curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

Diễn đàn mở rộng của nhóm chủ trương Giao Điểm

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

..........

      03_gd09.JPG (8261 bytes)

    Tôn giáo: vấn đề của thời đại:

 blue_dot.gif (122 bytes) Darwin và thuyết Tiến hóa Trần Chung Ngọc

 blue_dot.gif (122 bytes) Thư của Charlie Nguyễn trả lời nhóm Thánh Gia

 blue_dot.gif (122 bytes) đạo Hồi: đức tin của chiến tranh và bạo lực Charlie Nguyễn

 blue_dot.gif (122 bytes) Hội thừa sai và chính sách đế quốc tại VN... P. JN. Tuck Uỷ ban đoàn kết Công giáo

 blue_dot.gif (122 bytes) Hồ sơ tội ác của Hội thừa sai Pari và Giáo hội CGVN  Charlie Nguyễn 

 blue_dot.gif (122 bytes) Nguyễn Văn Trung: kẻ ám sát tôn giáo   Trần nghi Hoàng

 blue_dot.gif (122 bytes) Những điều răn đã mất giá trị  Nguyễn Ái Thư dịch new_03.gif (2954 bytes)

  blue_dot.gif (122 bytes) Hiện tượng ‘Nguyễn huệ Nhật” Trần Chung Ngọc new_03.gif (2954 bytes)

  Vấn đề lịch sử - hư cấu tiểu thuyết và sự ngộ nhận của tri thức:

 blue_dot.gif (122 bytes) Giáo sĩ    Trần Vũ

 blue_dot.gif (122 bytes) Phản ứng qua bài “Giáo sĩ’ và trả lời của tác giả

 blue_dot.gif (122 bytes) Lịch sử trong tiểu thuyết - một tuỳ tiện ý thức   Trần Vũ 

  40 năm nhìn lại - PG 63:

 blue_dot.gif (122 bytes) Cuộc chơi hơn nủa đời người  Hoàng Nguyên Nhuận

     đặc biệt của Chính Đạo:

 blue_dot.gif (122 bytes) “Phiến Cộng” trong dinh Gia Long (phần I)

 blue_dot.gif (122 bytes) Những thế lực chi phối bên ngoài (phần II)

 blue_dot.gif (122 bytes) Sự điên rồ của tập thể gia đình cai trị và Kết từ 

  Câu chuyện thời sự trong tháng 9:

 blue_dot.gif (122 bytes) Tay vấy máu?  Nicolas Kristof

 blue_dot.gif (122 bytes) Giải phóng bắng hình ảnh Nguyễn Văn

 blue_dot.gif (122 bytes) Bóng ma của Uday and Qusay        Robert Fisk 

 blue_dot.gif (122 bytes) Giới thiệu sách mới: “VN: Spirit of the Earth”

 blue_dot.gif (122 bytes) Tín vắn đó đây

 blue_dot.gif (122 bytes) Chính quyền Bush và Iraq   TCN

     Bạn đọc góp ý:

 blue_dot.gif (122 bytes) Thư góp ý pháp lệnh tôn giáo  Học Hội Giêsu giáo

08_gdmau.jpg (3664 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
whiteball.gif (923 bytes)    Trang nghiên cứu đối thoại quý ba tháng 9-2003    whiteball.gif (923 bytes)

  

III. “SỰ ĐIÊN RỒ TẬP THỂ CỦA MỘT GIA ĐÌNH CAI TRỊ”

Ngày 11/9/1963, trong buổi họp Ban Tham Mưu Bạch Cung, sau khi bàn về công điện số 478 của Lodge về hiện tình Nam Việt Nam và bài “On Suppressing the News Instead of the Nhus” [Về việc cắt bỏ tin tức thay vì vợ chồng Nhu] trên New York Thời Báo của James Reston, Cố vấn An Ninh Quốc Gia Mỹ, McGeorge Bundy, được Michael Forrestal cho biết Ngô Đình Thục đã rời Roma qua New York để  dàn xếp cho Lệ Xuân sang Mỹ “giải độc.” Trong một cơn nóng giận, Bundy buột miệng:

Đây là lần đầu tiên thế giới phải đối diện với “sự điên rồ tập thể của một gia đình cai trị” chưa hề thấy sau thời các Nga hoàng.(73)

73. Nguyên văn:This was the first time the world had been faced with collective madness in a ruling family since the day of the tsars;” FRUS, 1961-1963, IV:175. Thục, do áp lực của Khâm sứ d’Asta và Cabot-Lodge, đã phải rời Sài Gòn qua Roma cùng Giám mục Picquet bốn ngày trước (7/9). Có lẽ chẳng vui vẻ gì, Thục tuyên bố ở Roma rằng CIA Mỹ đang bỏ ra 20 triệu Mỹ Kim để âm mưu đảo chính vào ngày 21/9 sắp tới. Thục còn khẳng định các sư không tự thiêu mà bị giết bằng búa. Chẳng hiểu vì những lời tuyên bố này, hay lý do nào đó, Giáo Hoàng Paul VI hủy bỏ buổi triều kiến dự trù, mà cũng chẳng đề cập gì đến việc thăng cấp Hồng Y. Vì mãi cuối tháng đó Công đồng Vatican II mới tái nhóm, nên ngày 11/9, Thục qua New York để vận động cho Lệ Xuân vào Mỹ đòi hỏi “công lý,” như ông Diệm nói với Lodge.

Thực ra, McGeorge Bundy chưa nghiên cứu kỹ tiểu sử Diệm và họ Ngô, nên cho rằng gia đình Diệm đang điên rồ tập thể. Lời phê bình, một tuần sau của Alsop, rằng anh em họ Ngô không còn biết lý lẽ cũng quá phiến diện.

Lý lẽ của họ Ngô, nếu có sự hiểu biết về gia đình này, rất dễ hiểu ở Việt Nam. Đó là không ăn được thì đạp đổ. Năm 1907, Ngô Đình Khả và Nguyễn Hữu Bài, với sự tiếp tay của Hội truyền giáo, đã cáo buộc Toàn quyền Paul Beau là “tru diệt Ki-tô giáo” khi truất phế vua Thành Thái. Những tháng cuối năm 1933, sau khi “từ chức” Thượng thư Bộ Lại, Diệm và họ Ngô từng mở chiến dịch bôi nhọ Pierre Pasquier và kế hoạch đại cải cách của Sarraut-Pasquier khiến Pasquier phải truất cả chức tước, phẩm hàm của Diệm và cha đỡ đầu là Nguyễn Hữu Bài, đầy ra Quảng Bình. (74)

74. Xem Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn, 1883-1945, 3 tập [Houston: Văn Hóa, 1999-2000], II:582-585; FRUS, 1961-1963, III:808)

Anh em họ Ngô, sau buổi họp gia đình vào cuối tháng 6/1963, có lẽ đã quyết định theo đuổi chính sách “ăn không được thì đạp đổ” này. Không những thẳng tay đàn áp Phật Giáo, họ Ngô còn dùng báo chí trong nước, kể cả nhật báo Times of Vietnam bằng Anh ngữ ở Sài Gòn, và vài ký giả ngoại quốc chịu ảnh hưởng hay có cảm tình với họ Ngô. Margueritte Higgins chỉ là một trong số này. Không kém hiệu lực là Tổng Giám mục Thục và Lệ Xuân. Thục có tước vị Tổng Giám Mục Ki-tô. Lệ Xuân thì có nhan sắc, và miệng lưỡi của những người sinh hoạt thường xuyên tại chợ Đồng Xuân hay Cầu Ông Lãnh, Khánh Hội. Nghệ thuật “tinh tinh” của Lệ Xuân đã được tinh luyện qua những lần gọi điện thoại chửi bới Trần Văn Đỗ khi Đỗ nghiêng về phía Bình Xuyên, hay những Dân biểu VNCH dám chống lại dự thảo Luật Gia Đình. Mùa Thu 1963, sau khi bị đuổi khỏi nước, Lệ Xuân chỉ trích cả Kennedy hay các viên chức MỹﮠNhu cũng cùng đi một chuyến đò. Nhưng vì còn e sợ người Mỹ, Nhu chỉ cho tung tin có âm mưu ám sát Lodge mà không dám dùng những lời đe dọa công khai (như “treo cổ” cha vợ (Trần Văn Chương) tại bùng binh Sài Gòn, để Lệ Xuân hớn hở “xiết chặt giây thòng lọng.” Người thay Nhu làm việc này với cả hai vợ chồng Chương năm 1986 là Trần Văn Khiêm, em trai Lệ Xuân) Diệm cũng vậy. Ẩn dấu phía sau bề ngoài “đạo đức Khổng học” là một tâm hồn bệnh hoạn (psychopath), vui buồn bất chợt (maniac). Người Việt chưa quên những ngón nghề tra tấn như dùng nến đốt hậu môn nghi can Cộng Sản của tri huyện, tri phủ Diệm ngày nào—những trò tra tấn giúp Tể tướng Bài cho Diệm thăng quan, tiến chức không ngừng từ 1921 tới 1933; nhưng cũng đồng thời, nếu tin được lời Thục viết cho Toàn quyền Decoux ngày 21/8/1944, khiến Cộng Sản phải thuê một sát thủ người Hoa ra tận Phan Rang trừ khử đi, nhưng Diệm chỉ may mắn bị thương.(75)

75. Xem thư ngày 21/8/1944, Thục gửi Decoux; CAOM (Aix), PA 14, carton 2.

Trong những năm cầm quyền ở miền Nam, nhiều đêm Diệm bất thần gọi các Bộ trưởng, Tướng lãnh vào Dinh Độc Lập hay Gia Long, bắt thức thâu đêm suốt sáng.(76)

76. Phỏng vấn cố ký giả Như Phong Lê Văn Tiến (Houston, 1998-1999).

IV. KẾT TỪ:

Hành động “ve vãn” [flirtation] Cộng  Sản của anh em Diệm-Nhu—và như thế phản bội lại đa số dân chúng miền Nam—chỉ được đồn đãi từ năm 1962 ở Sài Gòn, và được bạch hóa sau ngày các Tướng làm đảo chính giết chết họ Ngô năm 1963. Yếu tố “phiến Cọng” này mới thực sự mang lại sự sụp đổ của Đệ Nhất Cộng Hòa (1956-1963), mà không phải cuộc tranh đấu của Phật Giáo, hay cái gọi là “bảo vệ chủ quyền quốc gia,” “quốc thể,” “nền độc lập” như nhiều người tưởng nghĩ.

Trong công điện gửi về Oat-shinh-tân ngày 31/8/1963 để báo tin hoãn lại cuộc đảo chính dự trù vào ngày 1/9/1963, Đại sứ Lodge ghi thêm chi tiết  Cố vấn Nhu đang bí mật tiếp xúc với Cộng Sản Bắc Việt qua trung gian hai đại sứ Pháp và Poland [Ba Lan], vì hai chính phủ này muốn một giải pháp Việt Nam trung lập. Ngay trong ngày 31/8, Hội Đồng ANQG Mỹ đã thảo luận về việc này. Hilsman tuyên bố đã có trong tay một công điện chứng tỏ Nhu liên lạc với Việt Cộng qua trung gian Pháp, và đang vận động trục xuất các cố vấn cấp tỉnh. Cựu Đại sứ Nolting, có mặt trong buổi họp, bào chữa cho Nhu là Nhu sẽ không chịu chấp nhận mọi điều kiện của Hồ Chí Minh. (US-Vietnam Relations, Bk 12:542) Tuy nhiên, hột xúc xắc đã được gieo xuống.

Cơ sở thành lập chế độ miền Nam sau Hiệp định Geneva (20-21/7/1954) là lập trường chống Cộng. Sở dĩ người Mỹ đổ bao tiền của, vũ khí và nhân vật lực vào miền Nam từ năm 1954 cũng chỉ nhằm mục tiêu chiến lược duy trì miền Nam như “một tiền đồn chống Cộng của thế giới tự do.” Bởi thế, họ Ngô được toàn quyền Tố Cọng, Diệt Cọng, bắt giữ hàng ngàn người tình nghi. Chỉ cần liên hệ hay phổ biến tài liệu Cộng Sản đã là một hình tội, được qui định rõ ràng trong luật pháp cũng như sinh hoạt hàng ngày ở miền Nam. Chính quyền Ngô Đình Diệm ngày đêm ra rả lập trường chống Cộng. Viên chức chế độ mang còng sắt, súng đạn và máy chém đến khắp hang cùng ngõ hẻm, làng xóm, thôn bản phía Nam vĩ tuyến 17 để tiêu diệt “phiến Cọng”—tội danh chính thức của các cán bộ Cộng Sản hoặc những người tình nghi dưới chế độ Diệm. Các trại “cải huấn” chật ních những cán bộ Cộng Sản, kể cả những cán bộ cao cấp của tổ chức trí vận Sài Gòn-Gia Định như Dược sĩ Phạm Thị Yên, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Bùi Thị Nga (vợ Huỳnh Tấn Phát, Tổng thư ký MT/GPMN), v.. v...

Nhưng ai ngờ  chính anh em Diệm-Nhu, người đang được Mỹ ủng hộ và trao phó trách nhiệm chống và Diệt Cọng, từ đầu năm 1963 đã trở thành, âm mưu trở thành, hoặc bị Mỹ tình nghi là, “phiến Cọng” nằm vùng hàng đầu trong Dinh Gia Long—và như thế đáng bị tử hình theo Sắc Luật 10/59 do chính Diệm ban hành.(77)

77. Ngày 21/8/1956, Diệm ra Sắc Luật 47, lên án tử hình những hành vi phá rối trị an có liên hệ với Cộng Sản. Ngày 6/5/1959, Diệm ban hành Luật 10/59 nhằm diệt Cộng và thiết lập tòa án quân sự lưu động để xét xử cán bộ Việt Cộng. Toà Mặt Trận này có quyền chung thẩm; dùng Dụ số 47 năm 1956 để trừng trị Việt Cộng. Một trong những “phiến Cọng” nằm vùng nổi danh là “Cố vấn chính trị” Vũ Ngọc Nhạ, trưởng cụm tình báo A-22. Theo một tài liệu Cộng Sản, cán bộ nằm vùng khác là “Bảy Hồng,” một linh mục mỗi tuần thường làm lễ trong Dinh Độc Lập, và thân cận với họ Ngô.

Thực khó kết luận thực chăng Nhu muốn bắt tay với Hà Nội, hay chỉ muốn đánh một canh bạc với Mỹ. Ngày 30/9/1963, Phụ tá đặc biệt Thứ trưởng đặc trách Chính trị vụ BNG là Sullivan báo cáo rằng XLTV Đại sứ Pháp, Canada và India đều tỏ ý nghi ngờ về thực chất của những tin đồn quanh mối giao dịch Hồ-Diệm. Tuy nhiên, tất cả nhấn mạnh rằng mối giao dịch đó có thể xảy ra trong tương lai. XLTV Đại sứ Pháp [Perruche] cho rằng có thể xảy ra trong vòng ba, bốn tháng. [All of them were inclined to doubt that there was much substance in current rumors about a Nhu-Ho deal. However, all of them insisted that we should not discount the possibility of such a deal in the future. The French Chargé said “three or four months.](FRUS, 1961-1963, IV:325-326) Tất cả cảm thấy rằng miền Bắc đang bị suy thoái về kinh tế và biết rằng Việt Cộng đang thua trận tại miền Nam. Vì thế miền Bắc sẽ thương thuyết một hiệp ước ngưng bắn để đổi lấy hai điều kiện: hiệp thương Nam-Bắc và việc triệt thoái quân Mỹ. [Their reasoning was similar. All of them felt that the North was hurting very badly economically and was aware that the Viet Cong was losing the battle in the South. They therefore conclude that, in return for two stipulations, the North would be willing to negotiate a cease-fire agreement with the South. These two stipulations are: North-South trade and the departure of US forces].(Ibid.) Một yếu tố nữa là áp lực của Trung Cộng. Nếu Mỹ rút khỏi miền Nam, Trung Cộng sẽ giảm bớt áp lực và cho Hà Nội được nhiều quyền tự trị hơn [An additional factor was the Chinese pressure. If US forces could be removed from Vietnam, the Chinese might ease somewhat their pressure on Hanoi and grant them a greater measure of autonomy]. Phần Nhu có thể muốn hoàn tất cuộc đổi chác này vì hai lý do: Trước hết, sự tự tin thái quá về khả năng “đả bại Cộng Sản ngay trong chiếu bạc của họ;” và, thứ hai, “ý muốn loại bỏ người Mỹ” [Brother Nhu might be willing to make such a deal for two reasons: First, his supreme confidence in being able to “beat the Communists at their own game;” and second, his desire to get rid of the Americans]. (Ibid.)

Robert McNamara và Tướng Maxwell D. Taylor, Tổng Tham Mưu trưởng Liên Quân Mỹ—những người không muốn thay ngựa—cũng chẳng dấu nổi khó chịu về sự “trở cờ” của Nhu. Trong báo cáo ngày 2/10/1963 đệ trình lên Kennedy sau khi tham quan Việt Nam, McNamara và Taylor nhận xét:

Một khía cạnh gây khó chịu khác nữa là việc Nhu đang ve vãn ý đồ thương thuyết với Bắc Việt, dù ông ta có thực tâm hay chăng. Điều này gây bối rối cho những người Việt có trách nhiệm và, trên căn bản, tạo sự lo ngại rằng có thể không có sự đồng nhất với các mục đích của Liên Bang Mỹ. (78)

78. US-Vietnam Relations, Bk 12:594. Hơn ba thập niên sau, năm 1995, McNamara viết trong hồi ký In Retrospect (1995:51) như sau: “Đầu mùa Hè [1963], chúng tôi đư ợc tin Diệm, qua em trai Nhu, đã bí mật móc nối với Hà Nội. De Gaulle, rất muốn tái lập ảnh hưởng Pháp ở Đông Dương, cũng được thông báo từ Bắc và Nam Việt Nam nguồn tin này, thấy đây là một cơ hội. Ông ta lập tức kêu gọi thống nhất và trung lập hóa Việt Nam. Chúng tôi không rõ đây là sự thực hay chỉ lời đồn, và chúng tôi tự hỏi phải chăng Diệm đang định bắt chẹt [blackmail] chúng tôi để làm giảm áp lực việc ông ta đàn áp thô bạo những phần tử chống đối.”. Nguồn tin McNamara nhắc đến trong hồi ký là công điện ngày 2/9/1963 của Sở CIA Sài Gòn về buổi nói chuyện với một mật báo viên vẫn còn dấu tên vào tối ngày 30/8/1963; FRUS, 1961-1963, IV:89-90.

Trong công điện gửi lên TT Lyndon B. Johnson ngày 1/1/1964, Lodge cho rằng Kennedy chưa được ca ngợi đúng mức về việc ngăn chặn khuynh hướng tàn hại ở Việt Nam: Nếu trong mùa Hè và Thu 1963, Kennedy không kịp thời ngăn chặn, tình thế ở miền Nam đã dẫn đến đại họa. (FRUS, 1964-1968, I:1-2)

Lời chứng của Lodge trước Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện ngày 30/6/1964, còn đi thẳng vào vấn đề hơn:

“Mùa Thu [1963] vừa rồi, nếu chính phủ Diệm không bị dứt điểm và tồn tại thêm khoảng một tháng nữa, tôi nghĩ chúng ta đã thấy Cộng Sản cướp chính quyền. Tôi nghĩ yếu tố này rất quan trọng.” (79)

79. Nguyên văn: "Last fall, if the Diem government hadn't come to an end and had gone on for another month, I think we might have had a Communist takeover. I think that it had become that important." Dẫn trong Gibbons 1993, II:204.

Lodge, tưởng cần nhấn mạnh, được Kennedy giao cho đặc quyền hành xử ở Sài Gòn. Bởi thế, dù Lodge có bất mãn về những trò khiêu khích của vợ chồng Nhu hay chăng, việc ve vãn Cộng Sản của Nhu—giống như hành động của Raymond Khánh vào cuối năm 1964, đầu năm 1965—là chiếc đinh cuối cùng đóng lên nắp quan tài chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa.

Những lời cáo buộc các Tướng lãnh cầm đầu cuộc đảo chính 1/11/1963 là “sát nhân” mà Lệ Xuân rên rỉ, hay âm thầm nguyền rủa trong vùng bóng tối lạnh lẽo của kiếp sống lưu vong tại Paris, chỉ là dư hưởng của “cơn điên cuồng tập thể của một gia đình cai trị” đã bị ném xuống mặt đất sau cuộc tế lễ “chống Cộng.” Hai viên đạn bắn vào gáy Diệm-Nhu, cuộc hành hình Cẩn vào tháng 5/1964, hay cảnh chết già trong điên loạn, bị rút phép thông công  của Tổng Giám mục Thục hai mươi năm sau ở Missouri—dù có khiến trạnh lòng trắc ẩn của người Việt, một dân tộc đầy lòng độ lượng và khoan hồng—nhưng chính thực là những bản án xứng đáng cho tội bội phản và âm mưu bội phản của họ Ngô.

Houston, 12/8/2003

CHÍNH ĐẠO

Mark_03.gif (833 bytes) Go to top page

half_under_water_sw.gif (3365 bytes)

Home  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net