curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

Diễn đàn mở rộng của nhóm chủ trương Giao Điểm

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

..........

      03_gd09.JPG (8261 bytes)

    Tôn giáo: vấn đề của thời đại:

 blue_dot.gif (122 bytes) Darwin và thuyết Tiến hóa Trần Chung Ngọc

 blue_dot.gif (122 bytes) Thư của Charlie Nguyễn trả lời nhóm Thánh Gia

 blue_dot.gif (122 bytes) đạo Hồi: đức tin của chiến tranh và bạo lực Charlie Nguyễn

 blue_dot.gif (122 bytes) Hội thừa sai và chính sách đế quốc tại VN... P. JN. Tuck Uỷ ban đoàn kết Công giáo

 blue_dot.gif (122 bytes) Hồ sơ tội ác của Hội thừa sai Pari và Giáo hội CGVN  Charlie Nguyễn 

 blue_dot.gif (122 bytes) Nguyễn Văn Trung: kẻ ám sát tôn giáo   Trần nghi Hoàng

 blue_dot.gif (122 bytes) Những điều răn đã mất giá trị  Nguyễn Ái Thư dịch new_03.gif (2954 bytes)

  blue_dot.gif (122 bytes) Hiện tượng ‘Nguyễn huệ Nhật” Trần Chung Ngọc new_03.gif (2954 bytes)

  Vấn đề lịch sử - hư cấu tiểu thuyết và sự ngộ nhận của tri thức:

 blue_dot.gif (122 bytes) Giáo sĩ    Trần Vũ

 blue_dot.gif (122 bytes) Phản ứng qua bài “Giáo sĩ’ và trả lời của tác giả

 blue_dot.gif (122 bytes) Lịch sử trong tiểu thuyết - một tuỳ tiện ý thức   Trần Vũ 

  40 năm nhìn lại - PG 63:

 blue_dot.gif (122 bytes) Cuộc chơi hơn nủa đời người  Hoàng Nguyên Nhuận

     đặc biệt của Chính Đạo:

 blue_dot.gif (122 bytes) “Phiến Cộng” trong dinh Gia Long (phần I)

 blue_dot.gif (122 bytes) Những thế lực chi phối bên ngoài (phần II)

 blue_dot.gif (122 bytes) Sự điên rồ của tập thể gia đình cai trị và Kết từ 

  Câu chuyện thời sự trong tháng 9:

 blue_dot.gif (122 bytes) Tay vấy máu?  Nicolas Kristof

 blue_dot.gif (122 bytes) Giải phóng bắng hình ảnh Nguyễn Văn

 blue_dot.gif (122 bytes) Bóng ma của Uday and Qusay        Robert Fisk 

 blue_dot.gif (122 bytes) Giới thiệu sách mới: “VN: Spirit of the Earth”

 blue_dot.gif (122 bytes) Tín vắn đó đây

 blue_dot.gif (122 bytes) Chính quyền Bush và Iraq   TCN

     Bạn đọc góp ý:

 blue_dot.gif (122 bytes) Thư góp ý pháp lệnh tôn giáo  Học Hội Giêsu giáo

08_gdmau.jpg (3664 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
whiteball.gif (923 bytes)    Trang nghiên cứu đối thoại tháng 9 quý ba 2003    whiteball.gif (923 bytes)

  

“PHIẾN CỘNG” TRONG DINH GIA LONG:

  • Chính Đạo

Điều không thể ai phủ nhận là một dân tộc muốn vượt tiến, phải nghiền ngẫm những trang quốc sử trung thực của chính đất nước, dân tộc mình. Dù không ai có thể tắm hai lần dưới cùng một dòng nước, như một triết gia Tây phương đã viết, lịch sử là một gia tài vô tận đóng góp cho sự hưng thịnh và sinh tồn của một dân tộc. Những người cầm quyền và các thế lực chính trị thường ưa thích che dấu sự thực lịch sử, dùng mọi thủ đoạn man trá và ác độc nhất để bẻ cong lịch sử hầu ngu dân, điều-kiện-hóa trí tuệ thanh thiếu niên. Hậu quả là nhiều hơn một lần, người Việt vừa hò hét vừa chĩa súng, xỉa gươm giáo vào ngực nhau mà tàn sát, dù chẳng rõ nguyên do tại sao cần có những cuộc thảm sát phi nghĩa và vô luân ấy. Nhiều hơn một lần, người Việt—dù ở bên này hay bên kia chiến tuyến—đã trở thành nạn nhân của những nguồn ý thức hệ ngoại lai, tự biến thành những âm binh chịu phù phép, đâm chém bắn giết, cắt cổ mổ bụng người thân mà vẫn ngỡ tưởng mình thánh thiện. Những hệ thống tuyên truyền tinh vi của giới chức cầm quyền và các thế lực khác khiến người Việt bị vong thân, tha hóa, lúc nào cũng sẵn sàng lao vào những “cuộc thánh chiến” do ngoại cường điều khiển. Giai đoạn từ 1945 tới 1975 là giai đoạn tiêu biểu nhất của nhiều cuộc “thánh chiến” được du nhập hay áp đặt lên giang sơn gấm vóc của chúng ta, chặt xương, cắt gân, chia tim xẻ óc dân tộc chúng ta.

“Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, 1945-1975” là biên khảo lịch sử mới nhất của Chính Đạo, một bút danh của Tiến sĩ Sử học Vũ Ngự Chiêu, nhằm giải đáp một số vấn nạn, nếu không phải nghi án, lịch sử cận đại, hiện vẫn còn gây nhiều bàn cãi, nghi hoặc. Dựa trên tài liệu văn khố Pháp, Mỹ, Nga, Trung Cộng, Việt Nam và những tài liệu nguyên bản khác thu thập suốt hơn 25 năm qua, tác giả hy vọng sẽ đóng góp phần nào cho việc tái dựng lại những trang lịch sử trung thực nhất, không ngả nghiêng tà vạy theo ý thức hệ, tôn giáo hay mục tiêu chính trị giai đoạn của các thế lực nào đó. Sách sẽ do nhà xuất bản Văn Hóa phát hành trong năm 2004.

Bài “Phiến Cộng Trong Dinh Gia Long” này là một trong những vấn nạn lịch sử tiêu biểu hiện còn tô đậm, đào sâu theo lằn ranh tôn giáo và ý thức hệ của người Việt.

[Ghi chú thêm của GĐ: Trong vài năm trở lại đây, đặc biệt vào lúc CSVN đang cố xích lại với Mỹ, chúng ta thấy có hiện tượng của một vài nhóm, vài nhân vật có thể là hậu duệ “nha trảo” của chế độ nhà Ngộ (“nha trảo” là cách nói của Chính Đạo) ở hải ngoại, tìm cách đánh bóng lại các lãnh tụ Diệm Nhu, bất chấp sự đau thương và bội phản mà chế độ này đã mang lại ở miền Nam vẫn còn váng vất đâu đây... Mặt khác chế độ CSVN cũng đã đánh bóng, tuyên dương công trạng của một vài “phiến Cọng” Thiên Chúa giáo trong dinh Gia Long/ Độc Lập như Vũ Ngọc Nhạ... - nhưng do cơ duyên được tiếp xúc với vài nhân vật Intelligence trong nước họ đã cho chúng tôi biết trong thời gian bị chế độ miền Nam giam cầm, Nhạ đã phản bội cung khai tất cả bí mật đứa tới sự huỷ diệt một số cơ sở và không ít các cán bộ CS đã bị thủ tiêu hay tù tội. Bên cạnh đó, một vài tiếng nói trong e dè đã biện minh dùm cho Ngô Đình Nhu không hề “đi đêm” với CS Hà Nội bằng một vài tài liệu sách báo phiến diện. Phủ nhận mưu đồ bắt tay với CS của chế độ thừa sai Công giáo La mã Diệm-Nhu là cách gián tiếp phủ nhận hệ luận “những kẻ phi dân tộc trước sau cũng sẽ phản bội dân tộc”. Chúng tôi mong rằng bài viết bằng tâm huyết và công phu của Chính Đạo sẽ xóa trắng mọi mưu toan chính trị nói trên. Quý bạn đọc có thể tìm đọc một quan điểm phiến diện và đơn thuần về giai đoạn lịch sử này qua bài viết của gs Nguyễn Ngọc Giao trên mạng lưới Diễn Đàn Paris qua nối kết sau đây:

http://perso.wanadoo.fr/diendan/nouveau/u131nngiao.html  ] 

                                                                                      purcube_03.gif (374 bytes)

Một trong những vấn nạn, nếu không phải nghi án, lịch sử cận đại còn gây nhiều tranh luận là vấn đề âm mưu ve vãn [flirtation] Cộng Sản Hà Nội của anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm (1897-1963) trong hai năm 1962-1963. Nhiều học giả thế giới đã cố gắng đưa ra những giải thích về vấn đề này. Người cho rằng anh em họ Ngô không còn biết lý lẽ [no longer be rational] nữa trước áp lực Mỹ. Người cho rằng họ Ngô chỉ muốn chơi một ván bài poker với Mỹ. Người cho rằng họ Ngô thực sự muốn nói chuyện với miền Bắc, và nếu không có cuộc đảo chính 1/11/1963, Cộng Sản đã chiếm miền Nam vào cuối năm 1963. Bi thảm cho họ Ngô là những người tin rằng họ Ngô muốn dâng miền Nam cho Cộng Sản Bắc Việt lại có quyết định chung cuộc số phận họ Ngô.

Vấn đề ve vãn Cộng Sản này khá phức tạp. Nó không những chỉ hạn chế trong phạm vi quốc nội của Việt Nam mà còn bị chi phối, hoặc ít nữa ảnh hưởng, bởi các trào lưu chính trị và chiến lược thế giới của nhiều hơn một ngoại bang. Ngoài Liên bang Mỹ, Liên Sô Nga và Trung Cộng—ba quốc gia ảnh hưởng sâu đậm trên nội tình Việt Nam—còn có những quốc gia khác như Pháp, India [Ấn Độ], Poland [Ba Lan] hay vương quốc Ki-tô Vatican.

Trong tập biên khảo Tôn Giáo & Chính Trị: Phật Giáo, 1963-1967 dưới bút danh Chính Đạo, và tâm bút Ngàn Năm Soi Mặt, ký tên Nguyên Vũ, tôi đã lược nhắc đến vấn nạn này, dưới tiểu tựa “Phiến Cộng trong Dinh Gia Long.”(1) Vì trọng tâm các chương có đề cập đến âm mưu ve vãn Hà Nội của họ Ngô này không phải là chính sách của họ Ngô, chúng tôi đã vô cùng tỉnh lược, không đi vào chi tiết cũng như phân tích tỉ mỉ các dữ kiện. Bài viết này—trích ra từ sơ thảo “Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, 1954-1975”—xin được coi như đóng góp thêm vào vấn nạn trên.

1. Hai chương sách này đều được đăng lại trên website Giao Điểm, vào tháng 4 và 6/2003. Độc giả Đi Tới cũng đã có dịp đọc qua bài “Cái chết của một hàng tướng: Dương Văn Minh,” trước khi bài này in trong Ngàn Năm Soi Mặt.

I. TIẾP XÚC VỚI CỘNG SẢN:

Không ai có thể chối cãi việc anh em họ Ngô tiếp xúc với Cộng Sản. Nếu thời điểm họ Ngô bắt đầu ve vãn Cộng Sản còn gây nhiều bàn cãi, đầu mối bằng xương, bằng thịt xuất hiện tại ngay chính Dinh Gia Long ngày 2/9/1963 là Mieczylslaw Maneli, Trưởng đoàn Poland trong Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến (ICC, sẽ dẫn UBQT/KSĐC). Đích thân Cố vấn Ngô Đình Nhu (1910-1963) cũng tuyên bố với viên chức tình báo Mỹ, và ngay cả các Tướng miền Nam, nhiều lần, rằng ông ta từng tiếp xúc Việt Cộng. Tình báo Mỹ, Pháp và Việt đều nói về buổi họp mặt bí mật với Phạm Hùng (Phó Thủ tướng Bắc Việt, đặc trách kế hoạch thống nhất hai miền Nam-Bắc từ năm 1958). Một số người còn nhắc đến, dù chẳng trưng được bằng cớ có thể kiểm chứng nào, những cuộc tiếp xúc giữa ông Nhu và cán bộ CSBV ngay tại Sài Gòn vào hạ tuần tháng 10/1963.(2)

2. Nguyễn Văn Châu, Ngô Đình Diệm: Nỗ lực hòa bình dang dở, bản dịch Việt ngữ của Nguyễn Vi Khanh (Los Alamitos, CA: Xuân Thu, 1988), tr. 161-164. Trung tá Châu—một cựu Quân ủy trung ương của Đảng Cần Lao, trước khi nắm Nha Chiến tranh Tâm lý, và rồi đưa qua Oat-shinh-tân làm tùy viên quân sự vào tháng 9/1962—thời gian này có mặt ở Sài Gòn, nhưng không nêu tên nhân chứng, và còn dựa theo một tài liệu không có mức tin cậy cao.

A. NHỮNG ĐẦU MỐI:

1. Mieczylslaw Maneli:

Từ mùa Xuân 1963, theo Maneli, nhiều nhân vật trong giới ngoại giao đã yêu cầu Maneli gặp Nhu. Trong số này có Đại sứ Pháp Roger Lalouette, Đại sứ India (Ấn Độ)  trong UBQT/KSĐC, Ram Goburdhun, Đại sứ Italia (Ý) Giovanni d'Orlandi và Đặc sứ Vatican (Tòa thánh La Mã) Salvatore d'Asta. Họ cho biết đã nói với Nhu về Maneli, và Nhu ngỏ ý muốn gặp. Tối Chủ Nhật, 25/8, Maneli được giới thiệu với Nhu trong buổi tiếp tân của Trương Công Cừu, vừa để ra mắt ngoại giao đoàn nhân dịp được cử thay Vũ Văn Mẫu làm Ngoại trưởng, vừa đón tiếp Đại sứ Henry Cabot Lodge.(3)

3. Mieczylslaw Maneli, War of the Vanquished [Cuộc chiến của những kẻ bại] (New York: 1971), tr. 137-139. Sẽ dẫn: Maneli, 1971. Cuối tháng 8/1963, Maneli đã mật báo tin này cho Mỹ. Sau ngày 1/11/1963, Bộ trưởng Nội Vụ Tôn Thất Đính cũng họp báo tiết lộ việc Nhu liên lạc với Hà-nội, qua trung gian Maneli; Maneli 1971:112-114. Tuy nhiên, những lời chứng trong sách của Maneli ấn hành tại Mỹ, tưởng cần nhấn mạnh, không có giá trị tuyệt đối. Nó cũng chỉ là một thứ truyền khẩu sử, hay dã sử; cần được phối kiểm với các tài liệu văn khố khác.

Ngay sau lần gặp sơ khởi, Maneli báo cáo về Warsaw, đồng thời thông báo với Đại sứ Liên Sô Tovmassian ở Hà Nội và Hà Văn Lâu, Trưởng đoàn VNDCCH tại UBQT/ KSĐC. Lâu và Tovmassian, theo Maneli, tán thành. Qua ngày 2/9, Nhu mời Maneli vào Dinh Gia Long bàn việc liên lạc với Hà Nội. Sau đó, Maneli ra Hà Nội báo cáo sự việc. Nhưng Warsaw đột ngột cho lệnh Maneli ngừng gặp Nhu. (Maneli, 1971:140-147).

Ngay chiều ngày 2/9, Cố vấn Nhu nhìn nhận với Đại sứ Lodge rằng mới gặp Maneli hôm đó. Maneli hỏi Nhu là có thể báo cáo gì với Phạm Văn Đồng về những lời tuyên bố của de Gaulle (29/8) và Hồ (5/1963 hoặc 8/1963). Nhu trả lời: “Không.” (4)

4. Nhu nói thêm: “De Gaulle có quyền phát biểu ý kiến, nhưng những người không tham gia vào trận chiến không có quyền can thiệp. Sự trung thành của chúng tôi với Mỹ ngăn cấm chúng tôi nghiên cứu tuyên bố của de Gaulle hay Hồ. Người Mỹ là dân tộc duy nhất trên trái đất dám giúp Nam Việt Nam.” CĐ 403, ngày 2/9/1963, Lodge gửi BNG; Foreign Relations of the United States [Bang giao quốc tế của Liên bang Mỹ], 1961-1963, IV:85. Sách dẫn: FRUS, 1961-1963.  

Ngày 2/9/1963 này, mật báo viên của Mỹ [d’Asta?] nhận xét rằng việc Maneli và nhân viên Pháp (không phải cá nhân Lalouette) làm trung gian cho Nhu và Đồng là một thứ bí mật chẳng dấu được ai (open secret) trong giới ngoại giao tại Sài Gòn đã nhiều tháng. Mật báo viên này cũng được Maneli nhờ giới thiệu với Nhu nhưng từ chối. (5)

5. CĐ CIA ngày 2/9/1963; FRUS, 1961-1963, IV:89-90.

Bốn ngày sau, chiều 6/9/1963, Nhu xác nhận với một viên chức CIA là d'Orlandi và Goburdhun đã nhiều lần yêu cầu Nhu gặp Maneli. Ngày 2/9, theo Nhu, Maneli khuyên Nhu nên lợi dụng những lời tuyên bố của de Gaulle (29/8) và Hồ (5/1963 hoặc 8/1963) để thương thuyết với Hà-nội. Maneli nói đã được Phạm Văn Đồng ủy quyền làm trung gian [authorized by Pham Van Dong to act as intermediary]. Nhu trả lời Maneli rằng lời tuyên bố của de Gaulle rất “lôi cuốn” [interesting], nhưng chỉ những người thực sự chiến đấu trong cuộc chiến này có quyền nói và hành động. Nam Việt Nam liên kết với Mỹ và sẽ là điều vô luân khi dò dẫm đơn phương sau lưng người Mỹ. Vấn đề hiệp thương mang lại sự bất lợi về tinh thần chiến đấu cũng như sự thông suốt về chính trị của dân chúng miền Nam. Nhu khẳng định không thương thuyết với Hà-nội, chỉ tiếp xúc Việt Cọng ở miền Nam. Nhu còn nói không có đường dây bí mật nào với miền Bắc, nhưng Maneli và Goburdhun lúc nào cũng sẵn sàng.(6)

6. CĐ 0689, CAS gửi CIA; FRUS, 1961-1963, IV:125-126.

Như thế, đích miệng Nhu thú nhận hai lần là từng gặp Maneli, người tự nhận là sứ giả của Phạm Văn Đồng, Thủ tướng Bắc Việt.

Ngày 16/9/1963, Thiếu tướng Trần Thiện Khiêm mật báo với Mỹ rằng các Tướng nóng lòng làm đảo chính hơn khi thấy thêm nhiều chứng cớ về việc Nhu muốn thương thuyết với miền Bắc. [The Generals are . . . becoming increasingly concerned over additional evidence [of] Nhu negotiating for settlement with North]. (FRUS, 1961-1963, IV:239) Theo Khiêm, Nhu tiết lộ với một số Tướng (như Big Minh, Lê Văn Nghiêm) về cuộc tiếp xúc với Maneli. Maneli đã mang tới đề nghị của Đồng về việc hiệp thương giữa Bắc và Nam; và Nhu đang nghiên cứu, sẽ cho các Tướng biết thêm những bước kế tiếp. Nhu tuyên bố Maneli đã hoàn toàn dưới sự sử dụng của Nhu và sẵn sàng bay ra Hà Nội bất cứ lúc nào được chỉ thị. Nhu còn thêm rằng Đại sứ Pháp Lalouette từng đề nghị tương tự.(7)

7. Nguyên văn, “Counselor Nhu has discussed with some Generals (Khiem states that he was not in on discussion and only mentioned Big Minh and General Nghiem as being among those with whom Nhu discussed the item) his conversation with Polish Commissioner Maneli. He told Generals that Maneli had brought him a proposal from DRV Prime Minister Pham Van Dong for start of trade between North and South Vietnam. Nhu had informed the Generals that he had taken this under consideration and would consult with them in any future move. According to Nhu, Maneli has stated that he was at Nhu’s complete disposal and ready to fly to Hanoi at a moment’s notice. Nhu had also stated that French Ambassador Lalouette had also offered his services toward same end.” FRUS, 1961-1963, IV:240.

2. Cán bộ “Việt Cộng”:

Nhu thú nhận đã bí mật tiếp xúc với một số cán bộ Việt Cộng (hiểu theo nghĩa Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam). Mùa Xuân 1963, nhân dịp phát động chiến dịch Chiêu Hồi (vào tháng 4/1963), Nhu nhiều lần khoe đón tiếp cán bộ Cộng Sản cao cấp ngay tại Dinh Gia Long. Có lần, Nhu chỉ vào chiếc ghế Đại sứ Frederick (Fritz) Nolting đang ngồi, nói một lãnh tụ Cộng Sản vừa mới rời chỗ đó. Rồi giải thích rằng đang gặp các lãnh tụ Việt Cộng để thuyết phục họ mang quân về hàng chính phủ. Nolting báo cáo chi tiết này về Oat-shinh-tân, và xin cho Nhu toàn quyền hành động hầu thành lập một chính phủ "mở rộng." Nhưng các cố vấn của Kennedy không hài lòng—họ coi đó gần như một hành động bội phản. (8)

8. Nolting, From Trust to Tragedy, 1988:117-118.

Chiều ngày 2/9 Nhu cũng thú nhận với Lodge rằng mình từng tiếp xúc với Việt Cọng. Những cán bộ VC này đã rất chán nản và muốn ngừng hoạt động (?). Sáu tháng trước, một Đại tá VC muốn đào ngũ với 3 tiểu đoàn, nhưng Nhu  khuyên ông ta ở lại biên giới Lào chờ cơ hội thuận tiện.  Một Tướng VC ở Miên cũng muốn gặp Nhu. Không những VC đang thất vọng mà còn cảm thấy bị Bắc Việt lợi dụng. (9)

9. CĐ 403, ngày 2/9/1963, Lodge gửi BNG; FRUS, 1961-1963, IV:85.

Có người cho rằng đây là lời bịa đặt của Nhu. Nhận định này quá vội vã. Trong hậu trường chính trị Sài Gòn, luôn luôn có những màn đi đêm lạ lùng. Không thiếu người tìm mọi nỗ lực “lôi kéo những phần tử Quốc Gia” ra khỏi sự kiềm tỏa của Cộng Sản trong MT/GPMN. Trong số nhân vật thường được coi là “người quốc gia” có Kiến trúc  sư Huỳnh Tấn Phát và Luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Từ năm 1948-1949, Y sĩ Lê Văn Hoạch và Nguyễn Hòa Hiệp đã không ngừng thực hiện kế hoạch đưa phần tử quốc gia về thành. Mùa Thu 1964, Đại tướng Nguyễn Khánh—cũng qua Quốc Vụ Khanh Lê Văn Hoạch, một cựu Thủ tướng Nam Kỳ Tự Trị (1946-1947)—đã trao đổi thư từ với Phát, Tổng thư ký MT/GPMN, nhưng cũng đồng thời là người cầm đầu tổ tình báo chiến lược trí vận tại Sài Gòn-Gia Định. Món quà trao đổi là vợ con Phát và tù binh Mỹ. Hai năm sau, dù đang lưu vong ở Paris, ông Khánh còn mưu toan móc nối với Nguyễn Hữu Thọ, đưa Chủ tịch MT/GPMN về hồi chính. Một trong những người trung gian là Lê Văn Trường ở Paris, người tự nhận là “thượng cấp” của Thọ. Năm 1966, Đại sứ Lodge cũng lọt vào một màn ảo thuật âm mưu đưa Nguyễn Hữu Thọ bỏ mật khu trở về với chính nghĩa quốc gia. (10)

10. Xem Chính Đạo, VNNB, 1939-1975, tập I-D: 1964-1968 (đang in).

Trong hai năm 1962-1963, chung quanh ông Nhu cũng có khá nhiều cán bộ tình báo chiến lược của CSBV. Phạm Ngọc Thảo và Vũ Ngọc Nhạ chỉ là hai người được biết nhiều nhất. Lời thú nhận “móc nối với Việt Cộng” của Nhu, bởi thế, cần được nghiên cứu kỹ càng hơn trước khi có một nhận định võ đoán [sweeping remark]. Cho tới khi có tài liệu chứng minh ngược lại, chúng ta không thể không tin lời khai của chính ông Nhu. (Theo hình luật Mỹ, lời tự thú của nghi can là bằng chứng rất đáng tin cậy)

3. Phái viên khác của Hà Nội:

Theo một nguồn tin, Nhu còn mượn cớ đi săn, để bí mật gặp cán bộ CSBV.

a. Truờng hợp Phạm Hùng:

Cán bộ CS được ông William Colby nêu đích danh là Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính Trị Đảng Lao Động Việt Nam, Phó Thủ tướng, Chủ Nhiệm Ủy Ban Thống Nhất. Theo Colby—trưởng lưới tình báo CIA tại Sài Gòn, Giám đốc Sở CIA Đông Nam Á, Phụ tá Giám đốc kế hoạch bình định nông thôn ở Việt Nam [CORDS], và rồi Giám đốc CIA—nhiều năm sau cái chết của anh em Diệm-Nhu, một Tướng cao cấp thuộc nhóm chủ trương cuộc đảo chính 1963 [Trần Văn Đôn?] tuyên bố đã từng nghe tin Nhu gặp mặt Phạm Hùng vào [tháng 2/1963]. Cuộc gặp mặt này xảy ra trong giai đoạn mà Diệm và Nhu đang có nhiều dị biệt lớn lao với Mỹ, và đang nỗ lực tìm cách thoát khỏi sự bế tắc giữa hai gọng kìm Mỹ và Cộng Sản. (11)

11. Colby, Lost Victory, 1989:102-103. Trong cuốn Our Endless War in năm 1987, Đôn không nhắc đến chi tiết này. Ấn bản tiếng Việt của tập hồi ký trên ghi rằng Nhu được Trung tá Bường, tỉnh trưởng Bình Tuy, đưa đến gặp Phạm Hùng và hai người khác. Nhu hứa với Phạm Hùng là sẽ cho Lệ Xuân và Lệ Thủy ngồi lên chuyến xe lửa thống nhất đầu tiên ra Hà Nội. (tr. 183). Tướng Đôn, tưởng cũng nên ghi nhận, là một trong những “nguồn tin đáng tin cậy” của các viên chức Mỹ. Một trong những lý do là Đôn từng được OSS huấn luyện vào mùa Hè 1945, rồi gửi trở lại nội địa lấy tin tức về quân Nhật. Đôn rất thân thiết với Lou Conein và Edward Lansdale.

Là người thân thiết với Nhu và chống lại việc thay chế độ Diệm, Colby không chỉ trích dẫn lời chứng của Tướng [Đôn] một cách tắc trách. Muốn bác bỏ hay “chỉnh lý” chi tiết này, cần tìm ra những tư liệu văn khố tại Bộ Chính Trị Đảng CSViệt Nam, Nga hay Trung Cộng chứng minh không có màn đi đêm, mà không thể chỉ dùng một lời nhận định võ đoán là “tin đồn vô căn.” Về chi tiết Phạm Hùng là “người cầm đầu các nỗ lực của Cộng Sản tại miền Nam [the leader of the Communist effort in the South] Colby đề cập cũng không nhất thiết phải hiểu thu hẹp như Bí thư Trung Ương Cục Miền Nam vào thời gian này [1963]. Năm 1963, Phạm Hùng, với cương vị Chủ nhiệm Ủy Ban Thống nhất có thể được kể như người cầm đầu nỗ lực của CS tại miền Nam. Những Nguyễn Văn Linh, Võ Toàn (Võ Chí Công), Trần Văn Trà, Trần Nam Trung (Trần Lương), Trần Văn Tấn (Lê hay Trịnh Trọng Tấn) chỉ là cán bộ trung cấp (Ủy viên trung ương Đảng) tại “B”. Câu văn của Colby có thể cũng chỉ nhằm ghi nhận rằng Phạm Hùng là người cầm đầu CS miền Nam khi Colby được mật báo về chuyện gặp gỡ bí mật Nhu-Hùng bốn năm năm trước.(12)

12. Tiện đây cũng nên thêm rằng Colby dùng từ “apocryphal” [sự phóng đại], khi phê bình lời nhận xét của Phạm Hùng về Ấp chiến lược do người bạn [Đôn hay Khiêm?] thuật lại, mà không nhắm vào bản tin về buổi gặp mặt giữa Ngô Đình Nhu và Phạm Hùng.

Cuộc gặp mặt Hùng-Nhu này, tưởng nên ghi thêm,  cũng được tình báo Pháp ghi nhận. Tin tình báo thì thường chỉ ghi “reliably informed.” Lời chứng của các Tướng Đôn, Khiêm, Minh hay Nghiêm có mức khả tín nào sẽ được tài liệu văn khố bạch hóa trong tương lai.

b. Những đầu mối khác:

Vài tác giả còn ghi nhận đại diện CSBV vào gặp Nhu ngay tại Sài Gòn, qua trung gian Đại sứ India trong UBQT/KSDC “nhiều lần.” (Châu, 1988:162-163)

Trần Văn Dĩnh—cố vấn và xử lý thường vụ  Tòa Đại sứ Việt Nam tại Oat-shinh-tân từ ngày 22/8/1963, đang trên đường qua New Dehli nhận nhiệm sở mới—cũng tiết lộ rằng ngày 29/10 đích thân Diệm chỉ thị cho Dĩnh chuẩn bị gặp một đại diện Hà Nội (Lê Đức Thọ?) để dò ý. Theo dự trù, Dĩnh sẽ gặp phái viên Hà Nội ngày 15/11/1963 tại New Dehli, nơi Nguyễn Cơ Thạch (Phạm Văn Cương ghé đang giữ chức Tổng Lãnh sự từ ngày 26/7/1956. Nhưng cuộc đảo chính 1/11/1963 khiến âm mưu đi đêm này phải bỏ dở. Theo Dĩnh, Diệm còn dặn dò là phải dấu kín Nhu.(13)

13. Ellen Hammer, A Death in November, (NY: Oxford Univ Press, 1987), tr. 268-270. Dĩnh là một trong những thông ngôn phục vụ tại Tòa lãnh sự Nhật ở Huế từ năm 1942, và có liên hệ với Diệm từ ngày này. Chẳng hiểu do ngẫu nhiên hay vì một lý do nào cả Châu và Dĩnh, hai cán bộ Cần Lao cao cấp, đều có mặt ở Sài Gòn vào những ngày cuối của chế độ Diệm.

Những chi tiết này cũng như toàn bộ cuộc đi đêm giữa Nhu với Hà Nội, dĩ nhiên, phải nhiều thời gian nữa mới có thể rõ chi tiết, khi tài liệu văn khố Bộ Chính Trị Đảng CSVN, Trung Cộng, Liên Sô Nga hay Vatican mở ra cho các nhà nghiên cứu. Một số tư liệu Pháp và Mỹ hiện cũng chưa giải mật. Người học sử nghiêm túc không thể không thận trọng về mặt trận tình báo dầy phủ sương mờ nghi hoặc này, chẳng nên áp dụng cứng ngắc thứ luật “bằng chứng” [evidence] của luật pháp Mỹ gọi là “hearsay” [nghe lại lời kể của một người khác]. Hơn nữa, có những bằng chứng không thể bài bác khác, sau khi phối kiểm lại, cho thấy Diệm-Nhu quả thực đã ve vãn Hà Nội, tìm cách gặp đại biểu Hà Nội, khiến chính phủ Mỹ lo ngại rằng một sự thỏa thuận Bắc-Nam có thể trở thành sự thực vào khoảng cuối năm 1963.

B. NHỮNG BIỂU HIỆU:

1. Thống nhất và trung lập:

Những tài liệu văn khố hiện đã mở ra cho người nghiên cứu chưa tiết lộ rõ ràng chi tiết về phản ứng của họ Ngô với điều kiện “thống nhất và trung lập” mà Hà Nội cũng như MT/GPMN tung ra từ năm 1962.

Ngô Đình Diệm, vào tháng 5/1963, chỉ tâm sự với Lalouette rằng chiến trận sẽ tự động tàn lụn đi, không cần phải có thương thuyết, vì các lãnh đạo miền Bắc cảm thấy được sự vô ích trong âm mưu đánh chiếm miền Nam.(14)

14. Báo cáo ngày 29/5/1963, Lalouette gửi BNG; CLV, SV, d. 18.

Nhu là người duy nhất trực hoặc gián tiếp đề cập đến vấn đề trung lập. Gần cuối tháng 8/1963, Trần Thiện Khiêm báo cáo với tình báo Mỹ rằng Nhu tuyên bố với các Tướng (kể cả Dương Văn Minh, Lê Văn Nghiêm) là nếu Mỹ cắt viện trợ, Nhu có thể liên lạc với Hà-nội, yêu cầu giảm bớt cường độ chiến tranh, trong khi thương thuyết một thỏa ước vĩnh viễn. (FRUS, 1961-1963, IV:89-90).

Nguồn tin tình báo Mỹ ngày 30/8/1963, có lẽ của Khâm sứ Vatican hoặc Đại sứ Italia, khẳng quyết rằng ít tháng trước ngày Nhu tiếp Maneli tại Dinh Gia Long, Nhu đã chủ trương trung lập hóa và thống nhất Việt Nam. (FRUS, 1961-1963, IV:89-90)

Ngày 30/8, Diệm triệu tập một phiên họp Hội đồng chính phủ để nghiên cứu tuyên ngôn ngày 29/8/1963, về giải pháp trung lập, thống nhất, độc lập với mọi ảnh hưởng ngoại bang của Tổng thống Pháp Charles de Gaulle. Rồi cho lệnh Việt Tấn Xã dịch tuyên ngôn trên qua tiếng Pháp, in trên trang nhất bản tin Việt Tấn Xã của VNCH. Đại sứ Phạm Khắc Hy ở Paris cũng nhận lệnh xin gặp Ngoại trưởng Maurice Couve de Murville, yêu cầu giải thích lập trường của Pháp. Một số viên chức thân cận với Nhu, như Quyền Ngoại trưởng Trương Công Cừu—được Lodge gọi là “tên xu nịnh không hề biết xấu hổ nhất mà tôi từng được biết”—nói với viên chức Pháp rằng người Việt đã “hiểu được” những gì de Gaulle muốn nói.

Nhưng trong lần gặp Lodge chiều Thứ Hai 2/9, và John H. Richardson (?) chiều Thứ Sáu, 6/9/1963, Nhu thanh minh rằng Nhu cực lực chống lại trung lập, vì trung lập hoàn toàn đi ngược với quan điểm và chính sách VNCH [He said he is adamantly opposed to neutralism, ... Neutralism, according to Nhu, is completely contrary to GVN’s outlook and policy]. (FRUS, 1961-1963, IV:126)

2. Giảm quân số Mỹ:

Việc đòi hỏi giảm quân số Mỹ được Nhu đề cập từ đầu năm 1963.

Ngày Thứ Sáu, 12/4/1963, khi tiếp chuyện một viên chức CIA ở Sài Gòn Nhu tuyên bố cần giảm từ 500 tới 3,000 hay 4,000 lính Mỹ. Nhu nói khi người Mỹ mới tới, người Việt rất kính nể họ vì họ làm việc chăm chỉ, có kỷ luật và không gấu ó lẫn nhau hay với người khác. Tuy nhiên kỷ luật đã bị sa sút, theo thời gian và nhân số. Diệm đã nhận được quá nhiều lời than phiền. Tướng Đính, chẳng hạn, than phiền rằng có quá nhiều người Mỹ.( FRUS, 1961-1963, III:222-225).

Hơn một tháng sau, ngày Chủ Nhật, 12/5/1963, trong bài phỏng vấn Nhu đăng trên báo Washington Post, ký giả Warren Unna thuật rằng Nhu muốn khoảng 12,000-13,000 quân Mỹ sẽ giảm xuống một nửa. Vì theo Nhu, đa số các cố vấn Mỹ tại địa phương chỉ thu thập tin tức tình báo, và sự hiện diện đông đảo của cố vấn Mỹ tạo cơ sở cho tuyên truyền của VC. Lời tuyên bố đòi giảm cố vấn Mỹ của Nhu khiến các viên chức Mỹ cực kỳ quan tâm. Ngày Thứ Hai, 13/5, lúc 18G46 [07G46 14/5 Việt Nam], Ngoại trưởng Dean Rusk chỉ thị cho Đại sứ Sài-gòn: Mỹ sẽ cắt giảm khoảng 1000 người vào cuối năm, nhưng tùy thuộc ở sự tiến triển tình hình an ninh. Nếu Diệm không muốn cắt giảm cố vấn Mỹ, nên ra tuyên cáo chính thức. Nếu Diệm đồng ý với Nhu, yêu cầu Diệm giải thích vị thế và ý định của Diệm. (FRUS, 1961-1963, III:294-296). Ngày hôm sau, 14/5/1963, Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện chất vấn gay gắt Heinz và Hilsman về lời tuyên bố của Nhu. Chính tờ Washington Post, trong phần xã luận, kêu gọi phải đặt lại vấn đề bang giao Mỹ-Việt.

Mãi tới ngày Thứ Hai, 20/5/1963, Nolting mới báo cáo là Nhu thanh minh rằng đã bị Unna trích dẫn sai lạc. (FRUS, 1961-1963, III:309) Ba ngày sau, 23/5/1963, Nhu cũng thanh minh rằng chỉ muốn phát động một cuộc cách mạng thực sự, để tiến dần đến tự túc. Đã bị hiểu lầm quá nhiều như bài Mỹ hay bài ngoại. (Theo Nolting, chủ trương của Nhu hoàn toàn phù hợp với đường lối của Mỹ). (FRUS, 1961-1963, III:317-321)

Tháng 5/1963, sau khi chào Diệm để về Pháp nghỉ, Lalouette báo cáo rằng theo Diệm, có lẽ các lãnh tụ Hà-nội đã thấy sự vô ích khi đánh chiếm miền Nam, nên tình hình sẽ tự động lắng dịu đi, dù không có thương thuyết Bắc-Nam, giống như năm 1960. Có lẽ vì vậy, theo Lalouette, Diệm và Nhu đã yêu cầu giảm bớt số cố vấn Mỹ. (15)

15. Báo cáo ngày 29/5/1963; CLV, SV, d. 91:137-143. Diệm cũng muốn vay thêm Pháp số tiền 100 triệu MK. Nhu nói sẽ qua Pháp nếu cần; CĐ ngày 31/5/1963; CLV, SV, d. 91:144-147.

Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ, người được chính phủ Mỹ coi như nhân vật có thể kế vị Diệm trong trường hợp bất trắc, cũng xa gần không muốn Mỹ gửi cố vấn dân sự xuống các tỉnh.

Mạnh miệng nhất là Lệ Xuân. Trong thời gian đi giải độc ở Âu châu và Mỹ, “Rồng Cái” từng ví von quân nhân Mỹ tại Việt Nam như những tên lính đánh thuê nho nhỏ [little soldiers of fortune]. Vợ chồng Nhu còn chê bai cả binh chủng Lực lượng Đặc biệt do Kennedy lập nên; và, nói thẳng rằng quân đội Mỹ không thích hợp với cuộc chiến tranh du kích.

Ước muốn của Nhu là Mỹ chỉ cung cấp quân viện, phi cơ, súng đạn, thiết giáp, thiết vận xa, v.. v... và giao mọi việc khác cho họ Ngô.

c. Chống Mỹ:

Suốt từ đầu năm 1950, sau khi lội núi vượt sông đi bộ 17 ngày qua Bắc Kinh xin viện trợ, được Lưu Thiếu Kỳ cho qua Mat-scơ-va gặp Joseph Stalin để giải thích lý do giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương ngày 11/11/1945, Hồ ngả hẳn về khối Cộng Sản do Liên sô Nga cầm đầu. Ngoài những chiến dịch suy tôn Stalin, Mao Trạch Đông, hay tái lập Đảng Cộng Sản dưới bảng hiệu Đảng Lao Động Việt Nam năm 1951, Hồ chỉ thị cho thuộc hạ đẩy mạnh phong trào tố cáo đế quốc Mỹ xâm lược.

Sau năm 1954, cơ quan tuyên truyền Hà Nội cũng ngày đêm ra rả gọi sự trợ giúp của Mỹ cho chế độ chống Cộng ở miền Nam là “đế quốc” hay “tân thực dân.”

Từ sau cuộc đảo chính của Nhảy Dù và TQLC ngày 11/11/1960, chế độ Diệm bắt đầu dùng đến thuật ngữ “thực dân Mỹ.” Ngày 17/11/1960, Ủy Ban Nhân Dân Chống Phiến Cọng của Trương Công Cừu, Ngô Trọng Hiếu và Nguyễn Văn Châu sử dụng những phương tiện của chính phủ rải truyền đơn tố cáo “thực dân Mỹ, Anh, Pháp” dính líu vào cuộc đảo chính. Đích thân Diệm tố cáo với Tướng Lionel McGarr, Tư lệnh MAAG, rằng có những phần tử Mỹ nói xấu chế độ. Nhu thì đi thẳng vào vấn đề hơn. Trong cuộc thảo luận với Đại sứ Pháp Lalouette, Nhu nghi Mỹ nhúng tay vào cuộc đảo chính. Một trong những chứng cớ là Đại sứ Durbrow chỉ đứng ra hòa giải, và còn cho Hoàng Cơ Thụy vào bao tải đự văn kiện ngoại giao đưa trốn ra khỏi nước. Nhóm sĩ quan Nhảy Dù thì tuyên bố ở Phnom Penh là được Mỹ yểm trợ. (16)

16. Xem Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu, I-C: 1955-1963, 2000:198-203.

Báo cáo của TNS Mike Mansfield (1903-2001), Chủ tịch Khối đa số Thượng viện Mỹ, ngày 18/12/1962 khiến vợ chồng Nhu lại xa gần đả kích “thực dân.” (FRUS, 1961-1963, II:779-787) Lệ Xuân đã mượn ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 1963, và rồi tổ chức Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới để chỉ trích Mỹ can thiệp vào nội tình Việt Nam. Khi được tin Henry Cabot Lodge sẽ thay Nolting làm Đại sứ ở Sài Gòn, Nhu gọi Lodge là “Toàn quyền.” Từ cuối tháng 8/1963, nữ phát ngôn viên bán chính thức của chế độ—tức Lệ Xuân—ngày càng lỗ mãng, bộc lộ bản chất chanh chua và tư cách đích thực của một người ít học vấn, nhưng lại tham vọng, do thời cơ bỗng dưng lọt vào trung tâm quyền lực của miền Nam. Tổng Giám mục Ngô Đình Thục (1897-1984) cũng hòa điệu vào vở bi hài kịch mà Cố vấn An Ninh Quốc Gia Mỹ McGeorge Bundy phải chua chát gọi là “cơn điên sảng của một gia đình cai trị chưa hề thấy từ sau [ngày sụp đổ của] Nga hoàng.” (FRUS, 1961-1963, IV:175)

[Cho tới nay vẫn chưa có tài liệu về những đầu mối bản xứ giúp ông Nhu ve vãn Việt Cộng. Có người cho rằng Mã Tuyên, một lãnh tụ Hoa kiều ở Chợ Lớn, là đầu mối quan trọng. Lại có tin Albert Phạm Ngọc Thuần [sau đổi thành Thảo], cựu Giám đốc Mật vụ của Ủy Ban Hành Chính Kháng chiến Nam Bộ (1947-1949), và lúc đó giữ chức Thanh tra ấp Chiến lược, với cấp Trung tá, là đầu mối khác. Ngoài ra, phải kể Vũ Ngọc Nhạ của cụm tình báo chiến lược A-22, và các ổ trí vận ở Sài Gòn dưới quyền Trần Bạch Đằng, kể cả em gái Bộ trưởng Trần Lê Quang, v.. v...]

B. NGUYÊN DO:

Có nhiều yếu tố dẫn đến việc Diệm-Nhu tự biến mình thành “phiến Cộng.”

1. Giải tỏa áp lực Mỹ:

Mục tiêu tối hậu của người Mỹ là duy trì một miền Nam chống Cộng, để ngăn chặn (containment) sức bành trướng của Trung Cộng và Nga Sô xuống vùng Đông Nam Á (NSAM 111). Trên căn bản, người Mỹ chỉ yểm trợ một miền Nam chống Cộng mà không phải cá nhân nào. Nhưng họ Ngô muốn đồng hóa miền Nam với gia đình mình. Kiểu “sau lưng Hiến Pháp còn có tôi.” Bởi thế, những lời cố vấn để cải thiện hành chính, kinh tế, chính trị và quân sự được diễn dịch thành “áp lực” miên viễn.

Trong khi đó, từ năm 1960, người Mỹ muốn “rút ngắn hơn giây cương” con ngựa kéo cỗ xe chống Cộng miền Nam. Ba vấn đề được nhấn mạnh là đảng Cần Lao, nhân sự, và mở rộng sinh hoạt chính trị. Người Mỹ từng nhiều lần yêu cầu ông Diệm giới hạn quyền lực của Đảng Cần Lao, vợ chồng cố vấn Nhu, Cẩn và Thục, cũng như mở rộng chính quyền cho những chính khách chống Cộng. Anh em nhà họ Ngô cương quyết không chịu nhượng bộ. Họ muốn giữ độc quyền “thiên mệnh Mỹ” và “phép lạ Mỹ.”

Cuộc tranh đấu của Phật giáo từ ngày 6/5/1963 khiến áp lực Mỹ ngày một gia tăng. Chính phủ Mỹ công khai áp lực Diệm phải đáp ứng những nguyện vọng chính đáng của Phật giáo, thành thực tôn trọng bản Tuyên cáo chung 16/6/1963, và từng đe dọa sẽ tách biệt khỏi chính sách Phật giáo của chế độ Diệm nếu có thêm một vụ tự thiêu. Diệm-Nhu quyết không chịu nhân nhượng, tìm đủ cách phản ứng: Từ bịa đặt ra việc Cộng Sản ném lựu đạn trước Đài phát thanh Huế, đàn áp, bắt giữ người biểu tình, tới vu cáo cuộc tranh đấu của Phật giáo do Cộng Sản chi phối, nhằm lật đổ chính quyền.

2. Lo ngại bị Mỹ bỏ rơi:

Từ năm 1960, họ Ngô không còn được chính phủ Mỹ chiều chuộng, săn sóc như xưa. Sau cuộc đảo chính hụt ngày 11/11/1960, Diệm-Nhu bắt đầu nghi ngờ sự yểm trợ mà Bảo Đại từng cay đắng gọi là “mù lòa” của chính phủ Mỹ, nhất là nhóm “Những người bạn Mỹ của Việt Nam” [American Friends of Vietnam] như cựu Tướng William Donovan, TNS Mansfield, Hồng y Francis Spellman, v.. v... (VNNB, I-C: 1955-1963, tr. 203)

Các viên chức Mỹ và dư luận thế giới bắt đầu đối diện một sự thực khó chối cãi là chế độ Diệm độc tài, gia đình trị, và giáo phiệt. Đại sứ Durbrow từng đề nghị thay ngựa một cách hợp pháp qua cuộc bầu cử Tổng thống vào tháng 4/1961. (VNNB, I-C: 1955-1963, tr. 203-206, 220) Một số viên chức Mỹ trẻ tung tin họ Ngô phải ra đi [The Ngos must go].

Trong một chuyến thăm Mỹ bí mật, Lệ Xuân, vợ Nhu, ngày 7/9/1960 đã phải nhờ Tướng Edward Lansdale và CIA bí mật can thiệp, nhưng Lansdale cũng chẳng làm được gì giúp vợ chồng Nhu.(17)

17. Lệ Xuân than phiền rằng các nhân viên và sĩ quan Mỹ tại Sài-gòn không có vẻ gì thân thiện với chính phủ VNCH. Khi VC gia tăng tấn công, Durbrow chẳng những không tích cực giúp đỡ mà chỉ lo can thiệp vào nội tình cai trị của Diệm. Thái độ của Mỹ về việc tranh chấp biên giới với Miên thật khó hiểu. VC đột nhập qua ngả biên giới trong khi Mỹ cố tình ve vãn Sihanouk, tảng lờ việc Sihanouk thân thiện với Trung Cộng. Lệ Xuân rất buồn về những tin đồn vô căn về vợ chồng Nhu-Lệ Xuân. Chỉ có người German là nói đúng sự thực. Tại sao cơ quan CIA không công khai thanh minh cho Lệ Xuân, nói Lệ Xuân là người thứ tư trong danh sách cần tiêu diệt của Cộng Sản (sau Diệm, Nhu và Cẩn). Tại sao những người Mỹ không hành động như Tướng Williams, Tư lệnh MAAG, con người chỉ biết làm bổn phận của mình? (FRUS, 1958-1960, I:568-569)

Báo chí Mỹ không ngừng đả kích chính phủ Diệm. Từ đầu năm 1957, báo Foreign Affairs đã cảnh giác dư luận Mỹ về tình trạng “cảnh sát trị ở miền Nam.” Nhiều người cho rằng Mỹ đang sa lầy, không thể chiến thắng với họ Ngô. Ngay đến Đại sứ Lalouette từ năm 1961 cũng phải dò hỏi Đại sứ Durbrow về việc liệu chính phủ Mỹ có thay đổi chính sách với miền Nam, hoặc gia đình họ Ngô hay chăng.

Trong khi đó một nhóm ký giả trẻ như Neil Sheehan, Malcom Browne, David Halberstam, v.. v... được Trung tá Paul Vann, cùng viên chức trong Dinh Gia Long (Trần Kim Tuyến, Nguyễn Đình Thuần), và cán bộ tình báo chiến lược Bắc Việt (như Vũ Ngọc Nhạ,  Pham Xuân Ấn cung cấp tin tức mật—do những lý do và mục đích khác nhau—tìm cách trình bày chiến cuộc ở miền Nam và gia đình họ Ngô dưới những góc cạnh bi quan nhất. Sợi giây xuyên suốt qua những bài tường thuật của họ là trận chiến đang thua và Mỹ không thể thắng trận với anh em họ Ngô. Theo họ, Nam Việt Nam đang trở thành một thứ “bãi lầy” hay “cát lún,” nghĩa địa của uy tín và danh dự của siêu cường Mỹ.(“Chiến thắng” Ấp Bắc vào đầu năm 1963 chỉ là một thí dụ)  Qua những cuộc phỏng vấn Ngô Đình Nhu và nhất là Lệ Xuân, họ biến vợ chồng Nhu-Lệ Xuân thành một thứ quái vật đen của chế độ. Vì không thích bị chỉ trích, họ Ngô tìm đủ cách phản ứng. Từ áp lực Tòa Đại sứ Mỹ can thiệp, tới sử dụng tờ nhật báo Mỹ ngữ ở Sài Gòn, Việt Nam Thời Báo [Times of Vietnam], hay vài ký giả nổi danh như Margueritte Higgins, v.. v... để trả đũa. Rồi dần dần đến những biện pháp kiểm duyệt, trục xuất, và ngay cả bạo động.(18)

18. Xem David Halberstam, The Making of A Quagmire (New York: Random House, 1965; Neil Sheehan, The Bright Shining Lie (New York: Vintage Books, 1988), tr. 269-371.

Cuối năm 1961, họ Ngô còn mở một chiến dịch chống Mỹ trên báo chí Việt Nam để cảnh giác chính phủ Kennedy về thứ gọi là “tự do quá trớn” của báo chí Mỹ.

Từ năm 1962, nếu không phải sớm hơn, người Mỹ bắt đầu nghiên cứu một giải-pháp-khác-Diệm.(VNNB, I-C: 1955-1963, tr. 256-258) Ngay những người thân cận cũ của ông Diệm trong nhóm Bạn Mỹ của Việt Nam như Giáo sư Wesley Fishel, Joseph Buttinger, Thượng nghị sĩ Mansfield không dấu sự hoài nghi khả năng của họ Ngô. Cuối năm 1962, Mansfield còn yêu cầu Kennedy tái duyệt xét chính sách của Mỹ, tức nghiên cứu việc rút khỏi miền Nam trước khi quá trễ. (19)

19. Báo cáo ngày 18/12/1962, FRUS, 1961-1963, II:Tài liệu 330, III:779-784; VNNB, I-C: 1955-1963, tr. 239-40, 268-269.

Việc thay Đại sứ Nolting bằng Lodge càng tăng thêm nỗi lo sợ bị bỏ rơi của họ Ngô. Nhu dùng tiếng “Toàn quyền” để gọi Lodge, trong khi Diệm hờn oán nói dẫu có gửi 10 Lodge tới Sài Gòn, vẫn phải huấn luyện pháo binh bắn vào Dinh Gia Long.(20)

20. Ngày 20/6/1963, BNG Mỹ chỉ thị cho Trueheart xin gặp Diệm để yêu cầu chính phủ Diệm chấp nhận cho Lodge thay Nolting làm Đại sứ. (CĐ số 1250 gửi Sài Gòn, DOS, Central Files, PER-Lodge, Henry Cabot).   Ngày 22/6, Trueheart báo cáo là Diệm đồng ý tiếp Trueheart vào chiều ngày 22/6.(CĐ số 1230 từ Sài Gòn; Ibid) Lúc 17 giờ ngày 22/6, Trueheart gặp Diệm khoảng 1 tiếng đồng hồ. Diệm cho Truheart nói hết ý mình, về Thục, Lệ Xuân, Cổ Sơn Môn, vấn đề kiểm duyệt đoạn phim thời sự nói về cuộc thương thuyết với Phật Giáo, việc bắt giữ những người biểu tình. Sáng ngày 25/6, Thuần cho Truheart biết Diệm rất bất mãn việc thay đại sứ Mỹ ở Sài Gòn. Diệm cho rằng Mỹ đang thay đổi chính sách và đang có nỗ lực bắt Diệm phải làm theo Mỹ hay sẽ bị loại bỏ [Diem thought a new American policy was involved and an effort to force him to do our bidding or to unseat him]. Diệm đã tuyên bố, và Thuần cố gắng dẫn đúng lời Diệm: “they can send ten Lodges, but I will not permit myself or my country to be humiliated, not if they train their artillery on this Palace”.(III:414) Theo Thuần, Diệm sẽ trở nên cứng đầu hơn. Truheart nói không biết Lodge đã nhận được những chỉ thị gì, nhưng cách tốt nhất để tránh đương đầu với Mỹ là chính phủ Diệm nên bắt đầu thay đổi cách làm việc.(Ibid)

Sau khi gặp Maneli ngày 25/8/1963, Nhu trấn an các Tướng rằng đừng sợ Mỹ cắt viện trợ, vì nếu thế, sẽ có những nguồn tài trợ khác. Nhu cũng có thể liên lạc với Hà-nội, yêu cầu giảm bớt cường độ chiến tranh, trong khi thương thuyết một thỏa ước vĩnh viễn. (FRUS, 1961-1963, IV:89-90)

Có lúc Nhu còn xa gần nhắc đến Trung Cộng.

Phía sau hậu trường chính trị, Nhu tìm cách giảng hòa với Pháp, hy vọng dùng Pháp để giảm bớt áp lực Mỹ. (Kế hoạch này đã khởi xướng từ năm 1961)

a. Đụng chạm cá nhân với Mỹ:

Sự căng thẳng liên hệ với Mỹ trước hết là do quyền lợi cá nhân của họ Ngô. Anh em họ Ngô không thể hiểu nổi tại sao người Mỹ yểm trợ nhiệt tình miền Nam mà lại không hoàn toàn ủng hộ mọi kế sách do họ đặt ra, và nhất là không thấy được một chân lý: Họ Ngô đồng nhất thể với chế độ chống CộngViệt Nam Cộng Hòa.

(1) Mặc cảm “vệ tinh”:

Việt Nam Cộng Hòa là một thực thể chính trị do Mỹ lập nên và cần viện trợ Mỹ để tồn tại, vào khoảng 200-400 triệu MK mỗi năm và ngày càng gia tăng. Họ Ngô hiểu rõ điều ấy hơn bất cứ một ai tại Nam Việt Nam. Nói cách khác, bản chất liên hệ giưã Nam Việt Nam và Liên bang Mỹ là liên hệ vệ tinh chiến lược, hay patron-client [ông chủ và đầy tớ]. Nhưng họ Ngô lại muốn được nhìn ngắm và hành xử như lãnh tụ một quốc gia hoàn toàn độc lập, có khả năng tự túc, tự cường, một “chí sĩ,” “lãnh tụ anh minh” của toàn quốc dân Việt Nam. Trên nóc một doanh trại trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức, chẳng hạn, có một khẩu hiệu khổng lồ: “Một lãnh tụ: Ngô Đình Diệm; Một lý tưởng: chống Cộng.” Trong các rạp chiếu bóng, mỗi đầu xuất phim, ai nấy phải đứng lên nghiêm chỉnh chào quốc kỳ và suy tôn Ngô Tổng thống. Những lời “có vấn” của Mỹ, bởi thế, không được đón nhận một cách cởi mở, phục thiện, mà thường tiềm ẩn mặc cảm xin xỏ, nhờ vả. Hệ thống tuyên truyền Cộng Sản—ngày đêm ra rả bêu riếu chế độ Diệm là “ngụy quyền,” “tay sai đế quốc Mỹ”—khoét sâu hơn sự ngăn cách giữa họ Ngô với chính phủ Mỹ.

Ngày Thứ Sáu, 12/4/1963, khi tiếp chuyện một viên chức CIA ở Sài Gòn [John H. Richardson?] Nhu tuyên bố Diệm đã nhận được quá nhiều lời than phiền về Cố vấn Mỹ. Gần trọn đời Diệm đã chống lại sự đô hộ của Pháp [sic], thật tế nhị [sensitive] nếu sự trợ giúp của Mỹ hàm chứa bóng tối của tình trạng bị bảo hộ hay “condomunium.” Không thể định chế hóa liên hệ Mỹ Việt. Ngoài vấn đề định chế [institutional] và luật pháp [juridical], Nhu sẵn sàng hợp tác chặt chẽ với Mỹ. (FRUS, 1961-1963, III:222-225)

Vào trung tuần tháng 9/1963, cơ quan CIA trình lên Kennedy “Vấn đề Nhu” [Problem of Nhu] như sau: Nhu có tinh thần chống Mỹ, cáo buộc Mỹ là thực dân, phong kiến, đang muốn biến Nam Việt Nam thành chư hầu. Nhu tung tin một số viên chức Mỹ nằm trên danh sách sẽ bị thủ tiêu. Nhu nói rằng Mỹ phải giảm áp lực vì đang đe dọa nền độc lập của Nam VN. Nhu liên tục nói dối với Lodge và chánh sở CIA Sài-gòn về vai trò của mình trong cuộc tấn công chùa chiền. Nhu thường nói nếu Mỹ cắt viện trợ sẽ có nguồn viện trợ khác. Nếu không có viện trợ, Nhu sẽ tìm cách thương thuyết với Hà-Nội. Tin Nhu bắt đầu thương thuyết với Hà-Nội lan truyền rộng rãi, khiến tinh thần binh sĩ hoang mang. Nhu tin rằng chỉ có Nhu mới cứu được Việt Nam. (FRUS, 1961-1963, IV:212-215)

(2) Khác biệt trong ước muốn viện trợ:

Trên nguyên tắc, họ Ngô không hài lòng với cách viện trợ của Mỹ. Thứ nhất, viện trợ Mỹ không tháo khoán cùng một lúc mà chỉ tháo khoán theo thời kỳ, cho từng chương trình viện trợ.

Thứ hai, viện trợ Mỹ chỉ được dùng để mua hàng Mỹ, chuyên chở bằng các phương tiện của Mỹ.

Thứ ba, miền Nam chỉ nhận được viện trợ Mỹ và các nước đồng minh thân thiết như Bri-tên, Australia và New Zealand. Pháp viện trợ rất giới hạn về văn hóa và kỹ thuật.

Họ Ngô muốn được viện trợ theo kiểu Lend-Lease, nhưng Mỹ không chấp thuận. (FRUS, 1961-1963, III:501-502) Chiều ngày 2/9 Nhu còn lập lại rằng muốn được vay dài hạn, với lãi xuất thấp, hơn là viện trợ. Như thế người Mỹ tránh được trách nhiệm về những gì người Việt làm.

(3) Khác biệt trong triết lý hành động:

Họ Ngô tin rằng chỉ có họ mới biết chống Cộng một cách hữu hiệu. Theo họ, người Mỹ không biết gì nhiều về Việt Cộng. (Châu, 1988:164)

Họ Ngô không thể chấp nhận những thứ quái lạ như “tự do báo chí” (tự do quá trớn, tự do thiếu trách nhiệm). Cuối năm 1961, họ Ngô cho báo chí Mỹ tấn công chính phủ Mỹ để dạy Mỹ một bài học về cách kiểm soát báo chí.

Trong buổi nói chuyện với Robert J. Manning ngày 17/7/1963, Nhu nhận định rằng một số ký giả trẻ Mỹ có tham vọng lật đổ chính phủ hiện hữu để thành lập một chế độ mới (FRUS, 1961-1963, III:500-501), và Nhu tin rằng “chính phủ Việt Nam bị báo chí Mỹ áp bức” (21)

21. It was his firm convicton that the Government of Vietnam was being oppressed by the US press rather than the American correspondents being oppressed by the Vietnamese government. Ibid., III:504.

(4) Kỳ thị chủng tộc:

Ẩn tàng dưới sự chống Mỹ âm thầm, thẳm sâu trên là mặc cảm bài ngoại [xenophobia]. Người Việt thường có thói quen coi người ngoại quốc như “mọi rợ” hay “ngu xuẩn,” “khờ khạo.” Tiếng thông dụng nhất trong dân gian về một người Mỹ là “mọi da đỏ.” Nhiều sĩ quan cho rằng cố vấn Mỹ chẳng có gì để “cố vấn” được họ, vì họ là những người từng dày dặn kinh nghiệm trận mạc.

Ngô Đình Nhu nhiều hơn một lần chê bai là người Mỹ “muốn giúp” mà “chẳng hiểu mô tê gì cả.”(22)

22. Đoàn Thêm, Những ngày chưa quên, 1954-1963 (Los Alamitos, CA: Xuân Thu, 1989), tr. 188; Châu, 1988:109.

(5) Mặc cảm tự tôn “văn hóa”:

Anh em họ Ngô, đặc biệt là Nhu, còn mang thêm mặc cảm tự tôn văn hóa.

Ngô Đình Diệm, vì chỉ đậu Trung học đệ nhất cấp [Diplôme]—khởi đầu hoạn lộ bằng chức cửu phẩm tập ấm tại Tân thư viện Huế năm 1917, và trong vòng 13 năm thăng tiến lên chức Tuần vũ Phan thiết—nặng mang tinh thần Ki-tô Vatican trung cổ, phảng phất thứ luân lý Nho giáo phổ thông. Bởi thế, dù ngưỡng mộ xã hội Mỹ và nền văn minh Mỹ, Diệm không chấp nhận được nền văn hóa pháp trị và bầu không khí “dân chủ quá trớn” của nước Mỹ.

Từng tốt nghiệp trường cổ ngữ Chartes (chương trình quản thủ thư viện và văn khố) tại Paris, Nhu quen nói và viết tiếng Pháp hơn tiếng Việt. Ngay vợ và các con Nhu đều theo học trường Pháp. Nhu cho rằng nền văn hóa Ki-tô/thuộc địa mà thế hệ mình thụ hưởng cao thâm hơn nền “văn hóa da đỏ.” Thứ mặc cảm này phần nào vay mượn từ người Pháp. Nhu, theo một nguồn tin, không chịu học tiếng Mỹ, và chỉ chịu đối thoại với các viên chức Mỹ bằng tiếng Pháp hay qua các thông ngôn.(23)

23. Thêm, Những ngày chưa quên, 1989:188. Nhu cũng từng nhiều hơn một lần thố lộ: “Một thằng [Pháp] rất hiểu mình thì chỉ tính xỏ mình, một thằng [Mỹ] muốn giúp mình thì chẳng hiểu mô tê gì cả.” Châu, 1988:109.

Mặc cảm tự tôn văn hóa trên, thực ra do lòng tự ti mà thành. Được huấn luyện ở Pháp trong thập niên 1930, trở lại sống trong xã hội bảo hộ và rồi một xã hội nửa thuộc địa đang bị chiến tranh tàn phá trong hai thập niên 1940-1950. Nhu chưa có dịp nghiệm chứng nền văn hóa kỹ-nghệ-hóa của một siêu cường, với những phát kiến đưa nhân loại vào một cuộc cách mạng khoa học chưa hề có tiền lệ—một nền văn hóa vật bản thực dụng, thắng vượt khỏi thứ nền văn hóa vật bản/Ki-tô cứng đọng của Âu Châu. Nhu cũng chưa từng cảm nhận được sự chuyển vận của một xã hội thực sự độc lập, pháp trị hiến định. Tóm lại, Nhu chẳng hiểu gì về người Mỹ, văn hóa Mỹ, cấu trúc xã hội Mỹ. Mặc cảm tự tôn của Diệm-Nhu, ngắn và gọn, là thứ tự tôn văn hóa kiểu Trung cổ.(24)

24. Tuy nhiên, Nhu học rất thuộc lòng bài học Machievelli: Không ngại ngần khẳng định lòng trung thành với Mỹ, dù chỉ đầu môi chót lưỡi, để đạt mục tiêu. Ngày 2/9/1963, chẳng hạn, Nhu từng tâm sự với Đại sứ Lodge là từng bảo sứ giả của Hà Nội rằng Nhu luôn luôn trung thành với Mỹ nên không thèm chú ý đến những lời tuyên bố của Hồ Chí Minh hay de Gaulle. (FRUS, 1961-1963,IV:85) Bốn ngày sau, 6/9, Nhu còn khẳng định không thể làm một việc vô đạo đức như móc nối với Hà Nội sau lưng người Mỹ. (Ibid., IV:125)

Vợ Nhu, một phnữ chưa kịp tốt nghiệp trung học, cũng lây cái bệnh “tự tôn văn hóa” kiểu trung cổ này. Chung qui cũng do họ bị vây bủa tứ hướng bằng những vách đá “ngu dốt sặc sỡ và điêu ngoa hào nhoáng” lạnh lẽo của những giai tầng tự nhận là “sang cả” [elite] của các xã hội thuộc địa.

Là một gia đình thăng tiến vượt mức nhờ theo đạo Ki-tô, lại có một người đi tu lên tới chức Giám mục từ năm 1938, họ Ngô cho rằng tôn giáo Ki-tô của họ là chân lý, và tâm niệm rằng tất cả những người theo đạo khác đều là ác quỉ (Satan). Thái độ kiêu ngạo, cửa quyền của Diệm-Nhu đối xử với các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo trong thập niên 1950 và rồi Phật giáo từ năm 1956 tới 1963 là những bằng chứng cụ thể. Cuộc đấu tranh của Phật giáo trong năm 1963, bởi thế, được nhìn ngắm và kết tội như âm mưu chống lại chính quyền, do Cộng Sản và “nhưng tên phiêu lưu quốc tế” giật giây. Anh em họ Ngô tìm đủ cách trình bày cuộc tranh đấu Phật Giáo dưới những góc cạnh xấu xí nhất—như các nhà sư đã biến nhà chùa thành nhà chứa, các sư ni không tự thiêu mà đã bị mưu sát, và hành động tự thiêu chẳng là gì khác hơn “nướng thịt sư,” v.. v... —những lời tuyên bố mà bất cứ ai có lương tâm và giáo dục gia đình cơ bản cũng khó thể phát biểu, nói chi những người đang thực sự cầm quyền một chế độ.(25)

25. Có tất cả 7 cuộc tự thiêu vì đạo pháp của tăng ni. Thượng tọa Quảng Đức (11/6/1963, Sài Gòn), Đại đức Nguyên Hương (4/8/1963, Phan Thiết), Đại đức Thanh Tuệ (13/8/1963, Huế), Ni cô Diệu Quang (15/8/1963, Ninh Hòa), Thượng tọa Tiêu Diêu (16/8/1963, Huế), Đại đức Quảng Hương (5/10/1963, Sài Gòn), và Đại đức Thiện Mỹ (27/10/1963, Sài Gòn). Chính Đạo, Tôn Giáo & Chính Trị: Phật Giáo, 1963-1967 (Houston: Văn Hóa, 1994), tr. 334-335. Ngoài ra, còn một Phật tử, Thương phế binh Hồng Thể (29/9/1963, Vũng Tàu). Xem thêm Thích Thiện Hoa, 50 Năm chấn hưng Phật giáo Việt Nam, tr. 144-1962.

b. Chiều hướng hòa giải giữa hai siêu cường Mỹ-Nga:

Ngoài ra, cũng cần đề cập đến không khí hòa hoãn đặc biệt giữa Mỹ và Nga vào cuối năm 1962, đầu năm 1963. Tháng 12/1962, Khrushchev đề nghị hai siêu cường nên hạn chế cuộc chạy đua vũ trang nguyên tử. Ngày 10/6/1963, Kennedy đáp ứng bằng bài diễn văn tại Đại học American ở Kentucky, kêu gọi tiến về một nền hòa bình thế giới. Khruschev hết lời ca ngợi, và ngay sau đó, đại diện Mỹ, Bri-tên cùng Nga bắt đầu thương thuyết về vấn đề hạn chế thí nghiệm bom nguyên tử. Ngày 5/8/1963, Hiệp ước cấm thí nghiệm nguyên tử trên không gian, trong khí quyển và dưới đáy biển [The Treaty Banning Nuclear Weapons Tests in the Atmosphere, in Outer Sapce and Under the Water] tại Mat-scơ-va (14 UST 1313) càng khiến Diệm-Nhu lo sợ hơn về sự thay đổi chính sách chống Cộng của Mỹ tại Nam Việt Nam.(25b)

25b. Trong buổi nói chuyện với 15 Tướng tại Bộ Tổng Tham Mưu ngày 30/8/1963, Nhu tuyên bố những phần tử bí mật của Mỹ đang gia tăng nỗ lực lật đổ chính phủ Diệm từ sau ngày ký hiệp ước cấm thử bom nguyên tử. CIA Information report ngày 2/9/1963; FRUS, 1961-1963, IV:91.

 Đây có lẽ là lỗi lầm chiến lược lớn nhất của anh em Diệm. Sở dĩ Diệm được đưa về làm Thủ tướng vào tháng 6/1954, hay viện trợ và ảnh hưởng chính trị Mỹ giúp khai sinh và dung dưỡng chế độ Việt Nam Cộng Hòa suốt hơn 8 năm sau Hiệp định Geneva—nhờ đó cả gia đình họ Ngô được chia chác miếng bánh thánh danh lợi, quyền uy—không nhắm mục đích cho Nhu đi một đường lối khác hơn chống Cộng, nói chi bắt tay với Cộng Sản Hà Nội. Dù Đại sứ Nolting và Trưởng lưới Tình báo Trung ương (CIA) tại Sài Gòn, Richardson, ngoảnh mặt làm ngơ—với hy vọng Nhu không bán đứng miền Nam cho Hồ—nhiều viên chức ở Oat-shinh-tân không dấu bất bình. Họ lo ngại rằng một ngày nào đó vợ chồng Nhu, mà ảnh hưởng đang khiến Diệm lu mờ dần, sẽ đòi hỏi Mỹ triệt thoái khỏi miền Nam, thành lập một chính phủ liên hiệp với Hà Nội hay MT/GPMN. Hai viên chức ngoại giao có tiếng nói mạnh nhất là W. Averell Harriman và George W. Ball của Bộ Ngoại Giao, từng nổi danh về lập trường chống Cộng. Họ nỗ lực vận động bắt vợ chồng Nhu cùng Tổng Giám mục Thục rời nước.

c. “Con đường thứ ba”:

Chính sách hòa hoãn Mỹ-Nga cũng khiến họ Ngô muốn chứng tỏ những dấu hiệu hòa hoãn với Hà Nội, hay ít nhất MT/GPMN, trong tinh thần “anh em một nhà.” Phong trào chính trị đang lên trong thời điểm này là phi-liên-kết, do Pháp và India đi hàng đầu. Ngoài ra, Trung Cộng vẫn theo đuổi cái goi là chính sách “sống chung hòa bình.”

Các nước Pháp, Poland, India và ngay cả Vatican đều muốn cổ võ nỗ lực tìm một giải pháp chính trị. Vatican đang tìm cách hòa hoãn với Mat-scơ-va để chăm lo linh hồn cho khoảng 100 triệu giáo dân Đông Âu.

India của Thủ tướng Nehru từng môi giới cho việc thảo luận giữa Mỹ và Hà Nội. Nhân dịp Phạm Ngọc Thạch qua New Dehli, chẳng hạn, Bộ Ngoại Giao Mỹ đã chuyển cho Thạch 5 điểm căn bản trong chính sách của Mỹ. Nên chẳng có gì ngạc nhiên khi Goburdhun, Đại sứ India trong UBQT/KSĐC, thúc dục Nhu gặp Maneli. Và, nếu tin được những người một thời thân thiết với họ Ngô, Đại sứ India còn môi giới cho Nhu gặp đại diện CSBV ngay tại trụ sở UBQT/KSĐC ở Sài Gòn.

Nếu tin được Trần Văn Dĩnh, chính phủ India cũng có thể có một bàn tay trong kế hoạch gửi Dĩnh qua New Dehli để móc nối đại diện Hà Nội vào khoảng trung tuần tháng 11/1963.

3. Niềm tin vào “Ấp Chiến Lược”:

Chính thức phát động ở Nam Việt Nam từ năm 1962, kế hoạch Ấp Chiến Lược chỉ là một mô hình cải tổ hiện đại trong nỗ lực trị an từ cổ xưa. Hình thái sơ đẳng nhất là các đơn vị “đồn điền” mà Nguyễn Tri Phương đã thực hiện tại miền Nam trong thập niên 1850. Dòng họ Ngô đã có kinh nghiệm gia truyền này từ Ngô Đình Khả, cha họ, một thời là phụ tá của Khâm mạng tiết chế Nguyễn Thân khi đánh dẹp phong trào Cần Vương/Kháng Pháp trong hai năm 1895-1896 ở Hà Tĩnh. Đại cương, kế hoạch này nhằm loại bỏ những cán bộ đối nghịch nằm vùng khỏi dân chúng, ổn định tình hình an ninh/trật tự tại các xóm thôn, song song với việc truy lùng và tiêu diệt các đơn vị vũ trang đối nghịch. Ý niệm này được cải thiện dần theo kinh nghiệm đánh dẹp Cộng Sản trong thập niên 1920 và đầu thập niên 1930 của Pháp mà Diệm đã hăng say tham dự, thăng quan tiến chức vượt mức thông thường, nên Cộng Sản phải gửi sát thủ người Hoa ra tận Phan Rang thanh toán, nhưng chỉ bị thương. Đầu thập niên 1940, Pháp sử dụng chiến thuật “vét láng” tại vùng thượng du Bắc Việt. Đầu thập niên 1950, Thủ hiến Nguyễn Hữu Trí thực hiện các khu trù mật Đồng Quan, và các làng chiến đấu ở đồng bằng Bắc Việt.

Từ năm 1961, Ngô Đình Diệm đã chọn kế hoạch của Robert Thompson, một chuyên viên Bri-tên từng thành công trong việc diệt du kích Cộng Sản ở Malaysia, lúc đó đang cầm đầu Đoàn cố vấn Bri-tên. Nhưng kế hoạch Ấp Chiến Lược của Diệm-Nhu được tổ chức qui mô hơn, trên bình diện quốc sách.

Những thắng lợi nho nhỏ vào đầu năm 1962 khiến họ Ngô lạc quan thái quá. Thực ra, những chiến thắng này phần lớn do việc tăng cường hỏa lực Mỹ (thiết vận xa, trực thăng, khu trục, bom đạn, thuốc khai quang), và chiến thuật “diều hâu” (đổ quân bằng trực thăng). Họ Ngô cũng không thể dự đoán được phản ứng của CSBV nhằm phá hoại quốc sách này: Gài nhân viên tình báo chiến lược tìm hiểu và phá hoại, vận động dân chúng phá Ấp Chiến Lược, và nhất là sử dụng cơ quan tuyên truyền quốc tế, qua Nga và Trung Cộng, để lên án Ấp Chiến lược là “trại tập trung,” v.. v...

Bởi thế, họ Ngô tin tưởng rằng Ấp Chiến Lược, một khi hoàn tất và củng cố, sẽ khiến Bắc Việt tự động ngưng lại tham vọng chiếm miền Nam bằng vũ lực.