curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

Diễn đàn mở rộng của nhóm chủ trương Giao Điểm

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

..........

      03_gd09.JPG (8261 bytes)

    Tôn giáo: vấn đề của thời đại:

 blue_dot.gif (122 bytes) Darwin và thuyết Tiến hóa Trần Chung Ngọc

 blue_dot.gif (122 bytes) Thư của Charlie Nguyễn trả lời nhóm Thánh Gia

 blue_dot.gif (122 bytes) đạo Hồi: đức tin của chiến tranh và bạo lực Charlie Nguyễn

 blue_dot.gif (122 bytes) Hội thừa sai và chính sách đế quốc tại VN... P. JN. Tuck Uỷ ban đoàn kết Công giáo

 blue_dot.gif (122 bytes) Hồ sơ tội ác của Hội thừa sai Pari và Giáo hội CGVN  Charlie Nguyễn 

 blue_dot.gif (122 bytes) Nguyễn Văn Trung: kẻ ám sát tôn giáo   Trần nghi Hoàng

 blue_dot.gif (122 bytes) Những điều răn đã mất giá trị  Nguyễn Ái Thư dịch new_03.gif (2954 bytes)

  blue_dot.gif (122 bytes) Hiện tượng ‘Nguyễn huệ Nhật” Trần Chung Ngọc new_03.gif (2954 bytes)

  Vấn đề lịch sử - hư cấu tiểu thuyết và sự ngộ nhận của tri thức:

 blue_dot.gif (122 bytes) Giáo sĩ    Trần Vũ

 blue_dot.gif (122 bytes) Phản ứng qua bài “Giáo sĩ’ và trả lời của tác giả

 blue_dot.gif (122 bytes) Lịch sử trong tiểu thuyết - một tuỳ tiện ý thức   Trần Vũ 

  40 năm nhìn lại - PG 63:

 blue_dot.gif (122 bytes) Cuộc chơi hơn nủa đời người  Hoàng Nguyên Nhuận

     đặc biệt của Chính Đạo:

 blue_dot.gif (122 bytes) “Phiến Cộng” trong dinh Gia Long (phần I)

 blue_dot.gif (122 bytes) Những thế lực chi phối bên ngoài (phần II)

 blue_dot.gif (122 bytes) Sự điên rồ của tập thể gia đình cai trị và Kết từ 

  Câu chuyện thời sự trong tháng 9:

 blue_dot.gif (122 bytes) Tay vấy máu?  Nicolas Kristof

 blue_dot.gif (122 bytes) Giải phóng bắng hình ảnh Nguyễn Văn

 blue_dot.gif (122 bytes) Bóng ma của Uday and Qusay        Robert Fisk 

 blue_dot.gif (122 bytes) Giới thiệu sách mới: “VN: Spirit of the Earth”

 blue_dot.gif (122 bytes) Tín vắn đó đây

 blue_dot.gif (122 bytes) Chính quyền Bush và Iraq   TCN

     Bạn đọc góp ý:

 blue_dot.gif (122 bytes) Thư góp ý pháp lệnh tôn giáo  Học Hội Giêsu giáo

08_gdmau.jpg (3664 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
whiteball.gif (923 bytes)    Trang nghiên cứu đối thoại quý 3 tháng 9-2003    whiteball.gif (923 bytes)

  

II. NHỮNG THẾ LỰC CHI PHỐI BÊN NGOÀI:

A. TRUNG CỘNG:

Trung Cộng cũng ra sức tiếp tay Hà Nội trong việc đánh chiếm miền Nam, ít nữa từ sau ngày Phạm Văn Đồng nhìn nhận lãnh hải mới do Trung Cộng vẽ ra năm 1958. Ngoài ra, mục tiêu chiến lược của Bắc Kinh là giữ quân đội Mỹ và ảnh hưởng Mỹ ở ngoài miền Nam Việt Nam. Nói cách khác, Trung Cộng muốn Mỹ triệt thoái khỏi miền Nam, và cái giá phải trả, nếu cần, là sinh mạng cuối cùng của trai tráng Việt.

Cho tới khi tài liệu văn khố giải mật, chúng ta mới biết rõ được bàn tay của Trung Cộng và cán bộ tình báo nằm vùng của Trung Cộng trong cảnh mà Cố vấn Ngoại giao McGeorge Bundy gọi là “cơn điên hoảng của một gia đình cai trị chưa hề thấy từ thời Nga Hoàng.”

Một chi tiết đáng ghi nhận là chiều ngày 2/9/1963, Nhu nói với Lodge rằng Trung Cộng từng đề nghị bán 2 phi cơ U-40. Thực chăng có đề nghị trên? Chi tiết này có liên quan gì đến việc Y sĩ Trần Văn Đỗ và Ngô Đình Luyện thường nhắc đến lời mời thiết lập một Tòa Lãnh sự Nam Việt Nam tại Bắc Kinh của Chu Ân Lai sau khi ký Hiệp định Geneva 20-21/7/1954?

B. VATICAN:

Giáo hoàng John XXIII (1958-1963), người từng trao đổi quà tặng với Nikita Khrushchev nhân dịp Giáng Sinh 1962, cũng ít nhiều tiếp tay anh em ông Diệm-Nhu trong việc “ve vãn” Cộng Sản này (với niềm tin rằng Hồ Chí Minh chủ hòa, và Trung Cộng chủ chiến).

Từ năm 1962, John XXIII bắt đầu rời vị thế “thánh chiến chống Cộng,” tìm cách hòa hoãn với Liên Sô Nga và Đông Âu. Hơn 100 triệu tín đồ Đông Âu hẳn có giá trị chiến lược cao hơn năm, sáu triệu tín hữu của “cô con gái đầu lòng” tại Đông Nam Á.

Vì thế, họ có thể khuyến khích Nhu mở đường giây đối thoại với Hà Nội. Sau cái chết của anh em Diệm, Paul VI, người kế vị John XXIII, còn hăng say hơn trong việc mưu tìm hòa bình cho Việt Nam. [Năm 1968, Vatican tự hào tuyên bố là đã góp công lớn cho Hà Nội ngồi vào bàn hội nghị với Mỹ tại Paris].

C. PHÁP:

Liên hệ giữa Pháp và Nam Việt Nam từ năm 1954 tới 1963 khi vui, lúc buồn bất chợt. Sau hơn 20 năm sống trong sự nghi ngờ của các viên chức Bảo hộ Pháp—đi tu thì không thành, người vợ chưa cưới bỏ vào dòng tu kín Carmel—Diệm và họ Ngô bắt đầu đi tìm những bát cơm mới, khác với bát cơm bảo hộ Pháp mà Ngô Đình Khả, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Thục và cá nhân Diệm từng kiêu hãnh hưởng thụ. (42)

42. Xem báo cáo của Arnoux ngày 18/8/1944; CAOM [Paris], Papiers Decoux [PA 14], carton 2. Trích in trong Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn, tập III:856.

 Sau gần bốn năm trời tự đặt mình trong quĩ đạo Hiến binh [Kempeitai] Nhật ở Huế và Sài Gòn, từ cuối năm 1946 Diệm hướng về Oat-shinh-tân. Bởi thế một số đạo hữu của Diệm, như Giám mục Lê Hữu Từ và Luật sư Lê Quang Luật, từng gọi Diệm là “trùm chăn,” không chịu tích cực yểm trợ chế độ Bảo Đại do Pháp tạo ra. (43)

43. Chính Đạo, VNNB, I-B: 1947-1954, tr. 172-173.

Khác với dư luận người Việt đồn đại, Diệm chẳng có bao công lao trong việc giành độc lập cho Việt Nam từ tay người Pháp. Tháng 7/1933, Diệm đã từ chức Thượng thư Bộ Lại chỉ vì cuộc tranh giành ảnh hưởng giữa nhóm hợp tác cựu trào (tiêu biểu bằng Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài thuộc khối Ki-tô giáo) và nhóm hợp tác tân trào (tiêu biểu bằng Phạm Quỳnh, Nguyễn Thái Bạch, Nguyễn Bá Trác) chủ trương hợp tác thay vì đồng hóa (tức Ki-tô hóa, theo kế hoạch Puginier). Thành tích “chống Pháp” của Diệm chỉ khởi đầu từ ngày ngả theo Nhật vào khoảng năm 1942-1945, và rồi mưu cầu viện trợ Mỹ từ năm 1946, qua trung gian hệ thống Giáo hội Vatican.

Trên thực tế, từ năm 1953, Pháp đã đồng ý trả lại tự do hoàn toàn cho Việt Nam. Tuy nhiên, do tình thế quân sự trong hai năm 1954-1955, Mỹ và Pháp—với sự  đồng ý của Diệm—muốn lưu giữ quân viễn chinh Pháp tại phía Nam vĩ tuyến 17 hầu bảo vệ cho vùng đất này, trong khi chờ đợi cuộc tổng tuyển cử dự trù vào tháng 7/1956, hoặc một biến chuyển chính trị mới. Bởi thế, Pháp thuận tham gia Liên Minh phòng thủ Đông Nam Á [Southeast Asian Collective Defense Treaty Organization, hay SEATO]. Đổi lại, Liên bang Mỹ đồng ý trả quân phí cho đạo quân viễn chinh Pháp tại Đông Dương. Liên minh Mỹ-Pháp này là điều mà chế độ Diệm, đặc biệt là Trần Chánh Thành, cố tình dấu kín dư luận Việt Nam. Thực ra, chính nhờ liên minh Mỹ-Pháp trong giai đoạn 1954-1955, họ Ngô mới được thừa hưởng quyền cai trị miền Nam vĩ tuyến 17 “từ trên trời rớt xuống.”

Mặc dù cũng muốn duy trì một miền Nam chống Cộng, điểm khác biệt giữa Pháp và Mỹ là khả năng lãnh đạo của Diệm. Các viên chức Pháp đều cho rằng Diệm không đủ khả năng lãnh đạo một chế độ chống Cộng ở miền Nam, và muốn thay Diệm từ mùa Hè 1954. (Một chuyên viên Pháp từng nhận định rằng một lãnh tụ đủ khả năng duy trì miền nam chống Cộng hoặc đã chết (Nguyễn Hữu Trí), hoặc còn đang ở tuổi ấu thơ, hoặc chưa sinh ra đời) Hơn nữa, Pháp còn có những quyền lợi kinh tế và văn hóa ở miền Bắc, nên muốn duy trì một tòa Tổng Đại biểu ở Hà Nội, và thành lập một công ty hỗn hợp Pháp-CSViệt Nam. Qua mắt nhìn của họ Ngô, Pháp theo đuổi chính sách thời cơ, không triệt để ủng hộ chế độ Diệm và phản bội lại cuộc “thánh chiến chống Cộng.” Tuy nhiên, vì nhận hiểu tình trạng sơ sinh của Quân đội Quốc Gia Việt Nam, Diệm vẫn núp bóng quân viễn chinh Pháp trong giai đoạn hòa bình chuyển tiếp mà Hiệp ước Geneva mang đến—dù trên danh nghĩa cả Quốc Gia Việt Nam lẫn Mỹ đề không ký hoặc nhìn nhận hiệp ước nói trên.

Phần vì bị ràng buộc bởi Hiệp ước Geneva, phần vì muốn chiều lòng Mỹ, chính phủ Mendès-France tạm thời chấp thuận yểm trợ Diệm, với điều kiện phải tìm một giải-pháp-khác-Diệm, tức tìm một người khác làm Thủ tướng. Ngày 25/9/1954, khi gặp Ngoại trưởng Foster Dulles và Tướng Walter B. Smith tại Bộ Ngoại giao My, Bộ trưởng Các quốc gia liên kết Pháp là  Guy la Chambre nói suốt ba tháng qua Pháp đã yểm trợ Diệm, nhưng Diệm chứng tỏ thiếu khả năng, và thật khó cai trị khi chống lại quân đội và lực lượng Bình Xuyên (đang cầm đầu cảnh sát). Tuy nhiên, nếu Diệm đủ khả năng ổn định tình thế, Pháp sẽ tiếp tục ủng hộ như từ trước tới nay. Smith trả lời rằng theo TNS Mansfield, Diệm vẫn là Thủ tướng hàng đầu mà miền Nam có được. Mặc dù chính phủ của ông ta bất lực, và ông ta vụng về, nhưng Diệm là “một người lương thiện và đó là một nhà ái quốc chân chính”. Vấn đề cần biết là quân đội có theo gương Cao Đài và Hòa Hảo để liên kết với ông ta hay chăng. Phần Bình Xuyên là “bọn côn đồ” cần phải loại bỏ. Smith còn nói trong tương lai sẽ loại cả Bảo Đại (44)

44. SHAT (Vincennes), Tư liệu Ely [1K 233], carton 40.

Sau ba ngày hội thảo, chiều 29/9/1954, Mỹ và Pháp ký mật ước [Minute of Understanding] Walter B. Smith-Guy La Chambre, ủng hộ Diệm và chính phủ chống Cộng ở miền Nam. Pháp hứa trả tự trị cho VN càng sớm càng tốt. Việc bàn giao các cơ sở hành chính, kinh tế sẽ hoàn tất vào cuối tháng 12/1954. (45)

45. Xem thông cáo chung ngày 29/9/1954; FRUS, 1952-1954, XIII, 2097-2098. Về nội dung của mật ước, xem Ibid, 2098-2102.

Tuy nhiên ngày Thứ Bảy, 2/10, Bộ Ngoại Giao Pháp gửi thư cho Bộ Các Quốc Gia Liên Kết, thông báo bỏ câu "yểm trợ chính phủ Diệm" trong mật ước ngày 29/9/1954 (1K 233, carton 40). Nói cách khác, Pháp chỉ còn ủng hộ nguyên tắc một chính phủ chống Cộng ở miền Nam, không nhất thiết do một cá nhân nào cầm đầu.

Trong khi đó, từ ngày 28/9/1954, Phụ tá Cao ủy Maurice Dejean đã xuống Cannes gặp Bảo Đại. Dejean nói đã nhận được chỉ thị từ Oat-shinh-tân là cả Mỹ và Pháp đều muốn Bảo Đại yêu cầu Hinh và Bình Xuyên ủng hộ Diệm. Bảo Đại tỏ ý ngạc nhiên về việc “can thiệp bất bình thường” của Mỹ và Pháp, “không phù hợp với tình trạng độc lập” của Việt Nam. Bảo Đại nghĩ Diệm cần phải rời chính quyền để chiến thắng Việt Minh, và đề cử  Tướng Nguyễn Văn Xuân thay thế.  (FRUS, 1952-1954, XIII, 2:2081).

Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, Donald Heath, phải xin với BNG cho qua Cannes gặp Bảo Đại. Trước đó, Heath đã nói chuyện với Nguyễn Đệ và Ely cũng đã nói chuyện với Bảo Đại. Bởi thế, trong buổi hội kiến ngày 3/10/1954, Bảo Đại khẳng định không chống lại việc giữ Diệm làm Thủ tướng, và giải thích rằng lệnh bắt Diệm nhận Xuân, Hinh và Bảy Viễn vào chính phủ là một "lầm lẫn khi thảo văn thư [drafting error]." (46)

46. Tuy nhiên, Bảo Đại muốn giữ Hinh làm Tổng Tham Mưu trưởng. Về phần Diệm, theo Bảo Đại, dù trong sạch và lương thiện, không có khả năng của một lãnh tụ và cũng chẳng thông minh gì lắm. Bảo Đại cũng muốn có cơ hội về nước; nhưng Heath bảo thẳng Bảo Đại rằng dư luận chẳng hâm mộ gì ông ta. (FRUS, 1952-1954, XIII, 2116). Ngày 7/10/1954, XLTV Đại sứ Cameron điện báo từ Sài Gòn rằng theo lời Wesley Fishel, Luyện đã báo cho Diệm biết là Bảo Đại mới gửi cho Xuân, Viễn và Hinh một loạt công điện mới: Cho lệnh Bảy Viễn hợp tác với Diệm, Hinh và Xuân ngưng mọi hoạt động chống Diệm (FRUS, 1952-1954, XIII, 2118).

Tại Sài Gòn, sau khi thuyết phục Bảo Đại cho lệnh Tướng Nguyễn Văn Hinh rời nước vào tháng 11/1954, ngày 13/12/1954 hai Tướng Ely và Collins ký một mật ước [Minute of Understanding] khác, khẳng định yểm trợ một miền Nam tự do, chống Cộng. Pháp hứa sẽ trả quyền tự trị hoàn toàn cho miền Nam ngày 1/7/1955; và cơ quan MAAG Mỹ sẽ bắt đầu huấn luyện Quân Đội QGVN từ tháng 1/1955, dưới quyền tổng quát của Tổng Tư lệnh Đông Dương. Quân đội viễn chinh Pháp sẽ ở lại Đông Dương, và Mỹ viện trợ 100 triệu Mỹ kim quân phí. (FRUS, 1952-1954, XIII, 2:2366-2368).

Ngày 16/12/1954, BNG và QP Mỹ chấp thuận thoả ước này. Nhưng Pháp không hài lòng, vì Pháp chỉ được 1/3 số quân viện đòi hỏi. Thủ tướng Mendès-France, trong cuộc thảo luận vào tháng 11/1954, cũng từng nói với Dulles rằng Nam Việt Nam khó mà đạt được tự trị hoàn toàn vào tháng 7/1955, và việc tăng cường huấn luyện viên Mỹ vi phạm Hiệp ước Geneva. Bởi thế, Mendès-France không phê chuẩn.

Ngày 19/12/1954, nhân dịp nhóm họp ở Paris, các Ngoại trưởng Dulles, Eden và Mendès-France họp tay ba về Việt Nam. Thoạt tiên, Mandès-France khẳng định phải ngưng yểm trợ Diệm. Đề nghị 2 giải pháp:

1. Bảo Đại sẽ ủy quyền cho một Khâm sai [Viceroy] có toàn quyền giải quyết những tranh chấp giữa các phe nhóm. Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm hay Phan Huy Quát có thể được đề cử làm Khâm sai.

2. Bảo Đại có thể trở lại Sài-gòn, thành lập một chính phủ với Hữu làm Thủ tướng, Tâm nắm Nội Vụ, và Quát Quốc Phòng.

Dulles đồng ý Diệm có nhược điểm, nhưng chưa tìm thấy người tốt hơn. Sự yểm trợ của Mỹ không phải là vô giới hạn và không thể rút lại. Cần áp lực Diệm hơn nữa trước khi quyết định.

Thực ra, Mendès-France chủ trương "sống chung hoà bình," nên không ưa lập trường chống Cộng cực đoan của Diệm. Hơn nữa, Diệm đang phát động một chiến dịch chống Pháp một cách quá khích. Nhưng cuối cùng, Mandès-France cũng đồng ý với Dulles, nêu ra 3 điểm: 1. Tiếp tục ủng hộ Diệm; 2. Nghiên cứu một giải pháp khác; 3. Chỉ thị cho Collins và Ely nghiên cứu giải pháp khác Diệm, kể cả việc sử dụng Bảo Đại. Collins và Ely cũng nghiên cứu thời gian còn có thể tiếp tục yểm trợ Diệm, và đặt ra thời hạn chót. Dulles đồng ý, nhưng đưa thêm điểm thứ tư: Nếu thấy không ai khá hơn Diệm, Mỹ sẽ nghiên cứu có nên tiếp tục đầu tư vào Đông Dương nữa hay chăng. Trường hợp này, sẽ phải xét lại Chính sách Đông Dương, và tham khảo ý kiến của các tiểu ban Quốc Hội. Ngắn và gọn, trên thực tế Dulles chỉ đồng ý với Pháp một điểm: Ely và Collins sẽ cùng nghiên cứu những người có thể thay Diệm. Dulles quyết định sẽ tiếp tục viện trợ cho Nam Việt Nam để ít nữa cũng kéo dài thời gian cho các quốc gia khác trong vùng Đông Nam Á chuẩn bị và kiện toàn tình thế—Ngày 1/5/1955, Mỹ sẽ bắt đầu viện trợ trực tiếp cho Nam VN.(47)

47. US-Vietnam Relations, 1945-1967, Bk 4:A3:22-25;  Gravel, I:227-229; 1K 233, carton 40.

Ngày 6/1/1955, Guy La Chambre than phiền với Đại sứ Mỹ tại Pháp (Dillon) rằng La Chambre rất bất mãn mật ước ngày 19/12/1954. Sự thỏa thuận giữa ba Ngoại trưởng tương phản lại những gì Tướng Smith và La Chambre đã đồng ý vào tháng 9/1954, khi Pháp đồng ý ủng hộ Diệm: Đó là cho Diệm một thời gian vừa phải, rồi sẽ nghiên cứu một thí nghiệm khác. Theo La Chambre, “thời gian vừa phải" đã chấm dứt từ lâu, nếu Mỹ từ chối thực hiện một thí nghiệm khác, sẽ không còn đủ thì giờ đương đầu Việt Minh trong kỳ Tổng Tuyển cử. Tuy nhiên, La Chambre tạm yên lòng khi Ngoại trưởng Dulles sẵn sàng nghiên cứu biện pháp khác Diệm, và hy vọng rằng Dulles sẽ cho Collins toàn quyền để phối hợp với Ely tìm ra biện pháp khác ấy. Theo La Chambre, Ely báo cáo rằng tình hình xấu hơn và La Chambre không còn hy vọng gì ở Diệm nữa. Nhưng La Chambre chưa có một ý kiến rõ rệt nào về biện pháp khác Diệm. Dillon nói cho tới nay, chưa có một đề nghị nào tốt hơn chính thí nghiệm Diệm. La Chambre đồng ý, nhưng đã chỉ thị cho Ely trở lại Sài-gòn để làm việc với Collins, tìm ra một phương thức trước cuối tháng 1/1955. Chính phủ Pháp cũng đồng ý duy trì 75,000 quân đội viễn chinh Pháp cho tới ngày 1/6/1955. Sau đó, việc triệt thoái sẽ từ từ cho tới trước ngày Tổng tuyển cử vào tháng 7/1956. (FRUS, 1955-1957, I, tài liệu 15) Theo La Chambre, giải pháp tốt nhất là cho Bảo Đại hồi hương tức khắc. Trần Văn Hữu có thể làm Thủ tướng; Nguyễn Văn Tâm coi Nội vụ. Diệm có thể tham gia chính phủ. Riêng "thí nghiệm Bửu Hội" không sử dụng được. Ngày 7/1/1955, Pháp đưa ra một dự thảo hiệp ước mới.

Thời gian này, Đặc sứ Mỹ  Lawton Collins cũng bắt đầu thất vọng về Diệm; nhất là từ sau ngày Diệm không cử Phan Huy Quát làm Tổng trưởng Quốc Phòng. Collins đưa ra hai giải pháp: (1) Yêu cầu Bảo Đại bổ nhiệm Quát làm Thủ tướng; hoặc (2) Đích thân Bảo Đại về nước trong tình trạng khẩn cấp. (48)

48. FRUS, 1952-1954, XIII, 2:2365-366; US-Vietnam Relations, 1945-1967, Bk 4:A3:20.

Ngày 16/12/1954, khi được yêu cầu tái xét trường hợp Diệm, Collins lại đề nghị với Oat-shinh-tân:

1. Yểm trợ Diệm một thời gian nữa; nhưng Mỹ không khởi đầu một chương trình viện trợ đặc biệt nào.

2. Nghiên cứu khẩn cấp việc Bảo Đại hồi hương.

3. Nếu sau một thời gian trắc nghiệm thêm mà Diệm không chứng tỏ dấu hiệu tiến bộ, và nếu chính phủ Mỹ đồng ý, sẽ cho Bảo Đại hồi hương tức khắc.

4. Nếu Bảo Đại không chấp nhận được, và nếu Diệm tiếp tục biểu lộ sự thiếu khả năng đoàn kết các phe nhóm, cần duyệt xét lại chính sách của Mỹ tại Đông Nam Á—rút khỏi Nam Việt Nam (như đã đề cập ngày 13/12/1954).

Đại sứ Heath, lúc này đã trở về Bộ Ngoại Giao, không đồng ý. Theo Heath, chủ trương của Dulles là trì hoãn [buying time] để giúp Lào, Miên và Thái Lan mạnh hơn; trong khi đề nghị của Collins chỉ nhắm giải quyết tức khắc vấn đề trước ngày 1/1/1955. Hơn nữa, Diệm là người duy nhất phục vụ đắc lực mục tiêu của Mỹ. Mối lo sợ rằng 300 triệu MK quân viện và uy tín nước Mỹ sẽ bị mất trong việc duy trì một nước Việt Nam tự do là chính đáng, nhưng ngưng yểm trợ [Diệm] lúc này còn mang lại hậu quả tai hại hơn. (49)

49. US-Vietnam Relations, 1945-1967, Bk 4:A3:21-22;  Gravel, I:226-227.

Một biến cố khác khiến liên hệ giữa Pháp và Diệm thêm căng thẳng là ngày 26/12/1954, Pháp khai trương  Tòa Tổng Đại biểu ở Hà Nội. Jean Sainteny, người đã ký Hiệp ước 6/3/1946 với Hồ, được cử làm Tổng Đại biểu. Mỹ cũng không tán thành việc lập những tổ hợp liên doanh Pháp-Bắc Việt. La Chambre biện minh rằng Sainteny chỉ lo về quyền lợi kinh tế và thương mại, và Pháp dự định họp các công ty ở miền Bắc thành một tổ hợp lớn để dễ điều hành. Ngày 11/2/1955, Jacques Roux, Phó Tổng Giám đốc Chính trị vụ BNG Pháp, nói thẳng rằng kế hoạch duy trì quyền lợi kinh tế và văn hoá tại Bắc VN không phải là ý kiến riêng của Sainteny, mà là chính sách của nước Pháp. Pháp chẳng có lợi gì khi rút lui, vì cố vấn Trung Cộng sẽ thay thế, và điều khiển các cơ sở Pháp để lại. Sự hiện diện của Pháp sẽ khiến Hồ bớt tùy thuộc vào quĩ đạo CS. Roux nhấn mạnh rằng HCM, trái ngược với miền Nam, muốn Pháp ở lại; và Việt Minh muốn Pháp hướng dẫn về kỹ thuật. Roux hy vọng Mỹ sẽ nghiên cứu lại vấn đề những công ty hỗn hợp Pháp-Việt Minh sẽ không bị ràng buộc trong Sắc Luật  "buôn bán với các quốc gia Cộng Sản" của Mỹ. (FRUS, 1955-1957, I, tài liệu 43)

Nhưng BNG Mỹ vẫn không đồng ý kế hoạch thành lập công ty hỗn hợp Pháp-Bắc Việt Nam. Theo kế hoạch này,  Hà-nội giữ đa số cổ phần, như thế đi ngược lại lời tuyên bố yểm trợ Nam VN và chính sách liên hiệp Pháp-Mỹ; nó sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của Pháp tại Lào và Miên; và làm hại đến cơ hội của miền Nam trong cuộc Tổng tuyển cử 1956. (FRUS, 1955-1957,  I:89n3)

Tại Việt Nam, ngày 7/1/1955, Đặc sứ Collins họp cùng Đại sứ Miên McClintock và Đại sứ  Lào Yost tại Đà-Lạt. Họ đồng ý rằng cơ hội ngăn chặn CS ở Đông Dương xứng đáng để Mỹ thử nghiệm. Tiền viện trợ cho NVN chỉ vào khoảng 440.5 triệu MK, Miên, 55, và Lào, 62 tới 67 triệu MK. (Trong tổng số từ 557.5 triệu tới 562.5 triệu, 100 triệu MK dành cho quân viễn chính Pháp). Hôm sau, 8/1/1955, Collins gặp Ely thảo luận về đề nghị sửa đổi Thỏa ước 13/12/1954. Ely nói chính phủ Pháp đồng ý duy trì 75,000 quân đội viễn chinh Pháp cho tới ngày 1/6/1955. Sau đó, việc triệt thoái sẽ từ từ cho tới trước ngày Tổng tuyển cử vào tháng 7/1956. (FRUS, 1955-1957,   I, tài liệu 15)

Ngày  24/1/1955 [Nguyên đán Ất Mùi] Collins về tới Oat-shinh-tân. Nạp báo cáo trong ngày 24/1/1955, và họp ngay với Dulles. Sau đó Dulles viết thư cho Thủ tướng Edgar Faure để giải quyết "sự hiểu lầm" quanh việc thay hay không thay Diệm. Đề nghị Ely viết thư thông báo cho Diệm rằng từ ngày 1/7/1955, quân đội QGVN được hoàn toàn tự trị. Rồi Ely viết thư cho Collins, thông báo các cố vấn Mỹ và Pháp sẽ do MAAG điều động, dưới sự chỉ huy tổng quát của Ely. (FRUS, 1955-1957,Tài liệu 26) Ngày 28/1/1955, Mendès-France chấp thuận đề nghị của Dulles.

Trong khi đó, phiên họp thứ 234 của Hội đồng ANQG Mỹ ngày 27/1/1955, do Eisenhower chủ tọa, quyết định:

(1) Tại hội nghị SEATO ở Bangkok sắp tới, Dulles sẽ yêu cầu các thành viên sẽ yểm trợ VN Tự Do một khi chiến tranh tái phát;

(2) Vì VN Tự Do khó tồn tại nếu không có Pháp yểm trợ, phải áp lực Pháp thực thi thỏa ước Smith-La Chambre trong hội nghị 27-29/9/1954, và những nguyên tắc căn bản trong qui ước ngày 13/12/1954 giữa Ely và Collins.

(3) Tiếp tục yểm trợ chính phủ Diệm.

Ngoài ra, yểm trợ các chương trình cải tổ quân đội, cải cách điền địa, tái định cư dân tị nạn, và thiết lập một Quốc hội. Trong vòng 2 tháng tới, BNG Mỹ sẽ nghiên cứu và đệ trình một kế hoạch về tổng tuyển cử 7/1956. Chấp thuận viện trợ cho NVN, về quân sự và các lãnh vực khác, và tái khẳng định yểm trợ Việt Nam Tự Do của Nghị quyết NSC 5429/5, tiết 10-a. (FRUS, 1955-57, I, tài liệu 28)

Trong mùa Xuân 1955, liên hệ Pháp-Việt ngày thêm căng thẳng qua quyết định tấn công Bình Xuyên và các giáo phái của Diệm. Ngày 9/4/1955, Đặc sứ Collins lại muốn thay ngựa sau khi Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ, nhóm Tinh Thần và Hồ Thông Minh xin từ chức. Thoạt tiên, Ngoại trưởng Dulles đồng ý. Nhưng do sự can thiệp của TNS Mansfield, Eisenhower cuối cùng giữ Diệm vì không thấy một “ngựa” nào khá hơn để thay thế. (VNNB, I-C: 1955-1963, tr.46-47, 49-52)

Trong khi đó, mặc dù các quan Tướng Pháp và cá nhân Bảo Đại đứng ra điều đình, đầu tháng 5/1955 Diệm cho Quân đội Quốc Gia Việt Nam dẹp tan nhanh chóng Bình Xuyên, thu lại sự kiểm soát ngành Cảnh Sát. Sau đó, mở những cuộc càn quét cứ điểm Hòa Hảo, Cao Đài. Lê Văn “Bảy” Viễn phải chạy qua Pháp. Phạm Công Tắc chạy qua Miên tị nạn. Tướng “Năm Lửa” Trần Văn Soái về hàng. Lãnh chúa Hòa Hảo cuối cùng là Ba Cụt Lê Quang Vinh bị bắt sống khi về thương thuyết, rồi bị làm án tử hình.

Chiến thắng này khiến chính phủ Eisenhower quyết tâm ủng hộ chế độ Diệm, chấp thuận cho Diệm truất phế Bảo Đại, thiết lập chế độ Cộng Hòa. Đồng thời, quay mặt làm ngơ cho Diệm mở một chiến dịch bài Pháp dữ dội. Giám mục Thục còn vận động việc triệu hồi các nhà truyền giáo để “Việt Nam hóa” giáo hội Vatican bản xứ.(50)

50. Xem cuộc gặp mặt giữa Ely và Randolph A. Kidder ngày 1/5/1955, FRUS, 1955-1957,   I:340-344.

Ngày Chủ Nhật, 8/5/1955, ba Ngoại trưởng Dulles, Fauvre và Macmillan lại họp tại Paris. Laforest trình bày tình hình Đông Dương. Theo Laforest, Diệm không những thiếu khả năng mà còn khùng (fou). Pháp không thể tiếp tục chấp nhận sự liều lĩnh với Diệm. Tiếp tục yểm trợ Diệm sẽ có 3 kết qủa tai hại: (1) Sẽ mang lại chiến thắng của Việt Minh; (2) Sẽ tạo sự thù hận Pháp; và, (3) Sẽ tạo nên sự xa cách giữa Pháp và Mỹ. Ai cũng tin rằng Mỹ yểm trợ Diệm và xúi Diệm chống Pháp, dù rằng chính phủ Mỹ không làm điều đó. (FRUS, 1955-1957, I:375) Bảo Đại là lá bài xấu, nhưng có thể còn sử dụng được; với Diệm thì thất bại hoàn toàn. Ngày nào còn Diệm, không thể có một giải pháp. Diệm là một lá bài bất khả, và không có một cơ hội nào để thắng lợi hay cải đổi tình thế. Mặc dù Pháp không có ai để thay Diệm, nhưng bất cứ ai cũng có cơ hội thành công, ngoại trừ Diệm. "Diệm là một sự lựa chọn tồi dở, một giải pháp không thể thành công hay cải thiện tình thế. Không có Diệm, một giải pháp còn khả dĩ, nhưng nếu Diệm ở đó thì bất khả." Rồi Laforest đặt câu hỏi liệu Mỹ muốn Pháp triệt thoái hoàn toàn khỏi VN, và liệu Mỹ có thể bảo đảm quyền lợi Pháp kiều tại VN hay chăng?

Dulles nói vấn đề chính là sự khác biệt quan điểm giữa Pháp và Mỹ về Diệm. Mỹ nghĩ rằng Diệm có khả năng. Mỹ cũng có thể sẽ rút khỏi Việt Nam. Ba phe đồng ý sẽ thảo luận thêm vào ngày hôm sau.(51)

51. Tài liệu Ngũ Giác Đài ghi là buổi họp này diễn ra ngày 10/5/1955, nội dung như sau: Trước đó, Dulles đã khẳng định Diệm là phương tiện duy nhất để cứu Nam Việt Nam; Bảo Đại đã hết thời. Mặc dù trước khi cuộc thanh trừng Bình Xuyên xảy ra, Collins và Ely đã đồng ý thay Diệm, nhưng nay quyết định yểm trợ Diệm. Ngoại trưởng La Forest và Thủ tướng Faure không đồng ý. Faure cho rằng Diệm không những "thiếu khả năng" [incapable] mà còn "khùng [mad]." Diệm sẽ mang đến chiến thắng cho Việt Minh, khiến mọi người ghét Pháp, và gây sự đổ vỡ giữa Mỹ và Pháp. Faure kết luận: “Diệm là một sự lựa chọn tồi, một giải pháp bất cập, không có một cơ hội nào để thành công, không có cơ hội nào để cải thiện tình hình. Không có ông ta, còn có thể tìm được một giải pháp, nhưng có ông ta thì bất khả.” Sau đó, Faure đề nghị triệt thoái tức khắc quân viễn chinh Pháp khỏi Việt Nam, nếu Mỹ muốn. Dulles nói Mỹ chỉ muốn Nam Việt Nam không bị lọt vào tay Cộng Sản; và sẽ để Pháp tự do hành động. Tuy nhiên, nếu Pháp thay Diệm, Mỹ có thể ngưng tài trợ. Ngoại trưởng Bri-tên, MacMillan, đề nghị cần thêm thời gian để thảo luận trước khi có quyết định. (Gravel, I:237-8).

Ngày Thứ Hai, 9/5, Mỹ, Pháp và Bri-tên bắt đầu Hội nghị Tam cường về vấn đề Việt Nam [cho tới ngày 11/5/1955]. Trong buổi họp giữa Laforest, Berard và Risterucci với Robertson, Young và Gibson, Laforest lập lại vấn đề triệt thoái quân Pháp khỏi Nam Việt Nam, và muốn biết Mỹ có bảo đảm tính mạng và quyền lợi Pháp kiều hay chăng. (FRUS, 1955-1957, I:Tài liệu 182) Hôm sau, Thứ Ba, 10/5/1955, Hội nghị Ngoại trưởng bàn về việc phòng thủ Âu Châu; nhưng vấn đề Việt Nam được đưa ra bàn thảo. Dulles tuyên bố nếu Pháp rút lui, Mỹ sẽ tiếp tục yểm trợ một chính phủ chống Cộng ở miền Nam VN. Fauvre nói dư luận Pháp đang nghiêng về phía chấp nhận Bắc Việt và bỏ rơi miền Nam; hoặc Diệm phải ra đi. Tuy nhiên, Fauvre đồng ý yểm trợ Diệm với hai điều kiện: Ngưng chống Pháp; và, mở rộng chính phủ. Fauvre cũng muốn duy trì Bảo Đại. Hôm sau nữa, Thứ Tư, 11/5, Dulles đề nghị Pháp tiếp tục ủng hộ Diệm cho đến ngày bầu cử Quốc Hội, để quyết định thể chế miền Nam, có hay không có Diệm. Faure nhấn mạnh Diệm phải mở rộng chính phủ, duy trì Bảo Đại như Quốc trưởng, bầu cử càng sớm càng tốt, ngừng ngay luận điệu tuyên truyền chống Pháp; Mỹ tiếp tục viện trợ, và triệu hồi những cá nhân gây trở ngại cho liên hệ Pháp-Mỹ (như Lansdale).

Dulles đồng ý, nhưng đề nghị mỗi nước công bố riêng chính sách và đường lối của mình. Điều này có nghĩa Mỹ bắt đầu tách dần khỏi kế hoạch liên minh Pháp-Mỹ tại Việt Nam (Gravel, I:239). Ngày 12/5/1955, Dulles chỉ thị Collins thông báo với Diệm về những điểm đã đồng ý trong Hội nghị Tam cường. Hôm sau, 13/5, từ Paris, Dulles chỉ thị cho G. Frederick Rheinardt, tân Đại sứ được chỉ định, về những việc phải làm:

 (1) Tiếp tục yểm trợ chính phủ Diệm, và đối xử với chính phủ này như một chính phủ độc lập, có chủ quyền mà chúng ta tin rằng nó là như thế và phải như thế.

(2) Chúng ta muốn thấy chính phủ này mạnh hơn.

(3) Chính phủ sẽ có quyền không những với quân đội mà cả cảnh sát. Bình Xuyên phải bị giải tán.

(4) Cần chấm dứt việc chống Pháp.

(5) Mỹ và VN đều không ký hiệp ước Geneva, nhưng đồng ý nghiên cứu việc Tổng tuyển cử vào tháng 7/1956, với điều kiện được tự do bầu cử.

(6) Quân Pháp sẽ triệt thoái nhanh khỏi Nam Việt Nam.

(7) Tự do không thể duy trì được ở VN nếu các lực lượng cách mạng được mang ra chơi ở VN. Chắc chắn VM sẽ tìm cách điều khiển vì họ là những bậc thày trong ngành này. Diệm cần thi hành một chính sách ôn hòa và xây dựng.

Hôm sau, Thứ Bảy, 14/5/1955, Collins rời Việt Nam. Kidder XLTV một thời gian.

Thứ Năm, 19/5/1955—đúng ngày Pháp triệt thoái khỏi Hải-phòng và Việt Minh rút khỏi Bình-định và Quảng-ngãi—HĐ/ANQG Mỹ họp lần thứ 249. Dulles tường trình về chuyến đi Paris và Vienna: Pháp sẽ triệt thoái quân viễn chinh xuống tới 50,000. Hai ngày sau, 21/5,  XLTV Đại sứ Kidder báo cáo từ Sài Gòn là đã thông báo với Ely về kết quả hội nghị Tam cường ở Paris. Ely không tán thành nghị quyết trên, và đã xin hồi hương. (FRUS, 1955-1957, I:408)

Trong khi đó, Diệm phát động phong trào bài Pháp và truất phế Bảo Đại. Ngày 31/5/1955, Hội đồng NDCM bắt mở cửa Ngọ Môn, tịch thu ấn tín và nhiều vật dụng trong văn phòng Bảo Đại. Đứa con “tập ấm” của “bát cơm Bảo hộ Pháp” quyết tâm vùi chôn một lần và mãi mãi “tàn dư phong, thực, cộng.” Người cầm đầu chiến dịch chống Pháp này là Trần Chánh Thành. Ngày 20/7/1955, ngày dự trù bàn thảo về việc Hiệp thương Bắc-Nam, Diệm tổ chức học sinh, sinh viên di cư biểu tình tấn công phái đoàn quân sự BV của Văn Tiến Dũng tại khách sạn Majestic và khách sạn trên đường Trần Hưng Đạo. Cao điểm của chiến dịch là cuộc “trưng cầu dân ý” truất phế Bảo Đại ngày 23/10/1955, mở đường cho “Chí sĩ” Diệm bước lên ngai vị Tổng thống.

Ngày 1/12/1955, Diệm cắt đứt liên hệ kinh tế và tài chính với Pháp, và đòi triệu hồi phái đoàn Sainteny ở Hà Nội. Ngày 7/12/1955, ra Dụ số 10 về quốc tịch. Theo một tờ trình của Bộ Tư lệnh Viễn chinh Pháp, ngày 23/1/1956, 6,650 trong số khoảng 7,000 người Việt có quốc tịch Pháp trước ngày 8/3/1949 đã xé bỏ quốc tịch. Trong số này, có các tướng Trần Văn Minh, André Trần Văn Đôn và 14 sĩ quan cao cấp khác. Y sĩ Trần Văn Đôn, cha André Đôn, đại sứ ở Roma, và Luật sư Trần Văn Chương, đại sứ ở Mỹ, cũng xin bỏ quốc tịch. Những người có quốc tịch Pháp sau ngày 8/3/1949 sẽ tự động bị hủy bỏ vì hiệp ước Pháp-Việt ngày 6/8/1955. (SHAT (Vinvennes), Indochine, 10H 4197).

Ngô Đình Thục, người từng một thời rất kiêu hãnh về người cha đã ra công hãn mã bất kể sống chết cho nền bảo hộ Pháp tại Việt Nam, cũng phát động chiến dịch bài Pháp, lên án các nhà truyền giáo Pháp là “bảo hộ.”

Tháng 4/1956, quân viễn chinh Pháp chính thức triệt thoái khỏi Nam Việt Nam.

Pháp vẫn duy trì Tòa Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa ở Paris, nhưng từ năm 1962 đón nhận một đại diện thương mại của Hà Nội. Trong khi đó, Tòa Đại sứ Pháp đặt tại Sài Gòn, nhưng Pháp cũng có một đại diện ở Hà Nội. Pháp viện trợ kinh tế và văn hóa cho VNCH, nhưng cương quyết đứng ngoài “cuộc thánh chiến chống Cộng” của Diệm và nước Mỹ. Chính sách công khai của Pháp là không can thiệp vào chính trị nội bộ của Việt Nam, mà chỉ lo vấn đề kinh tế và văn hóa với cả hai miền.

Giao tình Việt-Pháp cải thiện vào năm 1959, sau khi Roger Lalouette tới làm Đại sứ. Pháp cho VNCH vay 70 triệu MK để thực hiện khu kỹ nghệ An Hòa, cùng một số công trình kỹ nghệ khác. Nhưng tình trạng suy thoái an ninh ở Lào, và nhất là việc Pháp ký Hiệp ước hoàn trả Việt kiều từ Nouvelle Calédonie về Bắc Việt khiến họ Ngô luôn luôn hoài nghi Pháp.

Ngày 24/8/1960, chẳng hạn, Nhu nói với Đại sứ Durbrow rằng người Pháp đứng sau vụ Kong Le đảo chính ở Lào. Nhu cũng tin rằng Pháp đứng sau lưng các nhóm bất mãn ở miền Nam để gia tăng tinh thần trung lập. Pháp lầm lẫn tưởng rằng giảm ảnh hưởng của Mỹ tại Lào và Việt Nam có thể giúp Pháp tăng gia ảnh hưởng trong vùng. De Gaulle đã lầm lẫn khi ký hiệp ước với Hà Nội về việc hồi hương Việt kiều tại Nouvelle Calédonie sẽ khiến Hà Nội giảm bớt ao ước xâm chiếm Lào hay Nam Việt Nam. (FRUS, 1958-1960, I:543-544n3)

Sau chuyến thăm Pháp lần thứ ba vào tháng 6/1961—mặc dù de Gaulle từ chối không can thiệp vào Lào như lời yêu cầu của Kennedy ngày 31/5/1961—Nhu và các viên chức Việt Nam Cộng Hòa tìm cách cải thiện liên lạc với Pháp. (CLV, SV, d. 13:39) Một trong những lý do là tình hình miền Nam ngày thêm suy thoái, khiến Diệm phải tuyên bố tình trạng lâm nguy ngày 18/10/1961.

Ngày 26/10/1961, khi gặp Lalouette, Diệm nói tình hình nghiêm trọng. Cần sự liên kết của tất cả các quốc gia tự do chống lại Cộng Sản. “Trường hợp chúng tôi là điển hình. Nước Pháp sẽ làm gì?” [Nos cas est un symbole. Que va faire la France?] Việc quân đội Mỹ đến VN sẽ được dân Việt Nam nồng nhiệt tiếp đón. [La présence des forces alliées sur le territoire d'un pays, a-t-il ajouté, n'est plus considérée aujourd'hui comme une atteinte à l'indépendance de ce pays.] Khi được hỏi liệu khi tình hình khẩn trương, Diệm có kêu gọi sự giúp đỡ của các cường quốc thân hữu, Diệm trả lời: "Trong những công điện mới đây, tôi đã khẩn thiết kêu gọi sự đoàn kết của Thế giới Tự Do. Lập lại những lời kêu gọi trên chỉ khiến làm giảm ý nghĩa” [Dans mes récents messages, j'ai déjà adressé un appel pressant à la solidarité du Monde Libre. Renouveller cet appel serait en affaiblir la portée]. Theo Diệm, một cuộc chiến tranh Cao Ly thứ hai đang hiện hữu ở miền Nam [La guerre de Corée existe déjà au Vietnam, mais elle n'avoue pas son nom]. (52)

52. CĐ số 1094/101, ngày 8/11/1961, Lalouette gửi Paris; AMAE [Paris], CLV, SV, 14:17.

Thứ Sáu, 8/12/1961: BNG ra Bạch thư về việc CSBV tấn công miền Nam. Tài liệu này gồm 2 phần, với tựa A Threat to Peace: North Vietnam’s Effort to Conquer South Vietnam.

Thứ Hai, 11/12/1961: Hội nghị tay ba Mỹ, Pháp và Bri-tên tại Bộ Ngoại giao Pháp. Mỹ đã công bố Bạch thư ngày 8/12/1961: Biến loạn ở VN không thuần là nội loạn, mà do CSBV phát động. Mỹ không có ý định gửi các đơn vị tác chiến vào Nam Việt Nam; nhưng sẽ giúp Diệm tự vệ, bằng cách viện trợ trực thăng, vũ khí, v.. v... (FRUS, 1961-1963, I:Tài liệu 316)

Theo phúc trình ngày 9/1/1962 của Nha Á Châu-Đại Dương, Sở Miên-Lào-Việt, từ tháng 10/1961, các giới trong Dinh Độc Lập còn cho Pháp biết là muốn cân bằng áp lực Mỹ bằng cách dựa vào các thế lực khác, nhất là Pháp. “Một lời tuyên bố ý định đã đủ [Une déclaration d’intention, un geste suffirait].” (AMAE [Paris], CLV, SV, dossier 91, tr. 2).

Cuối năm 1961, đầu năm 1962, các viên chức VNCH liên tục thúc dục Pháp can thiệp và yểm trợ. Ngày 21/12/1961, Đại sứ Phạm Khắc Hy gửi thư cho Charles Lucet, ngỏ ý muốn liên lạc với Pháp. Hơn nửa tháng sau, ngày 7/1/1962, Ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu đích thân gặp đại diện Pháp, xác nhận ý muốn liên lạc. Trương Vĩnh Lễ, Chủ tịch Quốc Hội, cũng tiết lộ với giới ngoại giao Pháp ở Sài Gòn là Nhu muốn Pháp tái khẳng định lập trường, vì Sài-gòn có cảm tưởng rằng Paris đang nghiêng dần về phía Hà-nội. (CLV, SV, 91:10)  Sự lo ngại của Nhu có lẽ do sự lo sợ Mỹ sẽ thay đổi chính sách.

Phiếu trình ngày 9/1/1962 của Nha Á Châu-Đại Dương phản ảnh vị thế “khó xử” của Pháp. Pháp có trên 15,000 kiều dân tại miền Nam (trên 17,000 năm 1963), một số tiền đầu tư khá quan trọng, và liên hệ văn hóa. Một mặt, khó thể cung cấp viện trợ quân sự cho miền Nam. Tình trạng hiện nay xảy ra không có sự hiện diện của Pháp, và cách nào đó, chống lại Pháp. Mặt khác, nếu Pháp ngả về phe Mỹ, lập tức sẽ bị Việt Minh trả đũa. Sự quan hệ giữa Pháp với Việt Nam là quyền lợi vật chất và tinh thần, trong khi Mỹ cơ bản là vấn đề chiến lược. Nếu bị áp lực, Pháp có thể sẽ hợp tác, nhưng trong bí mật và ít thôi, chỉ vừa đủ thỏa mãn chế độ Diệm [une coopération aussi modeste et discrète que possible, mais suffisante pour qu’il s’en contente.] (p.5). Về phương diện chính trị, biên độ hoạt động của Pháp rất hẹp. Chính phủ Pháp khó thể ra một tuyên cáo ủng hộ chế độ Diệm. Có thể nhờ đài truyền hình Pháp đi một bản tin về hiểm họa Cộng Sản, hoặc cử một phái đoàn Dân biểu tới tham quan. Về phương diện quân sự, Pháp khó thể làm gì trong khi Mỹ tiếp tục gia tăng sự can thiệp. Hai cách hành động là cung cấp viện trợ quân cụ và chuyên viên. Hiện Pháp còn một kho quân trang ở Marseille vốn dự định gửi qua Đông Dương. Cũng có thể cố vấn việc phòng thủ vùng cao nguyên Trung phần. Về phương diện hành chính và kinh tế, Pháp có thể yểm trợ trên nhiều mặt.  Pháp không muốn yểm trợ chính trị cho chế độ Diệm, nhưng cũng không thể không bảo vệ quyền lợi Pháp tại đây. Oái oăm là mặc dù biết rõ lập trường của Pháp, chính quyền Nam Việt Nam vẫn tiếp tục áp lực, yêu cầu Pháp có bổn phận bảo vệ miền Nam trước hiểm họa Cộng Sản. Mỹ, bị cô lập, cũng muốn các quốc gia khác nhập cuộc. Bri-tên, dù thiện cảm với chế độ Diệm, cũng chỉ bí mật tiếp tay. (53)

53. Direction Asie-Océanie, Note a/s Soutien au gouvernement Vietnamien- Démarche de l'Ambassadeur Pham Khac Hy; CLV, SV, d. 91:2-9.

Ngày 31/3/1962, Diệm đích thân viết thư cho Tổng thống de Gaulle xin trợ giúp chống lại sự xâm lăng của CSBV. Theo Diệm, CSBV đang công khai xâm lăng VNCH. Ngày 18/1/1962, đài Hà Nội loan tin thành lập Đảng Nhân Dân Cách Mạng [Parti Révolutionnaire du Peuple] mà mục tiêu tức khắc là đoàn kết dân chúng và lật đổ chính quyền miền Nam [“dont la tâche immédiate” est d’unifier le peuple et de “renverser” le gouvernement du Viêt Nam]. Đảng này cũng kêu gọi dân chúng miền Bắc xây dựng một miền Bắc giàu có và vững mạnh, để biến thành một hậu phương vững chắc cho cuộc tranh đấu giành thống nhất hòa bình cho xứ sở và để yểm trợ tích cực đồng bào miền Nam trong cuộc đấu tranh cách mạng [Elle fait aussi “appel à la population du Nord pour bâtir un Nord-Viêtnam toujours plus propère et plus fort, en vue d’en faire une base solide pour la lutte pour la réunification pacifique du pays, et de donner un soutien actif aux compatriotes du Sud- Viêtnam dans leur lutte révolutionnaire.] Trong Đại hội của Đảng CSViệt Nam năm 1960, Hà Nội cũng khẳng định sẽ “giải phóng miền Nam.” Tài liệu bắt được cho thấy Hà Nội xâm nhập người vào Nam. (54)

54. AMAE [Paris], CLV, SV, d. 91:35-37. Ngày 26/4/1962, Vũ Văn Mẫu mới xác nhận trong một buổi họp báo Diệm đã viết thư cho de Gaulle ngày 31/3/1962. Thư này gửi cho 93 quốc trưởng khác nữa. Tuyên bố Sài-gòn có thể tẩy chay (boycott) Ủy ban Quốc tế Kiểm soát Đình chiến. (CLV, SV, 91:42)

Tuy nhiên, trong thư trả lời, de Gaulle chỉ ghi nhận lời kêu gọi của Diệm, nói chung chung là cần tôn trọng Hiệp định Geneva, chủ quyền và lãnh thổ của quốc gia, và dân tộc Việt Nam xứng đáng được sống trong hòa bình và tự do. (Ibid., tr. 38)

Ngày 31/5/1962, Ngô Đình Nhu từ London tới Paris, sau 1 chuyến đi của phái đoàn Dân biểu tới Roma và Bonn. Tuy nhiên, không rõ de Gaulle có tiếp kiến Nhu hay Lệ Xuân theo lời yêu cầu hay chăng.

Ngày Thứ Bảy, 30/6/1962, Ngoại trưởng Couve de Murville tiếp Vũ Văn Mẫu tại nhà riêng vì tình bạn học cũ, nhưng giao tình giữa hai nước vẫn chẳng cải thiện bao lăm. Chủ trương của de Gaulle là trung lập hóa toàn Đông Dương, trong khi Nhu chỉ muốn lợi dụng Pháp để giảm bớt áp lực Mỹ.

Ngày 7/7/1962, XLTV Đại sứ Pháp báo cáo rằng các cấp lãnh đạo VNCH có tinh thần bài Pháp vì các Pháp kiều không chịu chống Cộng theo đường lối Mỹ-Việt. Hai Pháp kiều Etchegarray và de la Chevrotière vẫn bị giam giữ sau vụ đánh bom Dinh Độc Lập. Chỉ có Heurtier được phóng thích. Tổng Lãnh sự Pháp đã gửi hai thư phản kháng về việc chính quyền địa phương trưng dụng tài sản của Pháp kiều làm đồn binh hay trại tạm cư cho dân tị nạn. Một quản lý đồn điền cao su ở Minh Thành đã bị cáo buộc nạp cho Việt Cộng 27,000 đồng, rồi mỗi tháng đóng thuế 1,200 đồng. Lời cáo buộc này xảy ra sau một tai nạn tại phi trường của đồn điền trên: 4 du kích Việt Cộng đã cướp đoạt một xe Jeep của viên Trưởng ty Cảnh sát rồi bỏ chạy khi một chiếc phi cơ chở Giám mục Đà-lạt hạ cánh xuống đồn điền này. (CLV, SV, 91:84-90) Ngày 16/8/1962, BNG Việt Nam còn phản đối với Đại sứ Pháp về việc Y sĩ Phạm Huy Cơ từ Pháp qua Nam Vang gặp gỡ Việt kiều. (CLV, SVN, 91:92)

Chuyến ghé Paris của Nguyễn Đình Thuần vào ngày 3/10/1962 cũng chẳng mang lại được lời hứa nào của Ngoại trưởng Couve de Murville. (CLV, SV, 91:101)

Ngày 5/12/1962, Diệm phải than thở với Đại sứ Lalouette là không hiểu nổi chính sách của Pháp; Pháp có quyền lợi kinh tế ở Việt Nam, mà dửng dưng. (CLV, SV, 91:113)

Từ đầu năm 1963, có những dấu hiệu cải thiện liên hệ Pháp-Việt. Tháng 2/1963, một phái đoàn Quốc hội VNCH qua thăm Pháp được tiếp đãi nồng hậu. Cầm đầu là Trương Vĩnh Lễ, Chủ tịch Quốc Hội. Lễ là nhân vật thứ ba của Việt Nam CH, rất trung thành với Diệm. Dòng giõi Petrus Ky, nói tiếng Pháp thành thạo. Tháp tùng có Hà Như Chi, Nguyễn Hữu Chính, Nguyễn Quốc Hùng, Trần Văn Thọ. (CLV, SV, 22; Mậu 1993:568)

Thứ Tư, 10/4/1963, Ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu than phiền với Rusk về những nỗ lực của một số người Pháp trong kế hoạch trung lập hóa và tự hỏi tại sao những phần tử như Trần Văn Hữu có thể qua Mỹ. (FRUS, 1961-1963, III:219-220)

1. Đại sứ Roger Lalouette

Những tài liệu văn khố đã giải mật cho thấy phía sau lớp bình phong “không can thiệp chính trị” của chính phủ de Gaulle, Đại sứ Lalouette tích cực dàn xếp cho Nhu tiếp xúc đại diện Hà Nội. Theo Lalouette, vì kinh tế miền Bắc gặp khó khăn, và áp lực Trung Cộng ngày một gia tăng, Bắc Việt thành tâm muốn tìm giải pháp chính trị, để trục xuất Mỹ khỏi miền Nam, và tránh áp lực Trung Cộng. Hơn nữa, Hồ vốn là người bài Hoa, thân Tây phương.(55)

55. Vấn đề Hồ có bài Hoa hay thân Tây phương chăng cần được nghiên cứu thêm. Các viên chức Pháp dường không biết đến việc từ năm 1958, Hồ đã sai Phạm Văn Đồcắt lãnh hải cho Trung Cộng để xin quân viện đánh miền Nam.

Vai trò của Lalouette thoáng bộc lộ trong chuyến về nghỉ phép vào tháng 6/1963. Ngày 25/5/1963, Diệm tiếp kiến Lalouette. Trong cuộc gặp gỡ kéo dài 3 tiếng đồng hồ này, Diệm bàn về rất nhiều vấn đề. Về các nước lân bang, Diệm đặc biệt quan tâm đến Lào. Theo Diệm, Hà Nội và Bắc Kinh tạo nên tình trạng căng thẳng ở Lào. Vì cảm thấy phải bỏ ý định chiếm Nam Việt Nam bằng võ lực nên Hà Nội muốn bành trướng ảnh hưởng Pathet Lào dài theo biên giới Việt Lào. Về Bắc Việt, Diệm cho rằng các nhà lãnh đạo Hà Nội đã bắt đầu nhận hiểu chỉ vô dụng khi đánh chiếm miền Nam. Chẳng cần phải có thương thuyết, cuộc chiến sẽ một ngày đột ngột ngừng lại giống như lúc khởi sự năm 1960. [“à se lasser eux aussi d’une lutte dont ils comprendraient aujourd’hui l’inutilité.” . . .  “sans qu’il soit nécessaire d’ouvrir un dialogue entre Saigon et Hanoi, la guerilla pourrait bien un jour cesser soudainement comme elle avait commencé au début de 1960.”] Lalouette có cảm nghĩ rằng chính do sự tiên đoán này, và để chuẩn bị cho điều này, Diệm và Nhu đã nêu lên vấn đề triệt thoái từ từ các cố vấn Mỹ” [“dans son esprit comme dans celui de M. Nhu, c’est en prévision d’une telle évolution, et peut être pour la préparer, que Saigon a posé la question du retrait progressif des Conseillers militaires Américains]. Tuy nhiên, Diệm không nhắc gì đến vấn đề này. (56)

56. Rapport No. 369/AS, 29 mai 1963, Lalouette gửi Couve de Murville; AMAE (Paris), CLV, SV, 91:137-143.

Về bang giao Việt-Pháp, Diệm ghi nhận sự hợp tác của Pháp kiều tại Nam Việt Nam trên các lãnh vực kinh tế và văn hóa, và hy vọng sẽ tiếp tục như thế. Diệm hài lòng khi các đồn điền cao su bí mật cho mượn đất làm ấp chiến lược. Diệm mừng thấy liên hệ giữa hai nước cải tiến, đặc biệt là chuyến qua Pháp của Trương Vĩnh Lễ, vào tháng 2/1963.(57)

57. Sau hội nghị SEATO [OTASE], Đại sứ Mỹ tại Paris báo cáo về Bộ NG là lãnh đạo Pháp bắt đầu chú ý hơn đến Đông Nam Á [manifestaient un intérêt croissant pour le Sud Est Asie]. (tr. 145) Diệm muốn vay thêm Pháp số tiền 100 triệu MK, giống như số tiền vay từ tháng 11/1959 tới tháng 3/1960. Lãi tức thấp (4%), kéo dài từ 10 tới 15 năm. Nhằm tăng thêm số vốn 30 triệu đã bỏ vào khu kỹ nghệ An Hòa, lập một nhà máy lọc đường [une sucrerie], một lò sát sinh ở Sài Gòn, đường tàu điện ở Đà Lạt, cầu Mỹ Thuận, xây dựng phi trường Sài Gòn.(tr. 145-146) Lalouette cho biết Paris đang nghiên cứu đơn xin vay tiền, nhưng có vẻ không tốt. Quan trọng nhất là VNCH phải hoàn tất các giao kèo thực hiện những kế hoạch đã mượn tiền từ trước cho kế hoạch An Hòa. Nhu đã nói với Lalouette rằng “le Vietnam travaillait à se rendre disponible,” và sẽ qua Pháp nếu cần (se rendre à Paris “si un tel voyage pouvait être utile.” [tr. 146-147] (Báo cáo số 383/AS, ngày 31/5/1963; CLV, SV, d. 91:144-147.

Về tới Pháp, Lalouette làm phiếu trình đặc biệt ngày 21/6/1963 lên Ngoại trưởng Couve de Murville. Không rõ Bộ Ngoại Giao Pháp có quyết định nào hay chăng.(58)

58. Tôi chưa được tham khảo nguyên bản tài liệu này. Những bước kế tiếp đầy những khoen nối thiếu sót. Có thể dự thảo của Lalouette đã lọt vào mắt de Gaulle, vì bỗng dưng hơn hai tháng sau, ngày 29/8/1963, de Gaulle đột ngột tuyên bố Pháp có trách nhiệm giúp dân tộc Việt thoát khỏi cảnh chia phân do ảnh hưởng ngoại cường. Rất tiếc trong hai lần gặp Maurice Couve de Murville tại Paris năm 1983, vì trọng tâm nghiên cứu của tôi là giai đoạn 1939-1946, nên không nêu lên vấn đề này với cựu Ngoại trưởng Pháp.

Trở lại Sài Gòn, Lalouette tiếp tục làm chim xanh cho Nhu và Hà Nội. Lalouette, phối hợp với các Đại sứ India, Italia và Vatican giới thiệu Nhu vớ Maneli.

Như để tiếp tay de Gaulle, ngày 29/8/1963, Mao Trạch Đông gặp phái đoàn đại diện MT/GPMN tại Bắc Kinh. Đây có thể chỉ là dấu ấn đóng lên MT/GPMN, biến cơ cấu ngoại vi của Đảng Lao Động Việt Nam thành một thực thể chính trị; nhưng cũng có thể hàm ý một thông điệp ngoại giao nào đó.

Qua Lalouette và một số nhà ngoại giao khác, tối 25/8/1963, Maneli gặp Nhu, mở đường cho cuộc gặp mặt chính thức tại Dinh Gia Long ngày 2/9/1963. Năm ngày sau, 30/8, Maneli lại tiết lộ kế hoạch “đi đêm” này với CIA. Lodge bèn tới gặp Lalouette. Lalouette khuyên Lodge nên làm việc với họ Ngô để thắng cuộc chiến, và còn đề nghị đưa Nhu lên làm Thủ tướng. Lalouette cũng nhận định rằng cuộc chiến tranh du kích sẽ sớm kết thúc trong vòng 1, 2 năm. Khi cuộc chiến du kích chấm dứt, chính là miền Nam, lúc ấy sẽ mạnh hơn miền Bắc, sẽ đề nghị hiệp thương, trao đổi gạo miền Nam lấy than miền Bắc. Điều này có thể dẫn tới việc thống nhất đất nước với miền Nam vượt thắng. Tuy nhiên, chuyện còn xa.(59)

59. “In a year or two the guerrilla danger might be ended. The Viet Cong are very discouraged and morale is very low in North Vietnam, concerning which he said he was well informed inasmuch as the French have a mission there. When the guerrilla war is ended, it might be for the South Vietnamese, who would be stronger than the North Vietnamese, to propose trading some of their rice for North Vietnamese coal. This might lead towards a unified Vietnam with South Vietnam the dominant element. But all of this was remote.” CĐ 384, Saigon, 30/8/1963, Lodge gửi Rusk; FRUS, 1961-1963, IV:58-59.

Hôm sau, Lodge thêm rằng Lalouette đã có mặt bên Nhu khoảng 4 tiếng đồng hồ trong cuộc “vét chùa.” Một nguồn tin đáng tin cậy còn cho Lodge biết là Lalouette muốn Mỹ triệt thoái khỏi miền Nam, và Pháp sẽ đứng ra dàn xếp giữa Bắc và Nam Việt Nam. . . . Nhu đang ở vào tình trạng bốc đồng và một vài cử chỉ với Bắc Việt qua Nhu chẳng phải là không thể xảy ra.(60).

60. Nguyên văn: “I am reliably informed that French Ambassador Lalouette was with Nhu for four hours on August 20 when the attack on the pagodas took place. I am also advised by a dependable source that he wants the US government out of Vietnam so that the French can become the intermediary between North and South Vietnam. . . . I am reliably advised that Nhu is in a highly volatile state of mind and that some sort of gesture through Nhu to North Vietnam is not impossible.” CĐ 391, 31/8/1963, Lodge to Rusk; CĐ 391, 31/8/1963, Lodge to Rusk; FRUS, 1961-1963, IV:67-68.

Ngày Thứ tư, 4/9/1963, Lodge báo cáo thêm rằng, trong buổi gặp mặt, Lalouette lập lại rằng Nhu có thể dàn xếp một thỏa hiệp với VC để ngừng chiến tranh. Khi Lodge hỏi với điều kiện nào [quid pro quo hay consideration trong luật khế ước], Lalouette đáp: “Triệt thoái một số lính Mỹ.” Lalouette còn nhấn mạnh rằng không có một giải pháp khác Diệm và Mỹ phải hợp tác với Diệm [Lalouette “reiterated that Nhu believed he could work out an arrangement with the VC whereby the guerrilla war would be ended. I asked what would be the quid pro quo, and he said: the withdrawal of some US troops.” Điều mà Lalouette muốn đặc biệt nhấn mạnh là niềm tin của ông ta chẳng có một giải pháp nào khác Diệm, và Mỹ phải làm việc với họ để chiến thắng [“particularly stressed was his belief there is no alternative to the Diem regime and that we must work with them as partners to win the war.”] (61)

61. CĐ 410, Saigon to Washington; JFKL, NSF, Country Vietnam, Vietnam State Cables; FRUS, 1961-1963, IV:111, n3.

Ngay ngày hôm sau, 5/9/1963, nhật báo New York Thời báo đăng bản tin của Robert Trumbull, tiết lộ rằng Lalouette muốn khuyến khích Lodge ngưng chỉ trích chế độ Diệm. Theo Trumbull, Lalouette được các Đại sứ Tây Đức, Italia và Khâm sứ Vatican yểm trợ. Giới ngoại giao cho rằng de Gaulle đã giữ Lalouette tại Sài Gòn lâu hơn lệ thường nhằm để chống lại Lodge, người bị cáo buộc là chống Pháp. Vẫn theo Trumbull, Lalouette đã khuyến khích Nhu liên lạc với miền Bắc, qua trung gian Maneli để thành lập một nước Việt Nam thống nhất, trung lập. Bài viết kết luận bằng câu: “Bà Ngô Đình Nhu đã tuyên bố trong tuần này là ông Lalouette là một Đại sứ khả kính [éminent] và bà ta chỉ trích Lodge.” Thông báo cho Lalouette bản tin báo nói trên,  Giám đốc Chính trị Vụ BNG Pháp chỉ thị:

“Tôi muốn lập lại với ông rằng chúng ta không hề có ý định can thiệp vào nội tình Việt Nam hay biến thành những nhà vô địch bên cạnh ông Nhu hay bà Nhu. Những công điện trước đây của tôi đã chỉ thị chính xác vấn đề này. Chúng ta cũng không muốn cố vấn cho ông Cabot-Lodge hay chịu trách nhiệm về việc ông ta làm hay không làm đối với gia đình Diệm. Cuối cùng, ví thử thống nhất là mục tiêu của chúng ta, chúng ta cũng không khuyến khích những cuộc tiếp xúc của ông Nhu với các sứ giả của miền Bắc.” (62)

62. CĐ 16957/63, Lucet gửi Lalouette; CLV, SV, d. 18:197-199.

Một chi tiết trong đoạn kế tiếp của Lucet khiến gợi nhiều tra vấn. Lucet viết:

Bài viết trên NYT xác nhận những tin đồn đã báo cáo lên chúng tôi từ Đại sứ Bri-tên (xem CĐ số 740). Nó theo đúng điều ông đã trình bày trong phiếu trình ngày 21/6 vừa qua và nó, trên mọi phư ơng diện, không thể là bản văn những chỉ thị mà ông nhận được.

Trong mọi điều kiện, làm ơn, sau khi nhận được công điện này, báo cáo cho tôi bằng công điện những gì là sự thực trong bản tin của ký giả Mỹ và cho tôi biết một cách hoàn toàn chính xác về thái độ mà họ nói về ông (63)

63. Cet article du New York Times confirme les rumeurs que nous avait rapportés l’Ambassade de Grande Bretagne (mon télégr. no 740). Il suit aussi les lignes d’une note que vous avez rédigée à Paris le 21 juin dernier et qui ne peut en aucune facon être considérée comme le texte d’instructions que vous avez recues. Dans ces conditions, veuillez, dès réception, m’indiquer par télégramme ce qu’il peut y avoir de vrai dans l’article du journaliste américain et me donner toute précision sur l’attitude que l’on vous prête. Diplomatie, p.o., Lucet;” .CĐ 16957/63, Lucet gửi Lalouette; CLV, SV, d. 18:199.

Hôm sau, BNG Pháp cho hãng tin AP cải chính rằng Lalouette không hề dính líu vào nội tình chính trị Việt Nam. Hơn nữa, lời tuyên bố ngày 29/8 của de Gaulle là lời phủ nhận rõ ràng nhất những chi tiết trong bài viết của Trumbull. Kế hoạch “con thoi” giữa Hà Nội và Sài Gòn của Lalouette bị chấm dứt ngày này.

Riêng báo cáo của Lalouette về buổi gặp mặt Diệm ngày 2/9/1963, chẳng hiểu có gây phản ứng nào tại Quai d’Orsay? Trong buổi họp kéo dài 3 giờ do Diệm yêu cầu này, theo Lalouette, Diệm có vẻ bình tĩnh hơn thường lệ. Lalouette trao cho Diệm bản tuyên ngôn của de Gaulle. Diệm nói về liên hệ với Mỹ, và có lúc đổi sắc mặt nói: “Người ta nói về một cuộc đảo chính. Người ta nói với tôi rằng mạng sống tôi đang nguy hiểm. Thật không thể chấp nhận được rằng người ta có thể đối xử như thế với một chính phủ bạn.” [On parle d’un projet de coup de force. On me dit que ma vie serait en jeu. Il est inconcevable qu’on puisse recourir à de tels agissements contre le gouvernement d’un pays ami]. Tuy nhiên, Diệm thêm rằng hiện tại tình hình tạm lắng dịu. Tổng thống Mỹ, do sự khuyến khích của Đại sứ Lodge, đã khôn ngoan không bật đèn xanh. Đó là chiều hướng ôn hòa của lời tuyên bố trong cuộc họp báo ngày 2/9. (64)

64.  CLV, SV, d. 18. Theo Lalouette, khi giải thích về những biến động Phật Giáo, Diệm cho rằng tình hình nghiêm trọng vì các sư trẻ thay thế những nhà sư lớn tuổi, khả kính cũ từ năm 1962. Theo Diệm, Nam Việt Nam có 3000 tăng, 600 ni, 1 triệu tín đồ thuộc Tổng Hội Phật Giáo và 3 triệu cảm tình viên. Nhu thế Phật tử chỉ chiếm tối đa 28% dân số. Mặc dù có người bị thương, nhưng không ai bị chết trong cuộc tấn công chùa chiền. Chính phủ phải đương đầu từ hạ tuần tháng 7/1963 một kế hoạch xách động chính trị có phối hợp nhịp nhàng sử dụng mọi phương tiện để chống lại chính phủ, và chính phủ phải phản ứng.

Ngày 10/9/1963, đúng ngày Lalouette nhận lệnh triệu hồi, Lalouette gửi về Paris báo cáo chót về buổi gặp mặt với Lodge. Lodge nói với Lalouette là chính phủ Mỹ chưa có quyết định nào về khủng hoảng bang giao Việt-Mỹ. Lodge như người đi trong sương mù [Il se trouvait lui-même, m’a-t-il dit, en plein brouillard]. Buổi gặp mặt giữa Diệm và Lodge ngày 9/9/1963 “chưa chín mùi”  vì ông ta không có gì để nói nữa [prématuré puisque de son cote, il n’avait rien plus dire].” Lodge sợ rằng Quốc Hội Mỹ sẽ đặt vấn đề viện trợ với chế độ Diệm. Lodge hy vọng rằng khó khăn sẽ vượt qua vì Tổng thống Kennedy mới tuyên bố là “Liên bang Mỹ đã quyết định ở lại Việt Nam nếu nước này tiếp tục chống sự tấn công của Cộng Sản [les Etats Unis sont décidés à rester au Vietnam tant qu’il faudra lutter contre l’offensive communiste]. Với hiện trạng cần thận trọng khi phán định. (CLV, SV, d. 18:111)/span>

2. Kế hoạch trung lập hóa Việt Nam:

Ngày 29/8—giữa lúc Bạch Cung chấp thuận cho các Tướng làm đảo chính, với mục tiêu tối thiểu là loại bỏ Cố vấn Nhu—Bộ trưởng thông tin Pháp Peyrefitte đột ngột công bố quyết định của de Gaulle về Việt Nam trong một buổi họp Hội đồng chính phủ tại Paris: Đó là dân tộc Việt Nam xứng đáng được sống trong hòa bình, độc lập, thoát khỏi sự can thiệp của ngoại bang. Do những liên hệ của Pháp với Việt Nam bấy lâu, chính phủ Pháp sẽ vận dụng hết khả năng để thực hiện mục tiêu này.(65)

65. Nguyên văn: Les graves événements qui se déroulent au Vietnam sont suivis à Paris avec attention et avec émotion. L’oeuvre que la France se naguère accomplie en Cochinchine, en Annam et au Tonkin, les attaches qu’elle a gardées dans l‘ensemble du pays, l’intérêt qu’elle porte à son développement, l’amènent à comprendre particulièrement bien et à partager sincèrement les épreuves du peuple vietnamien.

D’autre part, la connaissance que la France a de la valeur de ce peuple lui fait discerner quel rôle il serait capable de jouer dans la situation actuelle de l’Asie pour son propre progrès et au bénéfice de la compréhension internationale dès lors qu’il pourrait déployer son activité dans l’indépendance vis-à-vis de l’extérieur, la paix et l’unité intérieures, la souhaite au Vietnam entier.

Il apparait naturellement à son peuple, et à lui seul, de choisir les moyens d’y parvenir. Mais tout effort national qui serait accompli au Vietnam trouverait la France prête, dans la mesure de ses propres possibilités, à organiser avec ce pays une cordiale coopération.” CLV, SV, 18:156; Le Figaro [Paris), 30/8/1963.

Ngày 30/8, báo chí Mỹ phản ứng giận dữNhiều báo cho rằng de Gaulle muốn can thiệp vào Việt Nam, loại bỏ ảnh hưởng Mỹ. Bộ Ngoại Giao Mỹ phải yêu cầu Đại sứ Pháp tại Oat-shinh-tân giải thích rõ lập trường của de Gaulle. Alphand được yêu cầu phải giải thích lời tuyên bố của de Gaulle chỉ là một viễn kiến cho tương lai.

Nhưng báo chí Việt trong hai ngày 30 và 31/8  nồng nhiệt tán thưởng đề nghị của de Gaulle. Theo Quyền Ngoại trưởng Trương Công Cừu, bản tuyên bố này được cứu xét trong phiên họp Hội đồng chính phủ và đi đến quyết định cho in nguyên văn bản dịch tin này trên trang nhất bản tin Thông Tấn Xã Việt Nam. Bản tin VTX chỉ bỏ đi câu trả lời của Peyrefitte với phóng viên hãng Reuter rằng “Elle signifie que nous donnons un rendez-vous à l’avenir.” [Điều này có nghĩa chúng tôi có một cuộc hẹn gặp trong tương lai]. Các giới chức chính phủ, theo Cừu nói với Lalouette, hiểu tất cả ý nghĩa lời tuyên bố của de Gaulle, và giữa lúc cuộc khủng hoảng đang diễn ra ở Việt Nam, lời tuyên bố của de Gaulle được một sự cộng hưởng đặc biệt [la portée de la déclaration qui, dans la crise que traverse présentement le Vietnam, avait une résonnance particulière.] VTX viết: “Trên bình diệﮠchính thức, không có gì chứng tỏ rằng lời tuyên bố trên làm phiền đến Tổng thống Kennedy” [que, sur le plan officiel, rien ne permet de justifier l’interprétation d’après laquelle cette déclaration pourrait être ‘une nouvelle facon d’ennuyer le Président Kennedy’]. Lalouette kết luận: “Quelque soit l’issue de la crise actuelle la sémence est jetée, elle germera.” [Dù cuộc khủng hoảng hiện tại này ra sao, việc gieo mầm đã bắt đầu, nó sẽ nẩy mầm(66)

66. CĐ số 733-735, Lalouette gửi BNG, ngày 31/8/1963; CLV, SV, 18:46-47.

Tại Paris, ngày 2/9/1963, Đại sứ Phạm Khắc Hy xin tiếp kiến Ngoại trưởng Couve de Murville, yêu cầu Ngoại trưởng Pháp giải thích thêm về lời tuyên bố của de Gaulle trong buổi họp Hội đồng Tổng trưởng ngày 29/8/1963. De Murville khẳng định Pháp chỉ có quyền lợi kinh tế văn hóa ở Nam Việt Nam, và đứng ngoài vấn đề chính trị [Quant à la politique, [France] s’abstient d’en faire]. Khi thông báo tin này cho Đại sứ Lalouette, Murville chỉ thị: “Trong hoàn cảnh hiện tại, thái độ chờ đợi và không can thiệp phải được triệt để thi hành ở Sài Gòn cũng như Paris.“[Dans les circonstances présentes une attitude d’expective et de non ingérence s’impose pour nous à Saigon comme à Paris.”] (67)<