưng đó là một thí dụ giả tưởng, trong thực tế không có một giáo phái TL nào đủ khả năng và mong muốn làm điều đó, cho nên việc chọn lựa một thiểu số cuồng nhiệt, hung hăng để mua chuộc, huấn luyện, cải tạo đầu óc, tạo dựng các hiện tượng kỳ quái là một giải pháp khả thi. Chúng tôi tin ông Nguyễn Huệ Nhật là một nhân vật có “khả năng” trong thiểu số được chọn lựa này. Để tự biến mình trở thành một “ứng viên” nổi bật, sáng giá, Nguyễn Huệ Nhật đã viết lách vài cuốn sách, một số bài báo ồn ào, sai sót, nguỵ tạo, động cỡn...  Các yếu tố này đã được giáo sư Trần Chung Ngọc gọi tắt là “hiện tượng nguyễn huệ nhật”.  Thật vậy, hiện tượng ở đây chính là những hình ảnh lố lăng nổi cộm lên che đậy bản chất của kẻ đã nhận được “ơn mua chuộc”. Để  hiểu vì sao có sự lố lăng vĩ đại đó, cần phải phân tích bản chất của nó, gs Trần Chung Ngọc đã bỏ thì giờ quý báu của mình để thay thế độc giả làm công việc phân tích đó. Về tài phân tích của gs TCN quý độc giả đã quá quen thuộc, tôi chỉ xin phép được  thêm một yếu tố thứ ba trong hai yếu tố mà gs (trong phần kết luận) cho rằng - ngày nay Kitô giáo đang sử dụng  “xuyên tạc và gây hận thù”, còn có thêm yếu tố “mua chuộc vật chất” nữa!

Phụ trách web Gđ, nvh.

Giao diem thang 9

HIỆN TƯỢNG “NGUYỄN HUỆ NHẬT”

Trần Chung Ngọc

     Tuy tôi là một Phật-tử, nhưng từ trước tới nay, dù đã viết khá nhiều về Ki Tô Giáo, tôi chưa hề so sánh Kinh Phật với Thánh Kinh, và cũng chưa từng so sánh Phật Pháp với các giáo lý Ki Tô.  Điều này thật là dễ hiểu:  tôi không đến nỗi đần độn đến độ đi so sánh Phượng Hoàng với Chim Sẻ, Rồng với Tôm.  Thứ đến, chỉ có những người hạ căn mới dựa trên những hiểu biết hạn hẹp của mình về tôn giáo của mình để phê bình chỉ trích một tôn giáo khác.  Đây là điều mà ông Nguyễn Văn Trung đã làm khi ông ta viết luận án dỏm về Phật Giáo trong một trường đại học Ca Tô và đã được tiến sĩ Phạm Công Thiện phê bình, dạy bảo từ cách đây mấy chục năm.  Và đây cũng là điều mà Huệ Nhật cũng như một số tín đồ cuồng tín Tin Lành đang cố sức làm.

     Muốn phê bình một tôn giáo, chúng ta cần phải lý luận ngay trên những giáo lý của tôn giáo đó, dựa trên kinh sách của chính tôn giáo đó, trên những luận cứ của tôn giáo đó, trên những tài liệu khảo cứu, phân tích đáng tin cậy của chính những người trong tôn giáo đó,  và nhất là dựa trên những phúc lợi hay thảm họa mà tôn giáo đó đã mang đến cho nhân loại.  Tôi đã áp dụng tiêu chuẩn này khi viết về Ki Tô Giáo.  Cho nên, không có cách nào có thể so sánh Phật Giáo, một tôn giáo chưa hề làm đổ một giọt máu trong quá trình truyền đạo trải dài hơn 2500 năm, với Ki Tô Giáo, một tôn giáo với một lịch sử truyền đạo ô nhục, đẫm máu, mang trên vai oan hồn của trên dưới 200 triệu sinh mạng già trẻ vô tội.

     Trước đây, sau khi phê bình sơ sơ cuốn Từ Áo Cà Sa Đến Thập Tự Giá của Nguyễn Huệ Nhật, tôi đã không còn để ý đến những gì Huệ Nhật viết nữa, dù Mucsu.net đã quảng cáo với tôi cuốn Ai Chết Cho Ai? Ai Sống Cho Ai?  của Huệ Nhật.   Tôi không đọc vì qua cuốn Từ Áo Cà Sa Đến Thập Tự Giá tôi đã thấy rõ trình độ và khả năng hiểu biết của Huệ Nhật.  Ngay cả bài của Minh Nghị phê bình Huệ Nhật trên trang nhà Giao Điểm tôi cũng chỉ lướt qua vì tôi cho rằng Huệ Nhật không phải là một đối tượng có tầm vóc để tôi mất thêm thì giờ.  Tuy nhiên, trời chẳng chiều người, vì “người ta” lại vừa gửi  cho tôi hai bài của Huệ Nhật: bài Một Cựu Tu Sĩ Phật Giáo Làm Chứng Ơn Chúa mà Minh Nghị đã phê bình, và bài Văn Dĩ Tải Đạo Là Gì? để phê bình lại Minh Nghị.  Ý định của người gửi tôi không rõ, nhưng tôi cho rằng cũng ù lì không khác gì ý định của Lữ Giang, thỉnh thoảng vẫn cứ gửi cho tôi những bài viết thiếu phẩm chất, tuy rằng tôi đã nói rõ là tôi chẳng muốn đọc những gì ông ta viết.   Sách lược truyền đạo của Tin Lành là nói dai, nói dại, nói dài về những điều mê tín cổ xưa, coi đó là những chân lý “mạc khải”, với niềm tin tưởng là đầu óc của ai cũng thuộc loại oxymoron như đầu óc của họ.

     Thật ra, tôi có thể xóa bỏ ngay hai bài trên khi nhận được mà không cần phải đọc, nhưng đọc cái đầu đề Văn Dĩ Tải Đạo Là Gì? tôi cũng muốn đọc qua cho biết, xem xem trong mấy năm nay, trình độ của Huệ Nhật đã tiến tới đâu, ông ta hiểu thế nào là “Văn dĩ tải đạo” và cùng lúc văn trong Thánh Kinh thì tải cái đạo gì?   Điều này làm tôi mất thêm thì giờ để đọc kỹ lại bài của Minh Nghị và hai bài của Huệ Nhật.  Huệ Nhật không chỉ phê bình riêng Minh Nghị mà còn kéo cả Giao Điểm vào, làm như Minh Nghị chính là Giao Điểm, do đó trong 2 bài trên ông ta đã nhiều lần ghép “Minh Nghị và nhóm Giao Điểm” để phê bình chung. Ngoài ra, Huệ Nhật còn dám lên tiếng “đối chiếu Phật Học và Thánh Kinh” tuy chúng ta đã biết cái hiểu của Huệ Nhật về Phật Học và Thánh Kinh chỉ là cái hiểu dỏm, hạ đẳng, lệch lạc, méo mó của một người mà tôi cho là đã bị nhiều khủng khoảng tinh thần như chính ông ta từng thú nhận: “khờ khạo, vụng về, mất thăng bằng, thất bại trong trường đời, bị tù, hai lần vợ bỏ v..v..” nên cần đến sự an ủi của một cặp nạng thuộc loại mì ăn liền: Thiên Chúa. 

     Những người như vậy quả là miếng mồi ngon cho Tin Lành.  Lẽ dĩ nhiên, đây là quyền tự do chọn lựa của một người, tự bỏ con đường “duy Tuệ thị nghiệp” để đi theo con đường “duy tín thị nghiệp”, hay nói cách khác, tự bỏ thân phận làm một người tự mình làm chủ chính mình để đi xuống hàng con chiên, hàng đầy tớ hầu hạ việc Chúa như nhiều tín đồ Tin Lành tự nhận.  Nếu chỉ có vậy thì chẳng ai buồn nói đến làm chi.  Nhưng những tên tân tòng Tin Lành này lại cứ muốn kéo người khác xuống hàng súc vật và đầy tớ bằng những thủ đoạn bất chính núp đàng sau bình phong “tự do tín ngưỡng”.

     Trước hết, tôi xin có vài ý kiến về bài của Minh Nghị.  Đọc lại bài của Minh Nghị tôi thấy tác giả có vài sai lầm lớn:  Sai lầm thứ nhất là tác giả đã trích dẫn vài câu nói suôi của Giê-su mà không biết đến những câu nói ngược của Giê-su.  Giám mục Tin Lành John Shelby Spong đã nhận định là trong Tân Ước có những đoạn chứng tỏ Giê-su là con người thiển cận và đạo đức giả.  Đạo đức giả vì khi thì nói suôi khi thì nói ngược, hoàn toàn mâu thuẫn nhau.  Thí dụ, Minh Nghị viết: “Đức Chúa cũng có dạy: “Hãy thấy cây kim trong con mắt ngươi chớ thấy cây xà ngang ở nhà người””.  Câu trích dẫn này sai, vừa sai văn vừa sai ý. Rất có thể là Minh Nghị chỉ nghe người ta nói như vậy chứ không lấy thẳng từ Thánh Kinh ra.  Vì câu trong Tân Ước là: " Hãy lấy cây sà trong mắt ngươi ra trước rồi hãy lấy cây kim trong mắt người khác ra sau. Đừng phê phán ai để ngươi cũng không bị phê phán."  Câu này, người Ki Tô Giáo rất thích trích dẫn để chứng minh một lời dạy mà họ cho là rất hay của Giê-su: Hãy xét đến những sai lầm tội lỗi to lớn của mình rồi hãy phê bình sai lầm tội lỗi nhỏ nhặt của người khác.  Và áp dụng phần hai của câu trên, các tín đồ Ki Tô Giáo, bắt chước Chúa Giê-su của họ, dành quyền phê phán những người ngoại đạo, nhưng những người ngoại đạo thì phải nghe lời Chúa, không được phê phán những người Ki Tô Giáo.  Lẽ dĩ nhiên, các tín đồ Ki Tô Giáo thích nêu những câu nói suôi của Giê-su nhưng khi hành sự thì lại đi theo đúng vết chân của Chúa, hành động theo những lời nói ngược của Chúa.  Chứng minh? 

     Chính Giê-su đã không lấy cây sà ở trong mắt ông ta ra trước khi ông ta phê phán người khác: Matthew 23: 13: Khốn cho giới dạy luật và Biệt Lập, hạng đạo đức giả; Matthew 23:15: Khốn cho các ông, hạng giả nhân giả nghĩa; Matthew 23: 16: Khốn cho các ông, hạng lãnh đạo mù quáng và còn nhiều lời phê phán tương tự khác đầy dãy trong Tân Ước. 

     Giê-su không chỉ phê phán người khác như trên mà ông ta còn nguyền rủa thậm tệ những người không chịu tin ông ta là Chúa.   Đây lại là một hành động “nói suôi, làm ngược” khác của Giê-su:

      Giê-su dạy: “Người nào nguyền rủa anh em sẽ bị xuống hỏa  ngục” (Matthew 5: 22)   nhưng  chính  Giê- su lại đi nguyền rủa những người không chịu tin theo Giê-su:

   Luke 8: 24: Nếu ngươi không tin ta là con Thượng Đế, ngươi sẽ chết trong tội lỗi của ngươi.

   Matthew 12: 34:  Ôi  thế  hệ của  những loài  rắn  độc, ác như các ngươi làm sao có thể nói những lời tốt lành?

   Matthew 23: 33: Ngươi là loài rắn, ngươi là thế hệ của những rắn độc, làm sao các ngươi thoát khỏi hỏa ngục?

   Vậy bây giờ Chúa Giê-su đang ở đâu?  Dưới hỏa ngục hay trên thiên đường?

    Huệ Nhật tin rằng chỉ cần tin Chúa là ông ta sẽ có một cuộc sống đời đời với Chúa ở trên thiên đường (mù).  Đây là một niềm tin của ông ta, không dựa trên bất cứ một sự kiện nào, chỉ là một ước mong (wishful thinking) vì nghe người ta dụ khị như vậy trong những cơn khủng khoảng tinh thần.  Nhưng đọc Tân Ước như trên thì tôi lại tin rằng Chúa đang ở dưới hỏa ngục, vì lời Chúa phán trong Thánh Kinh thì không thể sai lầm.  Niềm tin của tôi dựa trên sự kiện (fact), và sự kiện này nằm ngay trong Thánh Kinh dưới dạng tam đoạn luận như sau:

"Người nào nguyền rủa anh em sẽ bị xuống hỏa  ngục"
 
Giê-su đã nguyền rủa anh em
Vậy Giê-su sẽ bị xuống hỏa ngục

     Nếu Giê-su đã xuống hỏa ngục rồi thì chuyện Giê-su sống lại và bay lên trời chỉ là chuyện phịa do những người viết Phúc Âm bịa đặt ra để khuyến dụ dân Do Thái tin vào một đấng cứu thế, một vai trò họ dàn dựng ra, một vai trò mà giám mục Tin Lành John Shelby Spong cho rằng cần phải dẹp bỏ.  Và “ơn Chúa” của ông Huệ Nhật phát xuất từ đâu?  Câu hỏi này chính là câu trả lời.

     Thật ra thì chuyện nói suôi làm ngược của Chúa Con cũng chẳng lấy gì làm lạ.  Vì Cha nào con nấy.  Trong Cựu Ước, Chúa Cha ra 10 điều răn trong đó có điều “Không được giết người”, nhưng chính Chúa Cha lại sử dụng nhiều lần vũ khí giết người hàng loạt (WMD = Weapons of Mass Destruction).  Nếu không đích thân ra tay thì Chúa Cha sử dụng vũ khí giết người hàng loạt là  Moses, David, Joshua...  Có cần tôi phải lôi Cựu Ước ra để chứng minh không?  Và Ki Tô Giáo, trong 2000 năm nay, đã luôn luôn sử dụng WMD = Weapons of Mass Distortion để biến một vị thần vô cùng độc ác của Do Thái thành “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian” của cả nhân loại, và biến một anh thợ mộc Do Thái tầm thường ở Galilee thành Chúa Cứu Thế của cả nhân loại mà Linh mục James Kavanaugh đã cho rằng đó chỉ là một huyền thoại man rợ của thời bán khai, và Giám mục Tin Lành John Shelby Spong đã cho rằng vai trò cứu thế của Giê-su cần phải dẹp bỏ, nếu không thì Ki Tô Giáo sẽ chết.

     Câu thứ hai mà Minh Nghị trích dẫn hoặc nghe sai là: “Đức Chúa có dạy: “Hãy thương kẻ cựu thù và tha thứ cho kẻ phản trắc”.  Câu nói suôi của Giê-su trong thánh kinh là: "phải  yêu  kẻ thù    cầu nguyện cho người khủng bố hành hạ các con" (Matthew 5: 44), nhưng chính Giê-su thì lại hành động ngược lại:

   Giê-su phán, Matthew 12:30: Kẻ nào không theo ta, ở  với ta, là chống đối ta.,  và coi những người không tin và tuân phục Giê-su là kẻ thù và dạy môn đồ:

   Luke 19:27 :   Hãy   mang  những  kẻ  thù  của  Ta  ra  đây, những người không muốn Ta  ngự  trị trên họ, và giết chúng ngay trước mặt Ta.

     Nói tóm lại, khi tìm hiểu về thực chất con người của Giê-su, chúng ta cần giữ thái độ: "Đừng tin những gì các Linh mục, Mục sư nói về Giê-su trong các nhà thờ, mà hãy nhìn kỹ những gì Giê-su nói và làm trong Thánh Kinh".  Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể có những nhận định trung thực và chính xác về Giê-su, do đó tránh được những sự mê hoặc của những luận điệu thần học một chiều về những thuộc tính thần thánh của Giê-su, một nền thần học của giới giáo sĩ đưa ra, chỉ cốt để tự tạo quyền lực thế gian trên đám tín đồ thấp kém, khai thác sự yếu kém tinh thần và lòng mê tín cả tin của họ.   

     Câu sai lầm thứ ba của Minh Nghị là: “Từ, bi, hỉ xả không còn là ở cửa miệng của Phật giáo đồ, mà còn là hạnh của Mẹ Teresa..”  Có lẽ Minh Nghị đã không biết đến bộ mặt thật của Mẹ Teresa.  Như tôi đã chứng minh với nhiều tài liệu trước đây, trong bài Đâu Là Sự Thật, đã được đăng trên báo Giao Điểm và đưa lên trang nhà giaodiem.com hay giaodiem.net, tôi đã đưa ra một số tài liệu vạch trần thực chất con người của bà Teresa.  Ở đây tôi sẽ không nhắc lại chi tiết nữa, chỉ đưa ra lại một nhận định của một học giả chuyên gia viết tiểu sử, Anne Sebba, người đã sang tận Calcutta và nhiều nơi khác để quan sát những "cơ sở từ thiện"  của bà Teresa   và tìm  hiểu  sự thực về những "công cuộc từ thiện" của bà Teresa:

      Về tiểu sử,   bà Teresa không có gì đặc biệt, chúng ta thấy cùng một niềm tin tôn giáo đã hướng dẫn bà trong mọi việc.

     Công việc từ thiện của bà Teresa không bắt nguồn từ chính lòng từ thiện mà động cơ thúc đẩy chính là để làm sáng danh Chúa và để truyền đạo.   Ngay cái tên của dòng "Thừa Sai Bác Ái" cũng đã nói lên rõ ràng mục đích truyền đạo của các thừa sai trong những thế kỷ qua.  Bà Teresa biết rõ về lịch sử truyền đạo ở Ấn Độ và toan tính KiTô hóa quốc gia này trong 400 năm qua.  Bà Teresa đã khẳng định rằng công việc bà làm là để phục vụ Chúa, không phải phục vụ con người, phục vụ Chúa bằng cách kiếm thêm nhiều tín đồ cho Chúa mà những sự đau khổ, bất hạnh của con người là những cơ hội để bà làm "việc thiện", chứng tỏ "lòng nhân từ" của Bà.   Bà không phải là cứu tinh của nhân loại, những việc bà làm chỉ có tính cách tượng trưng bề ngoài.

     Ngoài ra, Judith Hayes cũng viết trong cuốn  The Happy Heretic về Mẹ Teresa như sau, p. 66-67: 

      Tôi chưa từng nghe thấy một người nào có lòng bác ái mà nghĩ rằng sự đau khổ của con người là một điều tốt. [Bà Teresa quan niệm như vậy vì đó là ý Chúa] Bác ái là đức tính tối thiểu của một người mà chúng ta cho là xứng đáng được phong Thánh. Nếu những điều Morphew viết là đúng thì chúng ta phải đặt bà Teresa đâu đó giữa sự tàn ác và ngu đần, mà hay thay, trong tự điển từ Thánh (Saint) nằm giữa 2 từ Tàn Ác (Sadistic)  và Ngu Đần (Stupid).

    (Tác giả đã chơi chữ ở đây: If all of that is true, it places Teresa somewhere between "sadistic" and "stupid" which, interestingly, is where "saint" appears in the dictionary)

     Ngoài vài sơ xuất như trên, có lẽ vì Minh Nghị chưa nghiên cứu kỹ về Ki Tô Giáo và Thánh Kinh,  Minh Nghị còn có thêm hai sai lầm căn bản, theo ý riêng của tôi, vì thực ra đó không phải là sai lầm.

     Sai lầm thứ nhất là Minh Nghị đã bỏ phí thì giờ để phê bình một bài của Huệ Nhật không đáng để phê bình.

     Sai lầm thứ hai là Minh Nghị đi làm công việc “nước đổ đầu vịt”, định giảng Phật Pháp cho Huệ Nhật, một người tự nhận là một tu sĩ Phật Giáo trong 15 năm, tốt nghiệp trường đào tạo tăng tài Nha Trang, tốt nghiệp viện đại học Vạn Hạnh (Duy Tuệ Thị Nghiệp), những điều tự nhận rất khó kiểm chứng, nhưng qua những bài viết lại chứng tỏ rằng kiến thức về Phật Giáo của mình rất là hời hợt, nông cạn, nếu không muốn nói là một con số không vĩ đại, bất khả tương hợp (incompatible) với những cái gọi là “tốt nghiệp”.

     Nhưng có lẽ, nhìn theo một góc độ khác, chúng ta cần phải cám ơn tác giả Minh Nghị, vì qua bài viết của tác giả, tuy không khai sáng được gì cho Huệ Nhật, nhưng nhờ đó mà độc giả chúng ta có thể biết thêm nhiều về thực chất nền văn hóa Phật Giáo cũng như văn hóa dân tộc.  Đây là một điểm son trong bài của Minh Nghị.

   Sau đây, chúng ta hãy bước sang hiện tượng Nguyễn Huệ Nhật, một hiện tượng Tin Lành tự nhận là một “cựu tu sĩ Phật Giáo”.  Trước hết là một nhận xét tổng quát của tôi sau khi đọc hai bài của Huệ Nhật: Điều rõ ràng là mục đích chính của Huệ Nhật trong hai bài trên là: dựa vào sự hiểu biết hời hợt, nông cạn của mình về Phật Giáo, Huệ Nhật đã viết bậy bạ để bài bác, hạ thấp Phật Giáo, rồi quảng cáo cho sự mê tín hoang đường trong Kinh Thánh Tin Lành của mình để thay thế cho trí tuệ Phật Giáo. 

     Một trong những điều kém cỏi nhất của Huệ Nhật là ông ta đã đưa ra những khẳng định vô trách nhiệm (affirmation gratuite), dựa tất cả trên trình độ hiểu biết quá hạn hẹp và thấp kém của mình, như sẽ được chứng minh trong một đoạn sau.  Ông ta lên án Minh Nghị là đã mạt sát ông ta vì ông ta hành xử quyền tự do tín ngưỡng của con người: từ bỏ Phật Giáo để theo Tin Lành.  Ông ta biện bạch: “Bài làm chứng ơn Chúa của tôi chỉ là một sự tường thuật câu chuyện của riêng tôi sau khi tin Đức Chúa”.  Ông ta đã biện bạch láo, vì ông ta đã để một đoạn dài trong bài để xuyên tạc chỉ trích Phật Giáo, như chúng ta sẽ thấy sau đây, dựa tất cả trên cái mà ông ta gọi là “kinh nghiệm cá nhân”. 

     Ông ta đọc bài của Minh Nghị mà không hiểu.  Minh nghị phê bình ông ta tuyệt đối không phải vì ông ta bỏ Phật Giáo theo Tin Lành mà vì ông ta đã viết bậy bạ về Phật Giáo.  Minh Nghị thật ra đã không quá lời khi mô tả Huệ Nhật là một “quái thai”, “mù quáng quá khích”, “đầu óc bịnh hoạn bất bình thường”.  Các từ ngữ trên có vẻ khó nghe nhưng đã mô tả rất chính xác con người của Huệ Nhật, vì một con người bình thường và không mù quáng quá khích thì không bao giờ có thể viết lên những lời thấp kém xuyên tạc trơ trẽn Phật Giáo, dựa trên những kinh nghiệm cá nhân không ai kiểm chứng được, và vô giá trị trên diễn đàn công cộng, vì rất có thể đó chỉ là những chuyện phịa ra với mục đích đen tối là hạ thấp Phật giáo. Phê bình láo Phật giáo xong ông ta mới huênh hoang ca tụng “ơn Chúa”, cái mà chỉ có trong sự hoang tưởng của con người.  Cũng vì vậy cho nên tôi tự hỏi, có đáng không khi phải bỏ thì giờ ra để phê bình Huệ Nhật?  Nhưng rồi tôi nghĩ, giải hoặc Ki Tô Giáo không chỉ thu hẹp trong những bài khảo cứu, bài dịch v..v.. mà có lẽ cũng còn phải lăn mình vào trong vòng thị phi tranh luận để cho các vấn đề thảo luận được sáng tỏ.  Đó là lý do tôi viết bài này.

     Bây giờ, chúng ta hãy bắt đầu đi làm công việc lãng phí thời gian là đi nhặt sạn trong hai bài viết của Huệ Nhật.  Tôi chỉ quan tâm đến những viên sạn to như hòn cuội, còn những hạt sạn nhỏ thì tôi bỏ qua.

     Trước hết, chúng ta hãy đọc vài câu trong hai bài của Huệ Nhật:

     “Là một tu sĩ tôi phải học nhiều giới cấm.  Càng nhiều giới cấm, người ta càng dễ phạm giới.”  Người ta ở đây là ai vậy?  Phải chăng là tất cả các tu sĩ khác?  Huệ Nhật thấy rằng càng nhiều giới cấm thì mình càng phạm giới, nhưng không thể cho rằng ai cũng như mình để mà viết bậy bạ như trên.

     “Vì giới luật nhà tu quá chi li, nên không ai giữ được trọn vẹn một giới nào cả”  Có ai ở trên đời này có thể viết nhảm nhí hơn không?  Phải chăng Huệ Nhật biết là trong tất cả các tu sĩ Phật Giáo ở trên thế giới này, không ai giữ được trọn vẹn một giới nào?  Làm sao biết?  Căn cứ vào đâu?  Điều chắc là Huệ Nhật không giữ được trọn vẹn một giới nào nên cho rằng   ai cũng phải như mình cho nên mới viết một cách hết sức láo lếu như trên.

     “Mỗi khi ăn cơm, người tu hành đọc ba câu thề nguyện mà không một ai tin mình làm được.”  Phải chăng Huệ Nhật đã đi vào đầu óc của tất cả các nhà tu hành và đọc được ý nghĩ trong đầu óc của họ nên biết rằng “không một ai tin mình làm được.” 

     “Các phép quán khi ăn cơm trong Phật Giáo cũng là lý thuyết.  Khi thực hành các phép ấy người ta đọc thuộc lòng lấy lệ chứ thực tâm không ai tha thiết suy nghĩ đúng như các lý thuyết chi li ấy.”  Dựa vào đâu mà Huệ Nhật biết là người ta đọc thuộc lòng lấy lệ không ai tha thiết suy nghĩ đúng như các lý thuyết?   Phải chăng chỉ dựa vào “kinh nghiệm bản thân” của Huệ Nhật?

    Viết những câu hoàn toàn vô giá trị như vậy mà cũng tự nhận là tốt nghiệp trường đào tạo tăng tài và đại học Vạn Hạnh.  Ai có thể tin được những điều tự nhận bịp bợm này.  Tôi đã từng dạy học trong các phân khoa Khoa Học và Xã Hội, viện đại học Vạn Hạnh, nhưng tôi chưa từng thấy một sinh viên nào có trình độ cỡ Huệ Nhật.  Văn chẳng ra văn, người chẳng ra người, thế mà cũng đòi thuyết phục người khác trở về với Chúa.  Thật đúng là một người bất bình thường.

     Tất cả những khẳng định láo lếu, vô trách nhiệm của Huệ Nhật đều thuộc loại “suy bụng ta ra bụng người” và “vơ đũa cả nắm” như trên.  Chúng ta hãy đọc thêm vài câu tương tự mà tôi miễn phê bình để thấy rõ những “xảo ngôn và ngụy ngữ” trong cách viết của Huệ Nhật với mục đích duy nhất là hạ thấp Phật Giáo:

     “Làm một ông thầy tu phải biết che dấu tội lỗi để được các đệ tử thờ lạy khi mình còn sống”

     “Sau 15 năm quen sống trong chiếc áo tu hành, tôi trở thành một người thanh niên khờ khạo, vụng về, không thăng bằng và thất bại.”

     “Càng ngồi thiền siêng năng, tôi càng muốn rời bỏ thế gian để tìm hiểu thế giới sau khi chết.”

     Sau khi hạ thấp Phật Giáo qua hạ căn cá nhân và áp đặt hạ căn đó trên mọi người khác, Huệ Nhật bèn chê giáo lý Phật Giáo:

     “Giáo lý nhà Phật không tin Đấng Tạo Hóa, không tin nguyên nhân khởi đầu mà chỉ tin vào lý nhân duyên điệp trùng tiếp nối khiến vạn vật lưu chuyển như đang hiện hữu.  Vạn vật vốn là vô thủy vô chung, không có một cái gì vĩnh cửu (vô thường).  Tâm con người chấp vào đâu thì có vào đó, chứ thật ra chẳng có cái gì hiện hữu thật sự.  Ngay cả tôi đây cũng không phải là tôi... “

      Tại sao Huệ Nhật lại chê giáo lý Phật Giáo như trên?  Vì, như chúng ta sẽ thấy, ông ta muốn mọi người khác mà ông ta tưởng ai cũng phải có cùng loại đầu óc như ông ta, nghĩa là phải tin vào Thánh Kinh của Ki Tô Giáo, rằng có Đấng Tạo Hóa, có nguyên nhân khởi đầu, có linh hồn vĩnh cửu, và nhất là có cái Ta.  Nhưng đầu óc đặc biệt của ông ta chưa đủ trình độ để hiểu rằng, đối với giới trí thức và hiểu biết ngày nay, tất cả giáo lý nhà Phật như trên đều đúng.  Phật Giáo không tin có Đấng Tạo Hóa theo nghĩa đó là Thần Cha (God) trong Thánh Kinh Ki Tô Giáo vì Thánh Kinh đã viết bậy là vũ trụ này và con người là do Thần Cha của Ki Tô Giáo “sáng tạo” (sic) ra cách đây khoảng 6000 năm trong khi những bằng chứng khoa học mà không ai có thể phủ bác đã chứng tỏ rằng vũ trụ này đã tồn tại khoảng 15 tỷ năm và con người hiện đại đã giẫm chân trên trái đất cả mấy trăm ngàn năm, có khi cả nhiều triệu năm.  Nguyên trái đất của chúng ta, nằm trong Thái Dương Hệ, cũng đã có tuổi khoảng 4 tỷ rưỡi năm và chỉ có thể tồn tại nhiều nhất là 5 tỷ năm.  Đối với một đời người 100 năm thì một thời gian hàng tỷ năm trước và hàng tỷ năm sau không phải là vô thủy vô chung thì là cái gì?   Ai có thể biết được lúc bắt đầu là bao giờ và lúc tận cùng là bao giờ?  Vô thường là một định  luật thiên nhiên mà Đức Phật đã ngộ được cũng như là bao nhiêu điều khác.  Cái tính vô thường nó ở ngay trước mắt hàng ngày và không từ bất cứ một cái gì kể những cái được gọi là Chúa hay Thánh.

      Chúa Giê-su bị đóng đinh trên cây thập giá khi mới có 33 tuổi.  Đó chẳng phải là vô thường thì là cái gì.  Bây giờ ông ta ở đâu? Thánh Kinh không thể sai lầm đã viết rõ: ông ta đang ở dưới hỏa ngục vì ông ta đã vi phạm chính lời dạy của ông ta và do đó phải chịu hậu quả của lời nguyền rủa của ông ta như đã được chứng minh ở trên.  Rất có thể ông ta còn có ở trong những đầu óc như của Huệ Nhật.  Trong thế giới văn minh Âu Mỹ, Ki Tô Giáo đang xuống giốc không phanh.  Đó không phải là vô thường thì là gì?  Hiện nay trên thế giới có hơn 6 tỷ người.   Tin Lành chỉ chiếm có vài trăm triệu, và phần lớn là những tín đồ như Huệ Nhật.  Nhiều nhà thờ Tin Lành ở Mỹ cũng như ở Anh phải rao bán, biến cải thành hộp đêm hay phòng ngủ, kho chứa hàng v..v.., vậy không phải là vô thường thì là gì?   “Ngay cả tôi đây cũng không phải là tôi...”  Nhưng tôi là cái gì vậy?  Đó là cái mà con người thường chấp chặt vào để sinh ra mọi tội nghiệp.  Huệ Nhật chưa nắm được thuyết Vô Ngã của nhà Phật tuy rằng đã tự nhận là tu sĩ Phật Giáo trong 15 năm.  Nếu đã thông suốt được giáo lý vô thườﮧ và vô ngã thì đã không viết như trên.

     Sau khi chê giáo lý nhà Phật, Huệ Nhật mới đi vào việc quảng cáo cho sự mê tín của mình.  Ông ta viết: “Chúa Jesus Christ xác nhận rằng: “Vì Đức Chúa trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời (Giăng 3: 16)”

      Chỉ bằng vào một câu này chúng ta đã có thể thấy sự mê tín cùng cực của Huệ Nhật bất kể đến lý trí và những kiến thức cập nhật hóa.  Thật vậy, chúng ta hãy phân tích câu trên mà Huệ Nhật trích dẫn từ Thánh Kinh ra.  Đây là một câu mà Giăng viết cách đây 2000 năm, phản ánh một đầu óc ngu si đần độn nhất thế gian.  Và các giới lãnh đạo Ki Tô Giáo thường trích dẫn câu này nhằm hai mục đích : 1) huyễn hoặc những người nhẹ dạ cả tin, mê mẩn về một sự sống đời đời, sau khi chết, ở trên một thiên đường giả tưởng, bằng cách tin vào một nhân vật đầy tính chất huyền thoại do nền thần học Ki Tô Giáo tạo dựng lên; và 2) hù dọa những người đầu óc yếu kém về một sự luận phạt phi lý và hoang đường.

     Thật vậy, chúng ta đã biết, trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, trang 76,  để trả lời câu hỏi “Tại sao nhân loại cần cứu rỗi?”, giáo hoàng John Paul II cũng đã tránh né trả lời trực tiếp bằng cách trích dẫn câu này trong Phúc Âm John làm luận điểm giải thích, John 3:16: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban Con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.”.  Câu trên không phải là lời giải thích cho câu hỏi “Tại sao nhân loại cần đến sự cứu rỗi?”  mà là một khẳng định về đức tin trong Ki Tô Giáo, một đức tin của thời bán khai vì nó hoàn toàn phi lý và hoang đường.

     Điều này thật là rõ ràng khi gần đây chúng ta thấy Giáo Hoàng John Paul II, trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại, đã phải công nhận là “không làm gì có thiên đường trên các tầng mây” và “không làm gì có lửa hỏa ngục, hỏa ngục không phải là một nơi chốn trong lòng đất”. 

     Phủ nhận sự hiện hữu của một thiên đường trên trời và một hỏa ngục trong lòng đất, trên thực tế giáo hoàng đã vứt câu John 3: 16 ở trên vào thùng rác,  vì như vậy là giáo hoàng cũng đã phủ nhận luôn sự cứu rỗi và luận phạt của Chúa, một sự hứa hẹn thuộc một đời sau do đó không ai có thể kiểm chứng, và một sự đe dọa cùng loại, hoang đường, mà giáo hội vẫn tiếp tục dùng cho tới ngày nay để nhốt tín đồ vào trong vòng mê tín.  Bị nhốt vào trong vòng mê tín nên Huệ Nhật đã nhắc lại như con vẹt câu trên mà không hề để tâm suy nghĩ xem câu trên có giá trị gì trong giới hiểu biết ngày nay.

    Bình luận câu John 3:16 ở trên, học giả Lloyd Graham cho rằng "Chưa bao giờ có nhiều ngụy biện có tính cách dạy đời được buộc chung với nhau trong một câu ngắn ngủi như trên" (No greater number of didactic fallacies were ever strung together in one short sentence) vì Thiên Chúa không hề thương yêu thế gian, Thiên Chúa không ban cho thế gian bất cứ cái gì; ông ta không có "người Con duy nhất", lòng tin không cứu được một ai, và không có cái gì gọi là cuộc sống đời đời. (God does not love the world; God does not give the world anything; he has no "only begotten Son", belief will not save anyone, and there is no such thing as everlasting life)

     Và ngay từ cuối thế kỷ 19, Robert G. Ingersoll đã đưa ra nhận định sau đây về cái mà người Ki Tô Giáo gọi là cuộc sống đời đời cho những người tin Chúa và luận phạt hỏa ngục những người không tin Chúa [xin đọc bài Những Lời Châu Ngọc Về Ki Tô Giáo của Robert G. Ingersoll trên trang nhà Giao Điểm]:

      “Ý tưởng về hỏa ngục của Ki Tô Giáo phát sinh từ sự ngu si, bạo tàn, sự sợ hãi và hèn nhát, và sự trả thù.  Chỉ từ những hang ổ của thú vật (dens, lairs), chỉ từ những miệng độc ác đầy những răng nanh như của chó sói (cruel fangs), chỉ từ những lòng sợ hãi và thù hận, chỉ từ lương tri của những kẻ đói khát và tham dục, chỉ từ những kẻ thấp hèn nhất, mới có thể đưa ra cái tín điều độc ác, vô tâm như súc vật, trong các tín điều.

      Cái lời tuyên dương đáng sợ này: “Người nào tin và đã rửa tội thì sẽ được cứu, còn kẻ nào không tin sẽ bị đọa đầy (vĩnh viễn nơi hỏa ngục)”, đã chất đầy thế giới với sự đau khổ cực độ về tinh thần cũng như thể xác và tội ác.  Từng chữ một trong câu trên đã là những lưỡi gươm và bó củi (swords and fagots); từng chữ một đã là những ngục tù tăm tối và xiềng xích (dungeons and chains).  Câu trên đã khiến cho lưỡi gươm bạo hành của Ki Tô Giáo đẫm máu của những kẻ vô tội qua nhiều thế kỷ.

      Tôi tin rằng những giáo lý như trên thật là độc hại.  Tôi tin rằng cái câu “Người nào tin thì sẽ được “cứu rỗi”, còn kẻ nào không tin thì sẽ bị đày đọa (nơi hỏa ngục)” đã trải phủ trái đất với máu.  Nó chất đầy lòng người với sự kiêu căng, độc ác và giết hại.  Nó đã tạo ra chiến tranh tôn giáo; trói hàng trăm ngàn người vào cọc rồi thiêu sống; thiết lập những tòa án xử dị giáo; chất chứa đầy những tù ngục tối tăm; phát minh ra những dụng cụ tra tấn; dạy mẹ phải ghét con; giam giữ đầu óc con người; làm cho thế giới đầy những sự ngu si; bạo hành những người thông thái; xây dựng những tu viện; coi hạnh phúc là tội ác; coi sự tìm hiểu là tội lỗi và lòng tự tin là phỉ báng.  Nó đã đầu độc sự ham học hỏi, lạc dẫn năng lực của con người; chứa đầy các quốc gia với tham muốn, nhốt con người vào những căn nhà dơ dáy nhỏ bé hẹp hòi; và ngoại trừ nỗ lực của một số người không theo Ki Tô Giáo (Infidels), nó đã đưa thế giới trở lại đêm tối của sự man rợ, vào một bầu trời không sao.”

     Phải chăng Huệ Nhật muốn đưa chúng ta trở lại đêm tối của sự man rợ, vào một bầu trời không sao.?   Có thể có người cho rằng đó chỉ là những ý kiến cá nhân của những kẻ chống Chúa (anti-Christ) cho nên không đáng kể.  Nhưng họ quên rằng Ingersoll đã viết như trên, dựa hoàn toàn vào lịch sử Ki Tô Giáo, và học giả Lloyd Graham đã dựa trên sự tiến bô trí thức của con người ngày nay.  Hơn nữa, qua lý luận thuần túy, chúng ta có thể chứng minh rằng Chúa Giê-su xác nhận câu Giăng 3: 16 là vì đầu óc của ông ta cũng không hơn gì đầu óc kém cỏi của Giăng trong thời bán khai.

    Thật vậy, trừ phi chúng ta chỉ biết cầm cuốn Thánh Kinh, không hề đọc, và nhắm mắt cầu nguyện.  Nếu chúng ta mở mắt ra nhìn những cảnh khổ, cảnh bất công, cảnh con nít mới sinh ra đã bị khuyết tật hay chỉ là một quái thai v..v.. ở khắp nơi trên thế gian, kể cả trong các nước mà đa số dân chúng là tín đồ Ki Tô Giáo, thí dụ ở bên Anh có một gia đình Ca-Tô sinh ra một quái thai, hai thân dính liền nhau nhưng chỉ có một trái tim, thì không có cách nào chúng ta có thể chấp nhận  luận điệu thần học của Ki Tô Giáo là: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian..”  Chúng ta nên biết, theo niềm tin trong Ki-Tô giáo thì Thiên Chúa gồm những thuộc tính “toàn nhân”, nghĩa là vô cùng nhân từ, và “toàn năng”, nghĩa là làm gì cũng được.  Hơn nữa, một Thiên Chúa mà chỉ thương yêu những người tin mình thì thực chất chỉ là một ngụy Chúa, không xứng đáng để cho con người tin, đừng nói đến kính trọng và thờ phụng.   Sự hiện hữu của những cảnh khổ, những chiến tranh tôn giáo, những sự xấu ác ở trên đời là một nghịch lý mà từ xưa đến nay các nhà thần học Ki Tô Giáo không sao giải thích nổi để biện minh cho một Thiên Chúa Toàn Năng  “quá thương yêu thế gian”.  Lối giải thích nghe suôi tai đối với những tín đồ đầu óc mê muội nhưng lại có tính cách mạ lỵ đối với tư duy con người trong thế giới văn minh tiến bộ như ngày nay là: “đầu óc con người không hiểu được những ý định hay việc làm của Thiên Chúa”.

     Phải chăng vì vậy mà James A. Haught đã đưa ra một nhận định bất khả phủ bác trong cuốn 2000 years of Disbelief: Famous People with the Courage to Doubt, trang 324, như sau:

     Qua luận lý, chúng ta có thể thấy quan niệm của giáo hội về một Thiên Chúa ở trên trời với lòng thương yêu vô cùng không đứng vững.   Nếu có một đấng thần linh sáng tạo ra muôn loài thì ông ta đã làm ra ung thư vú cho phái nữ, bệnh hoại huyết cho trẻ con, bệnh cùi, bệnh AIDS, bệnh mất trí nhớ (Alzheimer), và hội chứng Down (khuyết tật tinh thần).  Ông ta ra lệnh cho những con cáo cắn xé nát những con thỏ ra từng mảnh, những con báo giết những hươu nai.  Không có một con người nào độc ác đến độ hoạch định những sự khủng khiếp như vậy.  Nếu một đấng siêu nhiên làm như vậy, ông ta là một con quỷ, không phải là một người cha nhất mực nhân từ.

     (Through logic, you can see that the church concept of an all-loving heavenly creator doesn't hold water.  If a divine Maker fashioned everything that exists, he designed breast cancer for women, childhood leukemia, leprosy, AIDs, Alzheimer's disease, and Down's syndrome.  He madated foxes to rip rabbits apart and cheetahs to slaughter fawns.  No human would be cruel enough to plan such horrors.  If a supernatural being did so, he's a monster, not an all-merciful father.)

     Thật tình tôi không hiểu tại sao trong thời buổi này mà vẫn còn có nhiều người tin ở một “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian” trong khi những thực tế ở ngoài đời đã chứng tỏ là chẳng  làm gì có cái gọi là sự thương yêu của Thiên Chúa.   Nhưng thực ra vấn đề chính là, làm gì có Thiên Chúa để mà nói đến tình thương yêu của Thiên Chúa.  Cũng như ta nói đến chuyện lông rùa, sừng thỏ mà thôi.

     Hơn  nữa,  phân tích  ra thì   câu  trong Phúc Âm John  mà giáo hoàng viện dẫn ở trên hoàn toàn vô nghĩa và phi lý.  Vô nghĩa và phi lý ở chỗ chỉ có những người sinh sau Giê-su mới có thể biết đến Giê-su và tin Giê-su để không bị luận phạt và sống cuộc sống đời đời, lẽ dĩ nhiên sau khi chết.  Như được viết rõ trong Tân Ước, ngay cả bố mẹ Giê-su là Joseph và Maria, cùng các em trai em gái Giê-su cũng không tin Giê-su là đấng cứu thế, trái lại còn cho là Giê-su đầu óc bất bình thường (out of his mind), cho nên chắc chắn là họ đều bị Giê-su luận phạt và đày đọa xuống hỏa ngục vĩnh viễn.  Chúng ta hãy tưởng tượng là Mẹ Chúa đã bị Chúa luận phạt, đầy xuống hỏa ngục để bị thiêu đốt bởi ngọn lửa vĩnh hằng, chỉ vì không tin Chúa là Chúa.  Cái đạo đức của Chúa là như vậy mà Huệ Nhật cũng mang đi rao hàng quảng cáo, thật là quá tội nghiệp cho Huệ Nhật.

   Hơn nữa, trước khi Giê-su sinh ra đời thì nhân loại đã trải qua bao nhiêu thế hệ trong nhiều triệu năm, trong đó có các thế hệ của tổ tiên, ông bà Giê-su.  Ai biết đến Giê-su? Ai tin Giê-su?  Vậy tất cả cũng đều bị Giê-su luận phạt hay sao?  Trước năm 1533, người Việt Nam không ai nghe và biết đến tên Giê-su, hiển nhiên không ai có thể tin Giê-su, vậy tất cả dân tộc Việt Nam trong mấy ngàn năm trước năm 1533 cũng bị luận phạt hay sao?  Những người Việt Nam tân tòng Tin Lành có nghĩ đến các điều hoàn toàn vô nghĩa như trên hay không? Cái tín điều phi thực tế, phi nhân tính, phi lôgic  như vậy mà còn có người như Huệ Nhật  nêu lên được trong thời đại này thì kể cũng lạ. 

     Điều lạ hơn nữa là các tín đồ vẫn còn tin theo cái tín lý quái gở đó với một tâm cảnh vô cùng ích kỷ, chỉ nghĩ đến đời sống đời đời sau khi chết của riêng mình, mà không hề nghĩ đến bản chất ác độc, phi lý, phản khoa học, hoang đường, bất khả áp dụng, của sự  luận phạt của Giê-su.  Không những chỉ ích kỷ mà họ còn để lộ một tinh thần yếu kém, sợ sệt thần linh trong thời đại tiến bộ của khoa học kỹ thuật ngày nay mà quan niệm thần linh khi xưa đã không còn chỗ đứng.  Trong thời đại mà các thần bình vôi, thần cây đa, thần hà bá v..v.. đã không còn ý nghĩa, tại sao họ vẫn còn có thể tin vào một “Thiên Chúa” của người Do Thái cách đây 2000 năm mà bản chất cũng không khác gì những “Thiên Chúa” trong dân gian trên khắp thế giới?

     Với một đầu óc của thời bán khai, Huệ Nhật còn viết láo lếu như sau:

      “Càng đọc Kinh Thánh, tôi càng thấy lời dạy của Chúa là rõ ràng và thực tế hơn giáo lý đạo Phật.  Kinh Thánh nói về sự sáng tạo vũ trụ và Đấng Sáng Tạo, trong khi đạo Phật dạy rằng không có ai dựng nên vũ trụ mênh mông vô lượng này cả mà chỉ do tâm con người chấp có nên mới có.”

     Đây không phải là chuyện tự do tín ngưỡng, ai muốn tin gì thì tin, mà là chuyện viết bậy viết bạ về những điều mà chính Huệ Nhật cũng không hiểu rõ vì, hoặc là chưa đủ trình độ để hiểu, hoặc là mù quáng quá khích như Minh Nghị đã phê bình.  Chứng minh?

     Kinh Thánh nói về sự sáng tạo vũ trụ và Đấng Sáng Tạo?  Nếu Huệ Nhật viết rằng: “Tôi, Huệ Nhật, tin sự sáng tạo và Đấng Sáng Tạo trong Kinh Thánh” thì tôi không có gì để nói.  Nhưng khi Huệ Nhật viết là điều viết trong Kinh Thánh rõ ràng và thực tế hơn giáo lý đạo Phật thì là viết bậy.  Bậy vì Huệ Nhật cho rằng sự sáng tạo và Đấng Sáng Tạo trong Kinh Thánh bắt buộc phải đúng, phải là những sự thực, trong khi khoa học ngày nay đã bác bỏ hoàn toàn vai trò sáng tạo và sự hiện hữu của một Đấng Sáng Tạo trong Kinh Thánh.  Ngoài ra, Huệ Nhật cũng không hiểu gì về giáo lý đạo Phật nên đã viết càn viết ẩu như trên.

     Đấng Sáng Tạo trong Kinh Thánh đã sáng tạo ra vũ trụ như thế nào?   Trái đất phẳng và dẹt, có trước mặt trời và các vì sao, ở trên có một vòm trời bằng đồng thau để giữ nước, tối tối các thiên thần mang trăng sao treo lên vòm trời như những ngọn đèn, đến ngày tận thế các sao sẽ rụng như sung v..v..?  Ông Huệ Nhật thử mang những chuyện sáng tạo này trong Kinh Thánh nói với các học trò lớp nhất xem chúng nghe có lọt tai hay không?  Hơn nữa, trong Sáng Thế Ký có hai chuyện sáng tạo hoàn toàn khác nhau, vậy ông tin chuyện nào và tại sao lại tin chuyện đó?  Tại sao trong thời buổi này mà ông còn cứ viết lên những câu mở đầu bằng “Kinh Thánh nói...”, làm như cái gì Kinh Thánh nói thì ai cũng phải chấp nhận.  Nói thật ông nghe, chỉ những người không đọc Kinh Thánh mới tin ở Kinh Thánh,   như Joseph Lewis đã viết:

     Chỉ những người nào không đọc Thánh Kinh mới tin Thánh Kinh, câu này đã trở thành một từ ngữ thông thường và là một định đề” (It has become a common expression and axiom, that only those believe the Bible who have not read it.).

     Và cũng phù hợp với nhận xét sau đây của Ira Cardiff, một khoa học gia: 

     Hầu như không có ai thực sự đọc cuốn Thánh kinh... Nếu một người thông minh đọc cả cuốn Thánh kinh với một  óc phê phán  thì chắc chắn họ sẽ vứt bỏ nó đi.”

     (Virtually no one really reads the Bible... If an intelligent man should critically read it all, he would certainly reject it.)

     Ở đây tôi không muốn so sánh hay đối chiếu Kinh Thánh với Kinh Phật, nhưng liên quan đến Đấng Sáng Tạo và sự Sáng Tạo mà Huệ Nhật ca tụng là rõ ràng và thực tế, tôi có ba câu hỏi trong số hàng trăm câu hỏi khác. 

     Thứ nhất, Huệ Nhật có nhắc đến điều Đức Phật khuyên các đệ tử trước khi uống nước phải đọc chú để phổ độ cho tới 84000 vi chúng sinh trong một bát nước.  Tôi sẽ không bàn đến ý nghĩa của lời dạy này, vì Minh Nghị đã giảng cho ông rồi.  Nhưng tôi có một câu hỏi:  Tại sao Đức Phật biết là trong một bát nước có rất nhiều vi chúng sinh, điều mà 22 thế kỷ sau, các khoa học gia mới xác nhận qua sự phát minh ra kính hiển vi điện tử, trong khi Đấng Sáng Tạo của Huệ Nhật lại không hề biết,  dù chính ông ta đã “sáng tạo” ra các vi chúng sinh này? 

     Thứ nhì, trong Kinh Hoa Nghiêm, quan niệm về vũ trụ của Phật Giáo là trong đó có “Hằng hà sa số” (nhiều như số cát sông Hằng) thế giới có hình dạng khác nhau với vô số chúng sinh khác nhau.   Hơn 21 thế kỷ sau, vào cuối thế kỷ 16, Giordano Bruno cũng đưa ra quan niệm về một vũ trụ bao la vô cùng tận trong đó, ngoài thế giới của chúng ta, có thể còn có vô số các thế giới khác nhau với vô số dạng sống (life-forms) khác nhau.  Điều này, ngày nay đã trở thành một sự kiện không ai có thể phủ bác.   Nhưng tại sao Đấng Sáng Tạo của Huệ Nhật trong Kinh Thánh lại cho rằng thế giới của chúng ta là duy nhất, trái đất phẳng và dẹt, đứng yên, mặt trời quay xung quanh trái đất v..v.. tất cả những lời mạc khải không thể sai lầm đó lại trở thành sai bét sai be.  Vậy thì Đấng Sáng Tạo và sự sáng tạo của Huệ Nhật có giá trị gì trong thế giới tiến bộ trí thức của con người ngày nay?

     Thứ ba, Thuyết Duyên Sinh hay Duyên Khởi là thuyết căn bản nhất trong Phật Giáo.  Giữa thế kỷ 19, Charles Darwin đưa ra thuyết Tiến Hóa, và ngày nay, càng ngày chúng ta càng thấy thuyết này rất phù hợp với thuyết Duyên Sinh.   Vạn Pháp trong vũ trụ đều do đủ duyên mà thành, hết duyên thì diệt, và đây cũng là căn bản của thuyết Tiến Hóa, từ sự xuất hiện của các cây cỏ cho đến con người.  Giáo sư Trịnh Xuân Thuận viết trong cuốn L'Infini Dans La Paume de la Main: “Tiến hóa từ những cát bụi của những ngôi sao, chúng ta chia sẻ cùng một lịch sử vũ trụ với những con sư tử trong những vùng hoang mạc và những bông hoa tỏa mùi thơm” (Poussières d’étoiles, nous partageons la même histoire cosmique avec les lions des savanes et les fleurs de lavande).  Sự tiến hóa này trải dài trong nhiều tỷ năm nếu chúng ta tính từ khi khai thiên (15 tỷ năm) lập địa (4 tỷ rưỡi năm).  Trong khi đó thì những lời mạc khải không thể sai lầm trong Kinh Thánh cho rằng người đàn ông (Adam) (phần lớn là chất hữu cơ) là do Đấng Sáng Tạo “sáng tạo” ra từ đất sét (một vật chất không có chất hữu cơ) cách đây mới khoảng 6000 năm và “sáng tạo” ra người đàn bà (Eve) từ một cái xương sườn của các nắm đất sét đó, những chuyện trẻ con mà giáo sư thần học Uta Ranke-Heinemann cho rằng phải dẹp bỏ (Putting away those childish things).

     Kết luận làm sao đây?  Một trong 10 danh hiệu mà người đời tôn vinh Đức Phật khi Người còn tại thế : Thiên Nhân Sư (Teacher of Gods and men), bậc Thầy của các Thiên Chúa và của con người, không phải là không có giá trị thuyết phục.   Đức Phật xứng đáng là bậc Thầy, nhưng còn các Thiên Chúa có xứng đáng là học trò hay không, chuyện này còn phải tính lại. Nếu Huệ Nhật muốn “đối chiếu Phật học với Kinh Thánh” như  Huệ Nhật đã viết, thì ít ra Huệ Nhật cũng phải biết tối thiểu về Kinh Thánh, và tối thiểu về Kinh Phật, để có thể trả lời được cho vững vàng ba câu hỏi trên và chứng minh rằng lời Chúa trong Kinh Thánh đúng hơn, rõ ràng hơn và thiết thực hơn những cái biết của Đức Phật.  Mang đối chiếu những điều nhảm nhí trong Kinh Thánh với những điều ngộ được từ một trí tuệ siêu việt là điều không một người trí thức nào muốn làm, trừ những kẻ đần độn, cuồng tín.  Vài câu hỏi trên chỉ là để khai sáng đầu óc Huệ Nhật ra một chút, nếu trong đầu óc của Huệ Nhật còn có chỗ để mà khai sáng, chứ không có mục đích đối chiếu Kinh Thánh với Kinh Phật.

     Cũng vì không đọc Kinh Thánh, không hiểu Kinh Phật, chỉ nghe lời lừa bịp của Tin Lành về điều mê tín “Chúa tha tội”  và “ơn cứu rỗi của Chúa” cho nên Huệ Nhật đã viết:

     “Chúa dạy về tội lỗi, nguồn gốc của tội lỗi, quyền năng tha tội và cách giải quyết vấn đề tội lỗi tận gốc để chiến thắng điều ác.  Nhưng đạo Phật dạy rằng tội bổn tánh vốn không (tội lỗi vốn là không), không ai tha tội cho ai, con người phải tự thắp đuốc mà đi...

     Chúa dạy rằng tội lỗi di truyền trong dòng dõi loài người sau khi tổ tiên chúng ta phạm tội... Chúa dạy tội lỗi của loài người bắt đầu từ thái độ khước từ ơn cứu rỗi của Chúa.  Nghĩa là không vâng lời Ngài và tiếp tục sống trong lầm lạc với những ý tưởng hư không và ngu dốt đầy tối tăm...”  Rồi Huệ Nhật phàn nàn: “Điều đáng tiếc là còn nhiều người đang khước từ ơn cứu rỗi của Chúa”  Phàn nàn là phải vì trên thế gian ngày nay có hơn 4 tỷ người đang khước từ ơn cứu rỗi của Chúa.  Tại sao?  Vì họ không mê muội đến độ tin rằng mình có thể ăn một cái bánh vẽ trên trời.  Ki Tô Giáo cho rằng những người chống Chúa (anti-Christ) là thuộc quyền thống trị của Satan, cũng là do Thiên Chúa sáng tạo ra.   Điều này và thực tế chứng tỏ rằng quyền năng của Satan vượt xa quyền năng của Thiên Chúa dù trong Tân Ước, Giê-su tuyên bố là đã dứt khoát đánh bại Satan.   Phật tử chúng tôi, vì có đầu óc, nên chẳng tin là có Chúa mà cũng chẳng tin là có Satan.   Chúng tôi chỉ tin vào lời Phật dạy: “Hãy tự thắp đuốc lên mà đi.”

     Trong những bài trước đây mà tôi dịch từ những bài của Linh mục James Kavanaugh (Huyền Thoại Cứu Rỗi) , Giám mục Tin Lành John Shelby Spong (Giê-su Như Là Đấng Cứu Thế: Một Vai Trò Phải Dẹp Bỏ), và Robert G. Ingersoll (Những Lời Châu Ngọc Về Ki Tô Giáo), đã được đưa lên trang nhà Giao Điểm, chúng ta đã biết thực chất của cái gọi là “nguồn gốc tội lỗi” cũng như vai trò “Chúa cứu thế” trong Ki Tô Giáo.   Lẽ dĩ nhiên là Huệ Nhật cũng như những tín đồ Tin Lành tân tòng Việt Nam khác, ít ai biết đến những tác phẩm rất có giá trị trong nội bộ Ki Tô Giáo.  Ở đây tôi không nhắc lại những điều đã viết trong những bài trên.  Tôi chỉ muốn nói là:  Với trình độ hiểu biết của con người hiện nay thì những chuyện sáng tạo trong Kinh Thánh chỉ là những huyền thoại nhảm nhí, không còn giá trị đối với những người có đầu óc ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô Giáo.  Chuyện Adam và Eve sa ngã, vì không vâng lời Thần Cha, tạo nên tội tổ tông, và chuyện Giê-su leo lên cây thập giá, bị đóng đinh chết tiệt, để chuộc tội cho nhân loại, qua những bài dịch vừa nêu trên, chỉ là những chuyện man rợ của thời đại bán khai.

     Để một lần nữa, hi vọng có thể khai sáng phần nào đầu óc   của Huệ Nhật, tôi xin nhắc lại vài lời bình luận tôi chua thêm trong bản dịch bài của Giám mục Tin Lành John Shelby Spong:

     “Thánh Kinh viết, Genesis 3: 5: “Vì Thần Cha biết là cái ngày mà ngươi ăn trái cấm dó, mắt ngươi sẽ mở ra, và ngươi sẽ như Thần Cha, biết phân biệt thiện ác” (For God knows that in the day you eat of it your eyes will be opened, and you will be like God, knowing good and evil).  Điều này chứng tỏ mục đích tiên khởi của Thần Cha khi tạo ra con người là chỉ tạo ra người mù và vô trí, vì chưa mở mắt và không biết phân biệt giữa thiện và ác.  Thực tế cho thấy trong Ki Tô Giáo ngày nay không thiếu gì những người vẫn còn ở trong tình trạng ban đầu này.  (Huệ Nhật là một trong những người này).  Họ có mắt cũng như mù, có đầu óc nhưng không có trí tuệ.  Đó là những người rất hãnh diện làm đầy tớ, xiêng năng hầu việc Chúa, tin và sợ Thần Cha, một vị Thần của dân Do Thái cổ xưa. Họ tin Chúa nhưng họ không hề nghĩ rằng Chúa chỉ muốn họ là những người mù và vô trí, vì vậy họ tin rằng cái hành động của Adam và Eve ăn trái cấm là tội tổ tông truyền đến đời họ và họ cần phải rửa sạch cái tội đó trong máu của Giê su.  Vì vậy mà họ mang những đứa con nít sơ sinh vô tội của họ đi rửa tội.  Một khi rửa sạch được cái tội tổ tông đó thì họ sẽ trở về tình trạng tiên khởi mà Thần Cha tạo ra loài người, nghĩa là tình trạng tiền sa ngã của loài người, hay nói cho đúng hơn, trở lại tình trạng mù và vô trí.  Nếu không phải họ muốn như vậy thì thực ra họ phải cám ơn Adam và Eve đã mở mắt cho loài người, để loài người biết phân biệt giữa thiện và ác.  Chúng ta không nên lẫn lộn từ “mở mắt” trong Thánh Kinh với từ “mở mắt” mà chúng ta thường dùng hàng ngày, có nghĩa là vạch ra những sự thật để cho những người u mê thấy rõ.  (Theo nghĩa thường dùng này thì bài viết này chẳng qua cũng chỉ có hi vọng “mở mắt” Huệ Nhật ra một chút, một chút thôi). Vì sau khi ăn trái cấm, Adam và Eve mới mở mắt ra và mới cảm thấy xấu hổ là mình đang trần truồng, do đó mới lấy cái lá để che bộ sinh dục.  Nếu không có Adam và Eve thì loài người vĩnh viễn vẫn là những người mù và vô trí.  Thánh Kinh viết rằng một khi ăn trái cấm thì con người cũng giống như Thần Cha, biết thế nào là thiện và ác.  Điều này hoàn toàn sai vì đọc Thánh Kinh chúng ta thấy Thần Cha thực sự không biết thế nào là thiện, thế nào là ác.  Đối với Thần Cha thì không tin Thần Cha là ác, còn giết người hàng loạt (mass destruction) như Thần Cha làm hay sai đầy tớ làm thì là thiện, những tiêu chuẩn không thể chấp nhận trong thế giới văn minh tiến bộ ngày nay.  Mặt khác, lịch sử loài người đã chứng tỏ rằng trí tuệ loài người đã vượt xa trí tuệ của Thần Cha trong Thánh Kinh, nếu Thánh Kinh là những lời mạc khải của Thần Cha.  Đây là điều hết sức hiển nhiên, không có gì để bàn cãi nữa.”

     Nền Thần học của cây thập giá (Theology of the cross) trong Ki Tô Giáo bắt nguồn từ niềm tin vào chương sáng thế trong Kinh Thánh, tin rằng vì Adam và Eve ăn trái cấm mà loài người mang tội tổ tông.  Và Giê-su leo lên thập giá, hay bị người ta lôi lên thập giá, chịu chết, lấy máu mình để chuộc tội cho thiên hạ, một điều mê tín cồ xưa thuộc loại hi sinh tế thần của dân Do Thái.  Nhưng rồi nền Thần học này được Ki Tô Giáo khai thác, đưa ra luận điệu lừa bịp đám tín đồ thấp kém, biến đổi nó thành “quyền năng Chúa tha mọi tội lỗi của con người.”  Đó là điều Huệ Nhật hiểu và viết rõ trong bài của ông ta.    Như vậy, Chúa chịu chết trên thập giá không những để chuộc cái tội tổ tông hoang đường của con người, mà còn để chuộc luôn những tội ác của mọi người sinh ra sau khi Chúa chết, và nếu tin Chúa thì tất cả những tội lỗi đều được Chúa tha.  Tín đồ Ki Tô Giáo rất tin ở điều này nên cứ tha hồ làm điều ác và tin rằng Chúa sẽ tha tội cho là xong hết.  Họ không buồn nghĩ ra điều là cái luận cứ tha tội này đã biến Chúa Giê-su thành kẻ đồng lõa với các tội ác.  Bởi vậy trong Công giáo mới có cái gọi là “bí tích” xưng tội, để Cha thay Chúa “tha tội cho con”.  Nhưng Cha phạm tội, thí dụ như các linh mục và Mục sư loạn dâm, có được Chúa tha tội cho hay không thì không biết, họ vẫn phải vào tù ngồi để đền tội, đúng như lời Phật dạy: Chẳng có ai tha tội cho ai hết, mình làm mình chịu.  Có chạy lên trời xuống biển thì mình vẫn cứ phải hái cái quả mà mình đã gieo nhân.  Thực tế là mấy ông quan Tòa dân sự đã phủ quyết (veto) quyền năng tha tội của Chúa.

     Tôi không có thì giờ để tiếp tục làm công việc nhặt sạn trong hai bài của Huệ Nhật vì có nhặt đến Tết Congo cũng không hết.   Tôi cho như vậy là đủ.  Để kết luận, tôi có vài lời khuyên Huệ Nhật cũng như các tín đồ tân tòng Tin Lành Việt Nam như Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng v..v..:

     Thứ nhất, các ông chưa đủ trình độ để phê bình về giáo lý Phật Giáo và cũng chưa đủ trình độ để hiểu về chính đạo Tin Lành của các ông.  Các ông không nên nhọc sức đi làm việc của con Dã Tràng xe cát biển Đông.   Các ông nên biết, trong bao thế kỷ, các bộ óc thượng thặng trong Ki Tô Giáo đã dùng mọi thủ đoạn, mánh khóe để hạ thấp Phật Giáo nhưng làm không nổi, trái lại Phật Giáo càng ngày càng phát triển trên thế giới dù không có mục đích đi vơ vét tín đồ bằng đủ mọi thủ đoạn như Ki Tô Giáo.  Hữu xạ tự nhiên hương, có phải không.  Các ông có thể hi vọng là với những loại đầu óc như của Huệ Nhật, với những bài viết vô giá trị thuộc loại mù lòa tin bướng tin càn như của Huệ Nhật  là có thể ngăn cản được sự tiến triển tự nhiên, phù hợp với luật tiến hóa, của Phật Giáo hay sao?  Con người nằm trong luật tiến hóa, con người không có đi giật lùi, các ông đừng hi vọng con người bỏ sự tiến bộ trí thức để trở về thời đại của mê tín.

     Thứ nhì, các ông cần phải nhận rõ một điều:  bất kể Phật Giáo như thế nào, có phải là đạo trí tuệ hay không, và bất kể Ki Tô Giáo như thế nào, có phải là đạo do sự mạc khải của Thiên Chúa hay không, có ơn Chúa hay không,   thì các ông cũng không thể phủ nhận một sự kiện sau đây: lịch sử truyền đạo của đạo Phật trong hơn 2500 năm nay không hề làm đổ một giọt máu, trong khi lịch sử truyền đạo của Ki Tô Giáo là một lịch sử ô nhục, đẫm máu và chém giết nhau, kéo dài cho đến tận ngày nay.  Văn dĩ tải đạo.  Văn trong Kinh Thánh đã tải cái đạo Giê-su như thế đó.  Nhìn cái quả biết cái nhân.  Nhìn lịch sử Ki Tô Giáo, biết thực chất của Kinh Thánh, có phải như vậy không?  Vậy các ông lấy cái gì để thuyết phục con người tin vào “ơn cứu rỗi” của Chúa, trừ điều mê tín hoang đường về “tội tổ tông” và “ơn cứu rỗi” mà ngày nay đã không còn chỗ đứng trong dân gian, trừ những đầu óc thuộc loại khuyết tật như của Huệ Nhật?

    Thời đại hoàng kim của Ki Tô Giáo dựa vào cường quyền bạo lực đã qua.  Nhân loại đã tiến bộ và như John Remsburg đã nói:  những thanh gươm để giết người và những bó củi để thiêu sống người đã bị tước khỏi những bàn tay đẫm màu của Ki Tô Giáo, và ngày nay Ki Tô Giáo chỉ còn có thể dùng đến hai vũ khí: xuyên tạc và gây thù hận.  Nhưng muốn sử dụng hữu hiệu hai vũ khí này, cần phải có một trình độ tối thiểu về những hiểu biết cập nhật hóa về các tôn giáo trên thế giới.  Đây là điều các ông không hề có.

 

Mark_03.gif (833 bytes) Go to top page

half_under_water_sw.gif (3365 bytes)

Home  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net