curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

Diễn đàn mở rộng của nhóm chủ trương Giao Điểm

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

..........

      03_gd10.GIF (962 bytes)

     Tôn giáo: vấn đề của thời đại:
Mark_03.gif (833 bytes) Trở lại vấn đề: A. de Rhodes và chữ quốc ngữ Charlie Nguyễn
Mark_03.gif (833 bytes) Phật & Giêsu  Trần Chung Ngọc
Mark_03.gif (833 bytes) Những lời châu ngọc về Thánh kinh (TCN dịch) Robert G. Ingersoll
Mark_03.gif (833 bytes) Thùa sai Công giáo Pháp và chính sách đế quốc tại VN  (II) Patrick Tuck
Mark_03.gif (833 bytes) Vài nhận xét về “Thư góp ý Pháp lệnh tôn giáo” của ông PĐD CN
Mark_03.gif (833 bytes) Vài nét Phật học trong tư tưởng Kant Thái Kim Lan
Mark_03.gif (833 bytes) Tạp ghi tháng Mười  Nguyễn văn Hóa
 
    PG 63 - 40 năm nhìn lại:
Mark_03.gif (833 bytes) Giới thiệu “Tuyển tập 1963-2003: 40 năm nhìn lại” của nhiều tác giả
 
  Hồ sơ đàn áp PG trước năm 1963:
Mark_03.gif (833 bytes) phần I: Lời giới thiệu | Sa môn T. Mãn Giác
Mark_03.gif (833 bytes) phần II: Dẫn nhập
Mark_03.gif (833 bytes) phần III: hồ sơ đàn áp Tỉnh hội PG Phú Yên
Mark_03.gif (833 bytes) phần IV: hồ sơ đàn áp Tỉnh hội PG Bình Định
Mark_03.gif (833 bytes) phần V: hồ sơ đàn áp Tỉnh hội PG Quảng  Ngãi
 
   Đặc biệt của CĐ. : “Lược sử Ngô Đình Diệm”
Mark_03.gif (833 bytes) phần I: Diệm với Nhật, Pháp và Việt Minh
Mark_03.gif (833 bytes) phần II: Diệm - Bảo Đại: “thành phần thứ ba”
Mark_03.gif (833 bytes) phần III: Thủ tướng toàn quyền (1954-1955)
 
     Văn học – sáng tác:
Mark_03.gif (833 bytes) Hiệp hội Tương tế Bắc Việt nghĩa trang Trần Vũ
Mark_03.gif (833 bytes) Đọc “Phồn Hoa Kinh’ của Hoàng Nguyên Nhuận  Nguyễn Văn
Mark_03.gif (833 bytes) Nguyễn Đình Thi trong tôi... ngoài tôi Hoàng Cầm
Mark_03.gif (833 bytes) Hoa Sứ chùa Già Lam Thái Kim Lan
 
   Câu chuyện thời sự tháng Mười:
Mark_03.gif (833 bytes) Tin ngắn Giao Điểm
Mark_03.gif (833 bytes) Chính quyền Bush thất bại mọi mặt Hoài Việt
Mark_03.gif (833 bytes) Vi khuẩn Jihad tấn công Pentagon (Pep Escobar) NV
Mark_03.gif (833 bytes) Chiến tranh trên sự thật (John Pilger)
Mark_03.gif (833 bytes) Hồ sơ cá nhân (Ignacio Ramonet)
Mark_03.gif (833 bytes) Ổ diều hâu ở Bộ ngoại giao (Jim Lobe)
08_gdmau.jpg (3664 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
whiteball.gif (923 bytes)  Trang nghiên cứu đối thoại quý bốn tháng 10-2003 whiteball.gif (923 bytes)
 
 
THỪA SAI CÔNG GIÁO PHÁP
CÁC CHÍNH SÁCH CỦA ĐẾ QUỐC TẠI VIỆT NAM
1857 – 1914
Patrick J.N.Tuck
 
MỘT BỘ SƯU TẬP TƯ LIỆU
(LIVERPOOL UNIVERSITY PRESS, 1987)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
UBDKCGYNVN
TP. HỒ CHÍ MINH 1989

Vài lời của Giao Điểm: Giáo sư Patrick J.N. Tuck là một nhà nghiên cứu, giáo sư sử học tại đại học Liverpool, Anh quốc. Ngoài tác phẩm lịch sử “Thừa sai Công giáo Pháp và các chính sách của đế quốc tại VN 1857-1914” (The French Catholic Missionaries and the Politics of Imperialism in VN 1857-1914) đã được Uỷ Ban Đoàn Kết Công giáo Yêu nước VN dịch và xuất bản năm 1989 mà chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu trên mạng lưới GĐ, ông còn xuất bản các tác phẩm khác liên quan đến vai trò của Thiên Chúa giáo La mã kết hợp với thế lực đế quốc trong chính sách xâm lăng Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng như :

- The French Wolf and the Siamese Lamb - The French Threat to Siamese Independence 1857-1907, nxb White Lotus 1995

- The East India Company 1600-1858, nxb Routledge 1998

- Britain and the China Trade 1635-1842, nxb Routledge 2000 v.v...

Giáo sư Tuck hiện là Giám đốc Ban Nghiên cứu Lịch sử Hiện đại và Chính trị thuộc đại học Liverpool, thủ đô Luân Đôn, nước Anh. Ông đã từng được giải Viện trưởng, tuyên dương là giáo sư giảng dạy xuất sắc năm 1996. Chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu bản dịch Việt ngữ của tác phẩm trên từng kỳ, và sẽ có phần điểm sách và giới thiệu các công trình liên hệ của giáo sư Patrick J.N. Tuck đến quý độc giả Việt trong và ngoài nước. Trong tháng 10 (2003) này chúng tôi đăng tiếp phần II theo mục lục tự sắp xếp cho phù hợp với trang web, riêng các Phần tài liệu đọc thêm sẽ được giới thiệu trong phần cuối cùng.

Địa chỉ @ liên lạc với giáo sư  Tuck: pj630@liverpool.ac.uk

Phụ trách web GĐ, nvh.

PHẦN II:
SỰ CAN THIỆP CỦA PHÁP VÀO VIỆT NAM

A. NHỮNG CUỘC BÁCH HẠI TỪ PHÍA VIỆT NAM

            Việt bách hại Kitô giáo ở Việt Nam không hề bị thúc đẩy bởi những vấn đề thuần tuý siêu hình. Người Việt Nam vẫn có một truyền thống khác thường, là cho phép lựa chọn tôn giáo. Và chấp nhận rộng rãi các tín ngưỡng khác. Sự thờ phượng phổ biến vẫn là thờ cúng tổ tiên và việc này dễ dàng kết hợp với sự tin tưởng của người việt vào các vị trí thần hoàng, thần chủ của làng hay của một thị trấn. Một niềm tin tôn giáo khác có tầm kích xa hơn, là việc tìm kiếm theo lương tâm những phương cách để hoà đồng hoạt động của con người với ý trời. Những người theo Khổng giáo, trung thành với một hệ thống đạo lý đặt nặng trách nhiệm của cá nhân đối với gia đình và làng xã, cũng như đối với các nhà cầm quyền chính trị đã được thiết lập. Nói chung truyền thống của người Việt là đồng hoá và hoà đồng, cho phép con người theo đuổi nhiều con đường để tìm đến chân lý. Trái ngược với truyền thống này, những câu rao độc đoán về giá trị tinh thần của Kitô giáo có vẻ phi lý và kỳ cục đối với người Việt Nam.

            Vì thế, đường lối truyền giáo của các thừa sai hoá ra rất khó chấp nhận. Nó tạo ra những hậu quả hết sức xáo trộn về chính trị và xã hội. Chính vì thế, nó khêu gợi sự thù nghịch của quần chúng cũng như của các sĩ phu. Để lôi cuốn người tân tòng và làm cho họ trung thành với đức tin công giáo, các thừa sai thường đòi phải cắt đứt những mối dây ràng buộc họ với cộng đồng và vốn làm cho họ xưa nay vâng phục nhà cầm quyền sở tại. Các giáo sĩ của hội thừa sai hải ngoại và của dòng Đa Minh Tây Ban Nha thường chế diễu coi khinh vũ trụ quan truyền thống - Đạo trời đất vốn là cơ sở của sự vâng phục về chính trị đối với Vương quyền và các đại diện vương quyền. Họ ngăn cấm giáo dân đóng góp tài chánh cho việc thờ cúng thần hoàn. Họ khuyến khích giáo dân tránh né nghĩa vụ thờ cúng tổ tiên của gia đình, hoặc đóng góp vào việc duy trì mồ mả tổ tiên. Do việc cắt đứt những mối dây ràng buộc với cộng đồng như vậy, các thừa sai công giáo đã đưa ra một thách thức về mặt xã hội và sau cùng là về mặt chính trị đối với xã hội Việt Nam còn rõ ràng hơn những đề tài trừu tượng trong thần học. Theo các viên chức cũng như nông dân, Kitô giáo được coi như là tôn giáo chủ yếu có tính cách chống lại xã hội và khuynh đảo.

  • Sự ngược đãi các thừa sai dưới thời vua Minh Mạng (1820 -41) và Thiệu Trị (1841-1847)

Các đoàn thừa sai và những người tân tòng của họ đã thỉnh thoảng bị ngược đãi từ những năm đầu tiên của việc truyền giáo trong thế kỷ XVII. Vào cối thế kỷ XVIII và vào cuối cuộc nổi dậy của Tây Sơn, họ được hưởng một thời kỳ ưu đãi đặc biệt, do có công giúp đỡ người đứng đầu triều đại nhà Nguyễn lên cai trị nước Việt Nam mới được tái lập và thống nhất.

Vai trò của giám mục Pigneau de Béhaine trong việc tập hợp lực lượng lính đánh thuê bộ binh và hải quân, để yểm trợ cho ông Hoàng Nguyên Ánh, đã là yếu tố đặc biệt quan trọng để các nhóm thừa sai hưởng được sự bảo vệ chính trị của hoàng gia trong thời Nguyễn Ánh trị vì, dưới danh hiệu là hoàng đế Gia Long. Để tỏ lòng biết ơn về chính trị đối với các thừa sai,Gia Long đã sử dụng họ, bổ nhiệm họ vào hàng ngũ các quan lại, như một phương tiện tiếp xúc và thăm dò phương Tây.

            Nhưng trong việc ưu đãi và sử dụng các thừa sai, Gia Long đã chấp nhận một rủi ro có tính toán về mặt chính trị. Lạc thuyết Kitô giáo gây ra một số ngờ vực trong một triều đình mới thành lập, đang muốn củng cố chính danh của mình trong giới quan lại và địa chủ ưu tú, lúc ấy còn chưa thực sự tin tưởng nhà Nguyễn. Các thừa sai cũng tích cực khuyến khích sự dính líu quyền lợi về thương mại và chính trị của Pháp vào Việt Nam, với hy vọng được yểm trợ để mở mang đạo Chúa. Cũng do chỗ này, Gia Long đã tỏ ra ý thức sự nguy hiểm trong việc khuyến khích quá nhiều người phương Tây đến Việt Nam. Vào lúc Gia Long băng hà, mối đe doạ đang lớn mạnh từ phía phương Tây và sự thiếu thiện cảm của nhân dân đối với đạo Kitô, được coi như những vấn đề có liên hệ do một nhóm chống phương Tây và chống đạo Kitô trong triều đình mà vua Minh Mạng, người kế thừa vị Gia Long rất thân cận.

  • Sự ngược đãi các thừa sai dưới thời vua Minh Mạng (1820 - 41) và Thiên Trị (1841 - 1847)

            Thái độ của Minh mạng đối với phương Tây và vấn đề Kitô giáo đều xuất phát từ chiến lược chung của ông, nhằm củng cố quyền kiểm soát của triều đại. Bậc tiền nhiệm của ông đã chỉ áp dụng những biện pháp ngắn hạn và có tính cách chiến thuật để củng cố uy quyền cá nhân - như bãi cỏ các nha sở làm tiết giảm thẩm quyền của mình, xây dựng quân đội riêng, dời kinh đô đến Huế ở miền Trung Việt Nam, mua chuộc và phân cực những đòi hỏi chính trị của hai tướng hàng đầu, bằng cách bổ nhiệm họ làm quan lớn có quyền tiền trảm hậu tấu, nhưng người ở phương Nam, người ở phương Bắc. Nhưng Minh Mạng thì triển khai những biện pháp củng cố cơ cấu có tính dài hạn. Sự thay đổi chủ yếu trong triều đại ông là trung thành với học thuyết cổ điển.

            Mục tiêu của Minh Mạng rõ ràng là bày tỏ uy quyền của triều đại bằng ngôn ngữ kinh điển thuần tuý nhất của học thuyết chính trị và vũ trụ quan Trung Quốc. Điều này không tiên báo điều gì tốt đẹp cho các thừa sai công giáo. Minh Mạng vừa củng cố sự chính danh, vừa củng cố quyền lực hành chánh của nhà Nguyễn, bằng cách lập ra một mô hình thật lý tưởng theo kiểu thư lại Trung Quốc. Ông lập ra một bộ máy thư lại theo lối cổ gồm sáu bộ, một đô sát viện và một cơ mật viện, căn cứ theo những tiền lệ ở Trung Quốc trước thời Mãn Thanh. Thẩm quyền của các tướng thời Gia Long bị bãi bỏ và thay vào đó, là một cơ cấu hành chánh củng cố cho quyền lực trung ương Đối với 31 tỉnh mới thành lập. Ở đó chế độ bổ nhiệm theo đẳng cấp thâm niên cũng y hệt khuôn mẫu hành chánh tỉnh Trung Quốc. Về việc cải cách hàng ngũ quan lại, ông theo lối tuyển chọn nhân tài vẫn được dùng ở Trung Quốc theo từ điển Khang Hy được công bố là ngôn ngữ dùng trong hành chánh việc tuyển chọn các quan chức qua các cuộc sát hạch cũng theo kinh điển Trung Quốc.

            Trong khi tạo ra một hệ thống nhằm củng cố sự kiểm soát của vương quyền đối với giới ưu tú quan lại đông đảo, Minh Mạng không những tỏ ra đáp ứng quan điểm của các quan, mà còn theo ý kiến của giới sĩ phu đông đảo, nguồn cung cấp nhân sự cho bộ máy hành chánh. Mô hình của hệ thống thư lại Trung Quốc vẫn có truyền thống cho phép kiến nghị lên nhà vua về những vấn đề quan trọng và hàng loạt những kiến nghị của các sĩ phu và các triều thần chống lại đạo Kitô được dâng lên nhà vua vào các thập niên 1820-1840, phản ánh sự thù nghịch của giới ưu tú với việc truyền đạo, của các thừa sai, cũng như ước muốn duy trì những tiêu chuẩn của học thuyết truyền thống trong triều đại. Việc tạo chính danh cho triều Nguyễn bằng cách nhấn mạnh vào những giáo điều truyền thống, đu6ông nhiên phải dẫn đến việc chấm dứt các ưu đãi đối với tín ngưỡng Kitô giáo, xa lạ với xã hội và mang tính chất khuynh đảo về chính trị.

            Tuy nhiên, việc cấm đạo không diễn ra ngay sau khi Minh Mạng lên ngôi năm 1820. Cũng như Gia Long, Minh Mạng thận trọng khi phải khuyến khích các thế lực ngoại lai do việc ngược đãi các kiều dân ngoại quốc. Hơn nữa ông ngần ngại khi phải thách thức nhân vật thế lực chính đáng bảo hộ cho các tín đồ Kitô giáo ở Việt Nam, Lê Văn Duyệt, hổ tướng cuối cùng của Gia Long, với tư cách là thống đốc Nam Kỳ, hầu như đã hoàn toàn được tự trị cho đến lúc chết năm 1832. Vậy để khởi đầu, nhà vua đã đáp ứng những kiến nghị xin cấm đạo vào đầu thập niên 1820 (Vk.1) bằng một chiếu chỉ năm 1826, chỉ định cư trú cho tất cả các thừa sai phải sống ở kinh đô Huế. Tuy nhiên, lúc bấy giờ số người theo đạo đông đảo đã bắt đầu gây lo ngại : Ước lượng có khoảng trên 300.000 giáo dân rải rác trong cả nước, đa số tập trung ở Bắc Kỳ . Hơn nữa sự dính líu của các tín đồ Kitô giáo vào các cuộc nổi loạn lớn chống lại vương quyền ( 1826-1828, 1833-1835) đã làm cho họ bị coi là những thành phần bất hảo. Người Kitô giáo ở Bắc Kỳ được coi như cùng phe với nhóm giả danh nhà Lê muốn chiếm lại ngai vàng. Năm 1830, nhà vua ban hành du cấm đạo, ra lệnh bắt giữ tất cả các giáo sĩ và đốt phá các nhà thờ. Sau khi có bằng chứng về mối liên hệ của các tín đồ Kitô giáo với cuộc nổi loạn của con nuôi Lê Văn Duyệt là Lê Văn Khôi ở Nam Kỳ( tháng 7- 1833), Minh Mạng còn phê chuẩn bách hại hơn nữa vào năm 1836. Theo sau là những vụ hành hình và các chiếu chỉ khác ra lệnh trục xuất vào cuối thập niên 1830, và đỉnh cao của cuộc bách hại là hành hình 11 giáo sĩ Việt Nam vào năm 1840. Chỉ đến khi người Anh tấn công vào Quảng Đông trong trận chiến tranh nha phiến (1840-41), cuộc bách hại mới tạm ngưng vì sợ sự can thiệp từ bên ngoài. Việc đình hoãn sự bách hại được người kế vị Minh Mạng là Thiệu Trị ( 1841-47) tiếp tục duy trì cho đến những tháng cuối cùng của triều đại ông.

  • Hải quân Pháp khiêu khích người Việt Nam trả thù các tín đồ Kitô : cuộc tấn công Đà Nẵng lần thứ nhất, 1847.

Một đoàn tàu gồm sáu chiếc, dưới quyền chỉ huy của đại tá Cécille, được phái đi cùng với đoàn ngoại giao của Lagrené vào năm 1844. Nhiệm vụ rõ ràng của nó là đi tìm một điểm tựa trong vùng Đông Á. Guizot muốn kiếm một căn cứ hải quân trong vùng Đông Á, Để người Pháp khỏi lệ thuộc vào các hải cảng đang nằm trong tay của người Anh, Tây Ban Nha hoặc Bồ Đào Nha. Đà Nẵng nằm trên duyên hải miền Trung Việt Nam đã được coi là một khả năng. Cảng ấy đã hứa nhường cho Pháp theo những điều khoản của hiệp ước Việt- Pháp 1787, nhưng hiệp ước ấy đã không được phê chuẩn và không có hiệu lực. Tuy nhiên Đà Nẵngvẫn là một cảng hấp dẫn đối với hải quân Pháp. Nó nằm ngay giữa bờ biển việt nam, rất gần với cảng của Trung Quốc. Vịnh Đà Nẵng là một nơi rất tốt để tàu bỏ neo và có đường vào nội địa đền kinh đô Huế. Năm 1839, một thuyền trưởng tàu chiến Pháp, đại uý Fourichon đã đề nghị cứu xét Đà Nẵng xem có thích hợp cho một căn cứ hải quân không. Đề nghị này đã bị bộ hải quân làm ngơ, nhưng sau này, vào tháng 7-1834, Ratti-Menton, một lãnh sự Pháp ở Trung Quốc lại đề nghị một lần nữa. Tuy nhiên, Guizot rất muốn tránh nguy cơ xảy ra rắc rối chính trị với người Việt Nam, nên đã tuyên bố không tán thành Đà Nẵng, mà chọn một nơi xa xôi hơn, đảo Basilan trong quần đảo Sulu, Nhưng đảo Basila lại tỏ ra ở ngoài tầm tay, vì mặc dù người Pháp đã dàn xếp được những thoả thuận về tài chánh với quốc vương Sulu, người Tây Ban Nha, lấy cớ đảo Basilan là một vùng thuộc lãnh thổ Philippines, nên đã ngăn cản việc mua bán. Người Pháp còn đang quanh quẩn tìm một chỗ khác để thay thế, thì lúc ấy các thừa sai Pháp ở Việt Nam kêu gọi hải quân Pháp can thiệp và sự trợ giúp của ngành ngoại giao đã làm cho chính quyền Pháp lại chú ý đến Đà Nẵng.

            Từ trước đã có trường hợp hải quân Pháp can thiệp hữu hiệu, nhân danh các thừa sai ở Việt Nam. Ngay trước khi đoàn tàu của đại tá Cécille đến Việt Nam, đại tá Pavin- Levéque đã vào cảng Đà Nẵng tháng 10-1842 và đã thuyết phục được các quan của vua Thiệu- trị thả năm thừa sai đang bị cầm tù. Việc này diễn ra một cách ôn hoà, Nhuưng đoàn tàu Pháp dưới sự chỉ huy của đại tá Cécille, chỉ cần đôi chút khiêu khích để có dịp phô trương sức mạnh. Cécille đã được Guizot cho phép trợ giúp các thừa sai nếu như sự thể khả dĩ làm được, mà không gây hệ luỵ cho nước Pháp.

            Trong thập niên kế tiếp, các cuộc can thiệp của hải quân nhằm bảo vệ các thừa sai ngày cáng trở nên quyết liệt và cuối cùng dẫn đến bạo động.

            Tháng 6-1846, đại tá Fornier-Duplan được phái đến đòi Việt Nam thả Đức cha Lefebvre.Giám mục Isauropolis và đại diện tông tòa giáo khu Nam Nam Kỳ, ra khỏi nhà tù ở Huế. O⮧ đã thành công trong việc dàn xếp cho Đức cha Lefebvre đi Xingapore. Tuy nhiên, Đức cha Lefebvre đã lập tức quay trở lại Sài Gòn và đã bị bắt. O⮧ lại được giải cứu, lấn này qua trung gian của một thuyền trưởng hải quân Anh, nhưng ông lại xâm nhập vào Sài Gòn. Cuối cùng tháng 4-1847 một tàu buồn của Pháp, Chiếc La Gloire và một tàu chiến nhỏ, chiếc La Victorieuse được phái đến đòi thả đức giám mục Lefèbvre -Lúc ấy đã được tự do và đòi tự do tôn giáo cho đạo Kitô. Hậu quả chuyến thăm này thật tai hại. Nó đưa đến việc tàu Pháp bắn phá Đà Nẵng, khiến năm tàu của Việt Nam bị đánh chìm và một số thuỷ thủ Việt Nam bị giết trước khi lực lượng Pháp bỏ đi. Các bản tường trình tuy rất khác biệt nhau, nhưng đều thống nhất trong việc mô tả sự thiện chí của viên tư lệnh Pháp. Đại tá Pierre, trong việc tôn trọng những nghi thức bình thường khi quan hệ với triều đình Việt Nam. Sự ngạo mạn của La Pierre đã khiêu khích phía Việt Nam chuẩn bị phản công bằng hải quân và La Pierre cho đó là mọt đe doạ sẽ tàn sát lực lượng Pháp. Đó là lý do mà sau này ông đưa ra để biện minh cho việc bắn phá.

            Các sự phiền nhiễu mà thừa sai Pháp tại Việt Nam phải chịu ngày càng gia tăng là do hậu quả của cuộc tấn công này. Đối với người Việt Nam, hành động của người Pháp có tính cách ngạo mạn và hung hãn, nhưng nhất là thiếu dứt khoát. Hành động bắn phá của La Pierre không được tiếp tục theo đuổi, mà cũng không có một lời giải thích, Kết quả đem lại trái với mục đích của việc can thiệp, nó khiêu khích sự trả thù. Vua Thiệu - Trị từ trước đã bắt đầu tỏ dấu sẵn lòng nhân nhượng đòi hỏi của Pháp về vấn đề tôn giáo, nay nhất định quay về lập trường cứng nhắc cũ, Ông ban hành một lúc bốn chiếu chỉ cấm đạo Kitô. Mặc dầu ông mất trong vòng vài tháng sau cuộc tấn công của Pháp, sự thách thức của ông đã tạo một tiền lệ cho người kế vị là vua Tự Đức. Tự Đức tiếp tục biểu lộ lòng tức giận đối với cuộc tấn công Đà Nẵng, nhưng ông còn có một lý do khác cho việc bách hại đạo quyết liệt. Đó là sự biểu lộ thiện cảm của người Kitô giáo đối với quyền nối ngôi của anh ông, thái tử Hồng Bảo. Do quyền kế vị của mình bị thách thức và do còn nhỏ tuổi nên bị lệ thuộc vào các cố vấn, Tự Đức đã ban hành vào năm 1851 (Vk.2) và năm 1855, những chiếu chỉ cấm đạo khắc nghiệt chưa từng thấy. Mặc dầu lời lẽ rất nghiêm khắc, các chiếu chỉ được các quan chức ở tỉnh thi hành rất tuỳ nghi. Ngoài những vụ trục xuất và cầm tù, chỉ có hai linh mục Pháp và khoảng mười giáo hữu Việt Nam bị hành quyết từ 1853 đến 1856. Chỉ sau khi người Pháp bắn phá Đà Nẵng lần thứ hai 1856, mở đầu cho cuộc tấn công viễn chinh của Pháp vào năm 1858 mức độ thi hành các chiếu chỉ cấm đạo mới đột ngột gia tăng. Điều này là khởi đầu tiêu biểu, sau này trở nên quen thuộc trong ba thập niên. Hiện tượng quần chúng tấn công các tín đồ Kitô giáo mỗi khi Pháp can thiệp hoặc tấn công Việt Nam vì lý do chính trị.

TÀI LIỆU ĐỌC THÊM:

CÁC VĂN KIỆN 

1. Kiến nghị của các sĩ phu do thượng thư bộ hình, dâng lên vua Minh Mạng, Huế, tháng 8 năm 1826.

Đạo này giả dối và trái với đạo lý đích thực. Nó dụ dỗ nhân dân và lạm dụng lòng chất phát của họ, nó dùng hoả ngục và cực hình để doạ dẫm những người yếu vía, và hạnh phúc thiên đàng để lôi kéo những người khác. Nó đã lộng đến mức dám in ra lịch riêng và còn có cả toà án riêng để xét xử… Từ khi đạo này vào nước ta, hàng ngàn người đã đến khắp cả các tỉnh tuyến xưng về đạo. Những người bị tiêm nhiễm giáo lý của đạo này trở nên cuồng nhiệt đến độ mê muội và rảo khắp nơi như người điên.

Tín đồ này không tôn trọng tinh thần trong sáng: Họ không thờ cúng tổ tiên. Họ ngày càng đông đảo và liên tục xây thêm nhà thêm nhà thờ mới. Đó chính là lý do khiến chúng tôi ngước mắt lên xin hoàng thượng chấn chỉnh lại những việc sai trái này. (L.E.Louvet, La Cochin chine religious (2 tập, Paris, 1885), tập 2 trang 504-505).

2. Vua Tự Đức: Chiếu chỉ cấm đạo Kitô 30 tháng 3 năm 1951

Chiếu chỉ

Giáo lý của Giêsu có nguồn gốc từ những người châu Âu. Nó ngăn cấm sự thờ cúng tổ tiên và thần linh. Để làm người ta lạc hướng và u mê, nó nói về Trời và nước Thánh. Biết rõ luật pháp của nước ta không dung thứ được giáo lý độc ác ấy, những kẻ sản sinh nó đã đưa ra hình ảnh một Giêsu bị hành hình, là thầy của họ, để dụ dỗ những kẻ ngu muội và làm cho họ đối đầu với cái chết mà không sợ sự sợ hãi, ăn năn. Thật là một ảo tưởng tệ hại! Thật là một nỗi ám ảnh lạ kì.

Dưới thời vua Minh Mạng, từ thờ phượng phi nghĩa này đã bị cấm bởi nhiều chiếu dụ. Mỗi khi một người Kitô giáo không chịu bỏ đạo thì đều bị trừng phạt nặng nề, lập tức và không thương tiếc. Từ thời vua Thiệu Trị, nhiều lệnh cấm cái giáo lý ương ngạnh này đã được ban hành . Chỉ trừ những người già cả và t tàn tật bệnh hoạn, không có người Kitô giáo nào bướng bỉnh được miễn thứ cả.

Đó là lý do khiến các bậc tiền bối của ta lúc nào cũng rất thận trọng, chính xác và khôn ngoan trong hành động để loại trừ những giáo điều ác độc của đạo ấy. Qua việc tuân thủ đều đặn các nghi thức, học hỏi về âm nhạc và một kiểu ăn mặc đoan trang, họ đã đạt tới một trình độ văn hoá cao, nền văn minh của ta đặt cơ sở trên phép xử sự hợp lý, nhưng nó sẽ mau chóng bị phá huỷ, một khi cái giáo điều của những kẻ lòng còn man rợ và tính như thú vật này được thực hành.

Khi lòng người hư hỏng mà k h ông chịu lập tức sửa đổi, tình cảm đạo đức chân chính sẽ bị bóp nghẹt. Do đó cấm chỉ những thói xấu và truyền bá sự hiểu biết, là điều rất có lợi cho đạo đức của các thế hệ mai sau.

Ta, Tự Đức, luôn trung thành với những tập tục cổ xưa, là lắng nghe và nhận xét trong mọi hành động, phán đoán và mệnh lệnh, lưu ý những điều đúng đắn, học hỏi cẩn thận những điều hay có liên quan, đã uỷ thác cho các triều thần của ta nộp một phúc trình về vấn đề đã được triển khai lên ta qua cơ mật Viện, về sự cần thiết phải cấm cái đạo độc ác của Giêsu. Đây là những điều các triều thần đã khuyên ta:

Các giáo sĩ châu Âu sẽ phải ném xuống sông hoặc xuống biển sâu, vì vinh quang của đạo đích thực. Các giáo sĩ Việt Nam dù có đồng ý bước qua thập giá hay không, đều bị chặt làm đôi, để mọi người đều biết sự nghiêm minh của luật pháp.

Ta đã xem xét những đề nghị và thấy chúng phù hợp với lương tri. Các quan đã được lệnh thi hành, nhưng phải kín đáo chứ không tuyên bố. Như vậy, các giáo sĩ châu Âu lén lút xâm nhập vào nước ta và đi khắp các tỉnh để lừa dối và dụ dỗ lòng người, ai tố cáo và giao nộp họ cho các triều thần, sẽ được thưởng trước hết là tám lạng bạc, và sau đó là một nửa tài sản của những ai đã bảo vệ che giấu họ: Nửa còn lại sẽ xung vào công quỹ.

Còn về những người đã che giấu các giáo sĩ châu Âu ấy, dù chức lớn hay nhỏ, thời gian chóng hay chầy, tất cả đều bị chém làm đôi và ném xuống sông sâu, trừ những trẻ em dưới tuổi biết suy nghĩ sẽ bị gởi đi khỏi làng. Những người vắng mặt và không hay biết về việc giáo sĩ người Âu được dấu trong nhà sẽ khỏi bị thụ hình.

(Bản dịch của Đức cha Retord, biên niên sử về việc truyền bá đức tin, 1852, XXIV, trg 11, ff).

(1) Mặc dầu các hoàng đế Việt Nam (hay vương) đều cho mình cùng có một vai trò đạo lý và các đặc tính tinh thần như các hoàng đế Trung Quốc, người Pháp thường có thói quen, gọi họ là “Vua”.

B. NHỮNG KÊU GỌI - THAM KHẢO VÀ QUYẾT ĐỊNH.

  • Louis Napoléon lên cầm quyền và sự phát triển việc truyền giáo ở Đông Á.

Sự rạn nứt giữa hàng giáo phẩm công giáo và nhà nước kéo dài từ 1830 đã chấm dứt, với việc hàng giáo phẩm ngả hẳn sang hướng đối nghịch sau các cuộc biến động tháng năm và tháng sáu trong cuộc cách mạng năm 1848. Việc Louis Napoléon Bonaparte lên làm quốc trưởng đầu tiên của đệ nhị cộng hoà, đã đánh dấu bước khởi đầu sự liên kết mật thiết giữa Giáo hội và chế độ bảo thủ mới. Các giám mục công giáo đã công khai ủng hộ ứng cử viên quốc trưởng Napoléon và đáp lại, họ được hứa hẹn một chương trình rộng lớn về các nhượng bộ cho lợi ích của công giáo.

Sau cuộc đảo chánh năm 1851, tạo nên đệ nhị đế chế, sự ủng hộ của các giáo sĩ cho Louis Napoléon lúc bấy giờ là Napoléon đệ tam còn mạnh hơn nữa và kéo dài cho đến khi Napoléon can thiệp vào việc chống lại các quyền lợi giáo hoàng trong cuộc chiến tranh giữa Ý và Áo năm 1859.

Việc Napoléon III xích lại gần với Giáo hội công giáo đã khuyến khích các thừa sai lên tiếng bày tỏ nhu cầu nhiều hơn, và là nguyên do giúp cho sự than phiền của các thừa sai lúc bấy giờ được dễ dàng chuyển lên cấp cao nhất của chính phủ.

Dù vậy, tương quan giữa áp lực của thừa sai và hành động của chính phủ không hẳn là đơn giản khuynh hướng ủng hộ các giáo sĩ của chế độ Bonaparte trong thập niên 1850, không tự nó giải thích rằng Napoléon III sẵn lòng can thiệp chỉ vì các thừa sai ở Việt Nam. Việc thi hành chính sách nhà nước Đông Nam Á liên hệ rất mật thiết với ý niệm của Napoléon về quyền lợi của chính triều đại mình và của Pháp, cũng như với sự quan tâm của ông nhằm duy trì sự ủng hộ của giáo sĩ. Nếu ước muốn bảo vệ lợi ích của các thừa sai mà Napoléon đã công bố, có đưa đến một sự can thiệp nào của Pháp ở Việt Nam, thì đó không hẳn là mục đích cuối cùng trong chính sách của ông.

  • Áp lực của các thừa sai đòi hỏi Pháp can thiệp vào Việt Nam 1850-1856.

Trong những năm đầu tiên của đệ nhị cộng hoà, chính phủ không quan tâm gì đến vùng Đông Á. Việc rút phái bộ ngoại giao ở Trung Quốc về còn được cứu xét như một biện pháp kinh tế khả dĩ vào năm 1849. Nhưng trong thời gian 1850-1851, những than phiền của các thừa sai ở Việt Nam lẫn Trung Quốc đều gia tăng. Đặc biệt là những phản kháng của phái bộ ngoại giao ở Trung Quốc và của chủng viện Hội thừa sai Hải ngoại, sau khi các chiếu chỉ cấm đạo khắc nghiệt của Tự Đức được ban hành vào năm 1851. Giữa năm 1852 tám Giám mục ở các giáo khu Viễn Đông đệ trình lên Napoléon III một thỉnh nguyện, nêu rõ chính quyền Pháp thiếu đáp ứng đối với sự bách hại các thừa sai khắp Đông Á, đặc biệt là ở Triều Tiên, Trung Quốc và Việt Nam, gây nên một cảm tưởng về sự yếu đuối của Pháp. Họ yêu cầu phái đi một lực lượng hải quân nhằm đẩy mạnh uy tín của Pháp.

Tháng tám và tháng chín năm 1852, lãnh sự Pháp ở Trung Quốc, Comte de Bourboulon gởi về những công văn nhiều chi tiết hơn yêu cầu can thiệp trên qui mô lớn chưa từng có. Đó là những công văn được soạn thảo bởi sự hợp tác của linh mục Libois, thuộc Hội thừa sai hải ngoại. Kể lại tin tức về việc hành hình cha Bonnard và cha Schoeffler mới diễn ra ở Việt Nam, Bourboulon đề nghị một cuộc viễn chinh để đòi hỏi một hiệp ước thương mại và áp đặt người Việt Nam phải nhân nhượng về tôn giáo. Ông đề nghị giữ lấy Đà Nẵng nhằm bảo đảm cho việc Việt Nam tuân thủ hiệp ước ấy.

Ban đầu, Hải quân và Quai d’Orsay có đáp ứng thuận lợi đối với các đề nghị ấy và chuẩn bị đề thi hành. Nhưng khi suy nghĩ kỹ hơn Bộ Hải quân thấy dự án ấy đòi hỏi quá nhiều tài nguyên. Thế rồi việc giặc Thái bình chiếm miền Nam Trung Quốc vào đầu năm 1853, đã đột ngột thay đổi ưu tiên về sự quan tâm của Pháp ở trong vùng, chuyển sự quan tâm từ Việt Nam sang các miền duyên hải Trung Quốc, đặc biệt là Thượng Hải, nơi các cộng đồng người Pháp thương gia cũng như thừa sai, đang bị giặc Thái bình bao vây. Việc đã gây ảnh hưởng quan trọng hơn trong sự trì hoãn can thiệp của Pháp vào Việt Nam là cuộc khủng hoảng ở Cận đông ngày càng sâu đậm dẫn đến cuộc chiến tranh Crimée năm 1854. Cuộc xung đột này hầu như đã thu hút tất cả các tài nguyên quân sự và hàng hải và làm tê liệt mọi khả năng hành động của Hải quân Pháp chống Việt Nam trong hai năm sau đó.

  • Phái bộ Montigny, 1856-1857.

Tuy nhiên, sự nhiễu hại mà các thừa sai ở Việt Nam phải chịu tại địa phương vẫn là một vấn đề cấp bách. Khi ông giải quyết vấn đề này bằng sức mạnh trong lúc còn chiến tranh ở Crimée, người Pháp phải cử một phái bộ ngoại giao không vũ trang tới Huế, hy vọng thương thuyết được một giải pháp. Charles de Montigny, phó lãnh sự ở Thượng Hải, đã đại diện đi thương thuyết một hiệp ước thương mại ở Thái Lan, theo mô hình của một hiệp ước mà người Anh mới đạt được, nhận được lệnh mở rộng nhiệm vụ ngoại giao sang Việt Nam, Ông được chỉ thị phải ép người Việt Nam một cách quả quyết và kiên trì hầu đạt được một hiệp ước về thương mại và nhân nhượng về tôn giáo. Nhưng việc Montigny đến Việt Nam bị trì hoãn khá lâu. Sau khi ký hiệp ước với Thái Lan, ông quay sang Cam Bốt để theo đuổi một cơ hội c hớp nhoáng, nhằm đạt được một hiệp ước tương tự. Trong lúc ấy, một sĩ quan hải quân Pháp được gởi đến Đà Nẵng nhằm chuẩn bị con đường cho Montigny thương thuyết với triều đình Huế. Giữa tháng 9 năm 1856, thuyền trưởng Lelieur của tàu Catinat đã bị các viên chức Việt Nam trục xuất khỏi cảng Đà Nẵng khi ông định trình thông báo chính thức của phái bộ Montigny. Bực tức vì không tống đạt được văn bản về những đòi hỏi mà Montigny dự tính, Lelieur bất chấp chỉ thị và đã bắn phá Đà Nẵng. Sau đó ông cho đổ bộ một lực lượng lên bờ bít miệng sáu mươi khẩu súng của pháo đội Việt Nam bảo vệ vịnh Đà Nẵng. Tạm thời bị rúng động bởi cuộc tấn công, triều đình Việt Nam khi tiếp xúc với người kế vị Lelieur, thuyền trưởng Collier của tàu Capricieuse, đã cho phép chấp thuận chính thức đề nghị thương lượng của Pháp. Tổng đốc tỉnh Quảng Nam thay mặt triều đình trả lời đầu tháng 11 năm 1856, đã đồng ý thương thuyết một hiệp ước “theo đúng với luật lệ Việt Nam”. Nhưng cuối cùng, Montigny đến Việt Nam vào cuối tháng giêng năm 1857, phe chủ chiến ở triều đình Huế đã lật ngược lại chính sách đó. Vì thế khi Montigny gặp phái đoàn Việt Nam tháng 2 năm 1857, ông được cho xem một bản dự thoả hiệp ước với lời lẽ khinh thường Napoléon III và chỉ đưa ra những gì mà người Pháp hoàn toàn không muốn. Sau hai tuần vật lộn vô ích, Montigny đã bỏ dở cuộc thương thuyết và rút đi qua cảng Đà Nẵng, để lại một bản dự thảo đề nghị, trong đó có điều khoản, đạo công giáo phải được thừa nhận như “một trong những tôn giáo” của Việt Nam. Những kẻ chủ trương chống Pháp ở triều đình Huế có vẻ như thắng thế, về việc Montigny rút đi êm xuôi đã xác nhận sự bất lực của Pháp. Như một bài thơ tiếng Việt sau này đã diễn tả điều ấy: “Người Pháp sủa như chó, nhưng chạy dài như dê”.

  • Napoléon III cân nhắc về cuộc viễn chinh giữa tháng 01 và tháng 11 năm 1857.

Việc gởi một đoàn quân viễn chinh qua Việt Nam cuối cùng vẫn do cá nhân Napoléon III quyết định, trái với ý muốn của hầu hết các bộ trưởng, sau một loạt lời kêu gọi của những đại diện cho lợi ích các thừa sai. Hoàng hậu Eugénie có liên hệ mật thiết với nhóm giáo sĩ trong triều đình và đặc biệt có thiện cảm với hoạt động của các thừa sai, được coi như là người có công ảnh hưởng đến quyết định này. Vai trò của bà có lẽ là giúp cho các thừa sai và những người ủng hộ họ trong giới hải quân và ngoại giao dễ dàng được gặp nhà vua.

Tháng giêng năm 1857 cô Huc, một thừa sai dòng Lazarít đã trực tiếp viết thư cho Napoléon III thuyết phục nhà vua gởi một đội quân viễn chinh sang để thôn tính Việt Nam. Mặc dầu Huc chưa về đến Việt Nam, vẫn đóng vai trò phát ngôn viên cho linh mục Libois, bạn thân của ông đang làm đại diện cho Hội Thừa sai Hải ngoại ở Hồng Kông. Về phần Libois, ông đã từng gây sức ép với lãnh sự Pháp ở Quảng Đông làm cho các Bộ trưởng hiểu rõ về những khó khăn của các thừa sai ở Việt Nam.

Trong thư gởi cho nhà vua, (vk.3), cố Huc đã đặc biệt nhấn mạnh về những lợi ích vật chất của việc đánh chiếm Việt Nam, cũng như sự cần thiết phải bảo vệ các thừa sai. Kết quả trực tiếp do lời kêu gọi của cố Huc, là tháng tư 1857 Napoléon III đã thành lập một uỷ ban nhỏ dưới quyền nam tước Brenier, một viên chức cao cấp trong bộ ngoại giao, để nghiên cứu đề nghị của cố Huc. Thành phần của uỷ ban Brenier phần lớn là nghiêng về phía ủng hộ đề nghị ấy: nó gồm có hai sĩ quan hải quân, đô đốc Fourichon và đại tá Jaurès. Cả hai đã từng phục vụ ở Trung Quốc và tích cực ủng hộ việc can thiệp. Và chính Brenier cũng có vẻ ủng hộ đường lối này. Tháng 5 năm 1857, uỷ ban đề nghị áp đặt sự bảo hộ của Pháp vào Việt Nam (vk.4, 5). Trong số những nhân chứng được uỷ ban phỏng vấn - Cố Huc, Lm Chamaison và đức cha Pellerin, giám mục ở Biblos và đại diện tông toà ở Bắc Nam Kỳ. Tất cả đều là tiêu biểu cho những lợi ích trong việc Pháp tìm được một chỗ đứng chính trị tại Việt Nam. Giám mục Pellerin đóng vai trò hàng đầu cùng với cố Huc, trong việc vận động sự can thiệp của Pháp. Sau khi cung cấp chứng cớ cho uỷ ban, Pellerin tổ chức một chiến dịch vận động công chúng ủng hộ cuộc viễn chinh, thông qua anh em nhà Vueillot đáng sợ lúc ấy đang điều khiển tờ l’Univers, cơ quan ngôn luận tích cực nhất của các giáo sĩ. Hai lần được Napoléon hỏi đến cuối tháng sáu và cuối tháng tám, chính Pellerin đã giảng cho các tín hữu đông nghẹt ở nhà thờ chính toà Notre Dame và tại Thánh đường Thánh Laurent về số phận của các thừa sai ở Việt Nam.

Phản ứng nói chung là không thuận lợi của các bộ trưởng đối với những đề nghị của uỷ ban Brenier cho thấy vai trò nổi bật của cá nhân Napoléon III trong quyết định này. Bộ trưởng ngoại giao Walewski, mặc dầu lúc đầu không tán thành việc can thiệp, đã phải chiều theo quan điểm của Napoléon. Khi trình bày bản phúc trình của Brenier cho một nội các thiếu thiện cảm cứu xét vào giữa tháng bảy 1857 và với sự vắng mặt của nhà vua, Walewski đã che dấu cho đến cuối cuộc thảo luận, không cho biết là trên nguyên tắc nó đã được nhà vua quyết định. Chỉ đến khi các bộ trưởng nhận ra họ đã bị lừa, mà bộc lộ những ý kiến thẳng thắn trái với quan điểm của nhà vua, họ mới tỏ ra đồng ý với cuộc viễn chinh (vk.6).

Napoléon III không chủ yếu quan tâm đến việc bảo vệ các thừa sai, nhưng vì vấn đề ấy có tầm mức rộng lớn hơn, là củng cố uy tín của Pháp ở phương Đông. Hơn nữa, các chiến lược và vật chất cũng như chi phí và tầm mức của việc can thiệp có vẻ như được tính toán kỹ. Sau khi quyết định vào tháng bảy, Napoléon do dự thêm bốn tháng nữa về phương thức tiến hành. Mãi cho đến ngày 21 tháng 9 năm 1857, mức độ của cuộc viễn chinh cũng như những điều kiện rõ ràng của nó mới được quyết định. Điều này chủ yếu là do những hệ luỵ về ngoại giao và khó khăn trong việc tiếp vận gây ra do cuộc khủng hoảng lớn đang diễn tiến ở Trung Quốc.

  • Tình hình quốc tế trong năm 1857.

Một trở ngại có từ lâu đối với việc Pháp can thiệp vào Việt Nam, là sợ người Anh không hài lòng. Chắc chắn là ý muốn cạnh tranh với người Anh đã kích thích người Pháp mở rộng hoạt động ngoại giao và hải quân ở vùng Đông Á, nhưng người Pháp vẫn thận trọng không muốn tỏ ra thách thức sự quan tâm của Anh. Khi cuộc chiến Crimée bắt đầu vào năm 1854, Napoléon đã xích lại gần thành đồng minh của Anh, thân thiết hơn bất cứ người tiền nhiệm nào của ông, từ thời phục hưng. Nhưng mặc dù là đồng minh với nhau ở vùng Cận Đông, hai nước vẫn cạnh tranh nhau tại Viễn Đông và do đó cần tránh bất cứ va chạm nào. Quyết định của Napoléon gởi một đội quân qua Việt Nam có thể dẫn đến nguy cơ ấy. Sự phát triển của cuộc khủng hoảng ở Trung Quốc đã ảnh hưởng đến thời điểm, mức độ và mục tiêu của việc Pháp can thiệp vào Việt Nam.

Ban đầu còn ngần ngại không muốn hành động chung, đến năm 1856, các nhà hoạch định chính sách ANh và Pháp đã nhận ra quyền lợi chung, khi phối hợp các chiến lược gây sức ép với Bắc Kinh. Đã từ lâu, người Anh không được hài lòng với những điều khoản đã đạt được trong hiệp ước Nam Kinh 1842. Mặc dầu những hạn chế trong độc quyền ở Quảng Châu đã được bãi bỏ và thêm bốn cảng ở bờ biển nữa được mở cửa cho các tàu Anh ra vào, tất cả các cảng khác vẫn còn đóng cửa và việc vào sâu trong đất liền vẫn bị cấm. Giới thương gia Anh Quốc, ở địa phương cũng như ở chính quốc, tin rằng thị trường khổng lồ của Trung Quốc vẫn chưa được khai thác hết, và uỷ viên mới của họ ở Hồng Kông, ngài John Bowring, một nhà chủ trương tự do mậu dịch đã nhiệt thành ủng hộ lập trường của hộ. Tuy nhiên người Pháp lại ít bực bội về những hạn chế về mậu dịch hơn người Anh, bởi vì các doanh nghiệp Pháp vẫn chưa quan tâm đến thị trường Trung Quốc. Chắc chắn họ cũng muốn xâm nhập vào thị trường này, nhưng lúc ấy họ trách cứ Trung Quốc phần lớn về việc hành hình một thừa sai Pháp, Fr. Chapdelaine năm 1855. Việc xử chém và Pháp phân thây Chapdelaine theo lệnh của các quan Trung Quốc, không phải chỉ vì lý do tôn giáo: nó là một thách thức đối với uy tín của Pháp. Nó cũng tiêu biểu cho sự thoái bộ trong chính sách của lãnh sự quán ở Quảng Châu muốn theo đuổi một loạt những mục tiêu tương lai về thương mại và ngoại giao thông qua việc mở rộng hoạt động thừa sai ở Trung Quốc. Mục tiêu của người Pháp có thể khác với mục tiêu của người Anh, nhưng chúng không đối nghịch nhau. Hơn nữa, hai muốn đều muốn thiết lập quan hệ ngoại giao trực tiếp với triều đình Trung Quốc. Cả hai đều nhằm ép buộc người Trung Quốc chấp nhận sự đại diện ngoại giao thường trực của họ ở Bắc Kinh.

Uỷ viên của Anh ở Hồng Kông, ngài John Bowring và lãnh sự Parkes ở Quảng Châu, đã đi đầu trong việc đưa vấn đề này ra. Trong hơn một năm, cả hai viên chức người Anh này đã tìm cơ hội để tái thương thuyết những điều khoản của hiệp ước, nếu cần bằng cách khiêu khích gây hấn. Cuối năm 1856, khi mà những giao dịch của người Anh và Pháp với Trung Quốc trở nên gay gắt hơn, các nhà ngoại giao của hai nước đã nhận được lệnh tổ chức một cuộc can thiệp chung, để theo đuổi mục tiêu của mỗi bên. Khi sự kiện mũi tên ở Quảng Châu khơi mào cho sự gây hấn giữa Anh và Trung Quốc vào năm 1857, người Pháp chỉ thị cho đô đốc Guérin, tư lệnh hạm đội Pháp ở Viễn Đông, triển khai lực lượng của mình hỗ trợ cho hải quân Anh, nhưng khi cuộc khủng hoảng ra trầm trọng hơn, người kế vị của ông, đô đốc Rigault de Genouilly được lệnh phối hợp trực tiếp với hải quân Anh.

Việc phối hợp hoạt động hải quân giữa Anh và Pháp chống Trung Quốc là một tình huống khích lệ đối với những người chủ trương đưa quân Pháp đóng chiếm Đà Nẵng. Việc Anh mang ơn sự giúp đỡ của Pháp trong việc chống Trung Quốc, có thể làm giảm bớt bực bội của họ khi thấy Pháp lập được một chỗ đặt chân thường trực ở Việt Nam. Còn khích lệ hơn nữa đối với người Pháp, là sự bùng nổ cuộc nổi loạn của binh lính bản xứ ở Ấn Độ vào tháng 5 năm 1857. Cuộc nổi loạn không những làm cho người Anh phải đưa một ít lực lượng của họ từ Trung Quốc về Ấn Độ và lệ thuộc nhiều hơn vào quân đội và tàu bè Pháp ở duyên hải Trung Quốc mà làm cho các nhà hoạch định chính sách của Anh không còn quan tâm gì đến việc Pháp can thiệp nhằm bảo vệ những thừa sai của họ đang bị sách nhiễu tại Việt Nam.

Mặc dầu có những điều kiện thuận lợi ấy, Napoléon III vẫn do dự trong việc chấp thuận một cuộc viễn chinh tới Nam Kỳ. Ông không dứt khoát được về mức độ của cuộc chinh phục và ông cũng không muốn nhấn mạnh tính chất của cuộc viễn chinh vì lợi ích tôn giáo. Quyết định của ông một phần tuỳ thuộc vào diễn biến quân sự ở Trung Quốc lúc ấy còn kéo dài tới những tháng cuối năm 1857. Cuối cùng khi được khởi sự cuộc viễn chinh Nam Kỳ lại được thực hiện trên những nguyên tắc khác với những gì được đề nghị từ ban đầu. Uỷ ban Brenier đã đề nghị một lực lượng riêng gồm 2600 người và 6 tàu chiến, hoạt động phối hợp với hạm đội hải quân ở Trung Quốc. Thay vào đó, lực lượng bao gồm tất cả hạm đội ở Viễn Đông lúc ấy đang chờ đợi chấm dứt cuộc gây hấn ở Trung Quốc, trước khi hoạt động chống Việt Nam. Trong vòng vài ngày sau khi quyết định, tin tức cho biết người Việt Nam đã hình thành một giám mục Đa minh người Tây Ban Nha ở Đông Bắc Kỳ là Đức Cha Diaz. Napoléon nắm lấy cơ hội ấy và mời chính phủ Tây Ban Nha tham gia cuộc tấn công người Pháp không mong đợi nhiều lắm vào sức mạnh quân sự của Tây Ban Nha. Trong việc này nó chỉ vỏn vẹn có một chiếc tàu và 450 quân sĩ, nhưng về mặt ngoại giao, Tây Ban Nha có thể là một lá chắn tốt đối với sự phản đối của người Anh.

Mục đích không rõ rệt của Napoléon được phản ánh qua những chỉ thị mà ông ban cho đô đốc Rigault de Genouilly. Ông này có thể thiết lập một nền bảo hộ hoàn toàn của Pháp trên toàn lãnh thổ Việt Nam, như sự đề nghị của uỷ ban Brenier. Nhưng nếu cần thiết và tuỳ theo thiện chí đáp lại của Việt Nam và tuỳ tình hình địa phương, ông có thể ký một hiệp ước về thương mại và tôn giáo, bảo đảm bằng việc thiết lập một căn cứ hải quân ở Đà Nẵng (vk.7). Trên thực tế, Riggault đã được tự do muốn nhúng tay vào Việt Nam đến mức độ nào cũng được.

CÁC VĂN KIỆN

 

3. Lm. E.Huc - Thư gởi hoàng đế Napoléon III Paris, tháng giêng năm 1857.

... Tóm lại, việc Pháp có được một cơ sở giàu có và hùng mạnh ở Viễn Đông là một điều cực kỳ quan trọng. Đứng trên quan điểm nào thì Nam Kỳ cũng là nơi thích hợp với chúng ta nhất. Chúng ta có quyền chiếm lấy nó và điều ấy cũng thực hiện dễ. Nước Pháp sẽ chẳng phải tốn kém gì, mà điều đó chắc chắn sẽ mang lại của cải và vinh quang cho đất nước. Người Anh đã nhòm ngó Đà Nẵng và họ sẽ vào trước, nếu họ biết ta có quyền và biết về kế hoạch chiếm đóng của ta… (Bộ ngoại giao, Paris, các văn kiện và tài liệu châu Á, tập 27).

4. Phúc trình lần thứ 6 về biên bản của uỷ ban Nam Kỳ, ngày 16 tháng 5 năm 1857.

Hiện diện tại trụ sở Bộ ngoại giao:

- Nam tước Brenier, Chủ tịch Uỷ ban
- Ông Crintrat, Giám đốc thuộc Bộ
- Ông Fleury, Giám đốc thuộc Bộ Thương mại
- Phó Đề đốc Fourichon
- Đại tá Jaurès
- Ông De Mofras, thư ký.
- Được mời hiện diện trước uỷ ban.
- Đức Cha Pellerin, Giám mục ở Biblos, và đại diện tông toà địa phận Bắc Đàng Trong.
- Lm. Chamaison, thừa sai ở Nam Kỳ.

... Ông chủ tịch hỏi Đức Cha Pellerin, Giám mục Biblos liệu chúng ta ký hiệp ước mới có đủ chưa, hay chúng ta phải chiếm đóng Nam Kỳ.

Đức Cha Pellerin trả lời rằng: Về việc ký hiệp ước, ta chỉ cần tới được Huế và buộc nhà vua ký, ban hành một chiếu chỉ và ra lệnh thi hành.

Vì các ông Cintrat và Fleury tỏ ra ngờ vực về sự hữu hiệu đầy đủ của một biện pháp như thế đối với việc bảo vệ những quyền lợi tôn giáo, thương mại và kiều dân, ông chủ tịch lập lại câu hỏi một lần nữa.

Đức giám mục Biblos lập lại rằng, ý kiến của ngài hoàn toàn chỉ có tính cách cá nhân, và không được chia sẻ bởi các thừa sai khác, là việc ký kết một hiệp ước với nhà vua, sự hiện diện của một lãnh sự, việc mở cửa các hải cảng và sự có mặt thường xuyên của lực lượng hải quân để ký một hiệp ước, cũng bằng số chi phí để chiếm lấy đất ấy, hoặc thiết lập một nền bảo hộ trên đất ấy. Và ông hỏi Đức cha Pepperin: Chúng ta có nên dựa vào giá trị của bản hiệp ước 1787 khi trình bày lập trường của ta không và sau hết dân chúng sẽ dễ chấp nhận sự chiếm đóng, hay sự bảo hộ hơn?

Giám mục Biblos trả lời rằng, ngoài những quyền mà ta có được do bản hiệp ước, chúng ta nên nại lý do cần thiết phải đòi đền bù cho những thiệt hại, chẳng hạn n hư việc tử đạo của các thừa sai, việc không thi hành các điều khoản đối với họ, việc các quan bỏ thuốc độc vào nước uống của họ, việc tàn sát các người theo đạo Kitô, sự lăng nhục đối với các nhà thương thuyết cuối cùng của ta và sau hết, đối với lời đe doạ của ông M. Montigny về sự nổi giận và trả đũa tức thời của Pháp. Còn về việc chiếm cứ hoàn toàn và truất phế nhà vua, Đức cha cho rằng sẽ có lợi hơn, nếu ta chiều theo tình cảm của nhân dân, bằng không sẽ nảy sinh những rắc rối trong nước cũng như bên ngoài và theo ngài, nên bắt nhà vua ngay khi đến nơi và vẫn để cho nhà vua có quyền trên danh nghĩa, nhưng vì rất có thể nhà vua sẽ tự treo cổ cùng với quan đầu triều đình của mình ta sẽ phải cai trị thông qua người kế vị vua, người này khó có thể cảm thấy bị nhục giống như vị vua trước mà tự tử được. Việc giữ lại ngôi vua và những lợi ích từ một nền hành chính công bằng và liêm khiết do người Pháp điều khiển và mang lại, sẽ làm rạng danh nước Pháp, và sự bảo hộ của Pháp sẽ được toàn thể nhân dân chấp nhận. Đức cha Pellerin còn ngụ ý rằng những nỗ lực khai hoả của ta sẽ được sự giúp đỡ rất nhiều của sáu trăm ngàn tín hữu công giáo người Việt, của đông đảo c ác thầy giảng do các thừa sai đào tạo rất quen thuộc với phong cách và tập quán của ta và hầu như với cả tiếng nói nữa, vì tất cả đều nói và viết la tinh lưu loát, các thầy giảng này sẽ là vườn ươm nơi ta tuyển các quan lại. Thông qua họ, chúng ta có thể cứu vớt một dân tộc 40 triệu người thoát khỏi sự áp bức mà các nhà lãnh đạo của họ hiện đang bắt họ phải chịu...

... Ông Jaurès muốn biết việc thâu thuế có dễ dàng không, có những loại thuế nào, và cách thâu thuế ra sao.

Giám mục Pellerin trả lời có hai loại thuế: Thuế thân, một quan mỗi năm (1 fr 25), đàn bà và trẻ em được miễn. Và thuế ruộng đất, mỗi giạ lúa nặng 150 cân Anh cho mỗi hecta, hoặc cho một miếng đất trồng được 25 giạ. Việc phân chia các đơn vị hành chính hầu như cũng giống của chúng ta, nên việc thâu thuế rất dễ. Hơn nữa, chúng ta sẽ tìm thấy ở Huế, trong cung điện, nơi nhà vua một mình sống với năm ngàn bà vợ, một kho tàng có thể trị giá tới năm mươi triệu francs...

... Ông chủ tịch yêu cầu Giám mục Pellerin cho biết một số chi tiết về vấn đề thương mại.

Từ những tin tức mà vị giám mục cho biết có vẻ như đất Nam Kỳ có khí hậu hiền hoà, đất đai màu mỡ, có nhiều sông và kênh đào cắt ngang dọc và đưa nước tới. Đất ấy sản xuất được nhiều tơ, đường, bông, lúa gạo, trái cây, thuốc lá, chàm, gỗ xây dựng, gỗ tếch, gỗ căm xe, gỗ cẩm lai, cây có dầu, cây cà phê mọc tốt, một vài con sông đầy những vàng và trên núi có than đá, đồng, sắt và các khoáng chất khác. Đất ấy cũng sản sinh được ngựa tốt, mặc dầu giống nhỏ, heo, bò, trâu, hươu, nai, heo rừng và đủ loại cầm thú. Miền đất duyên hải và dưới sông thì đầy những cá. Rượu đế và rượu rum thì được lên men từ gạo và đường. Tóm lại lượng thực rất đa dạng, hiền lành, nhiều và rất rẻ, tất cả đều quan trọng cho cuộc viễn chinh và chiếm đóng luôn.

Việc xuất cảng những sản phẩm này không có gì khó, chủng loại và số lượng sẽ gia tăng, khi hàng hoá được bảo vệ an toàn và dễ bán.

Còn về nhập cảng, người dân không cần cù tí nào và họ sẽ lập tức dùng ngay rượu của ta, vải vóc, nhung lụa và bông của ta, đồ sắt của ta và cả ngàn sản phẩm khác từ Paris mà họ chưa hề biết.

Giám mục Pellerin còn cho biết chi tiết về tình hình lạc hậu về công nghiệp của dân này.

Sau khi Pellerin và Chamaison đã rút lui, ông chủ tịch nhắc nhở uỷ ban một lần nữa rằng, nếu chính phủ tung ra một cuộc viễn chinh điều cần thiết là phải tránh sự phản đối của người Anh, và ông chỉ thị cho uỷ ban phải lưu ý điểm quan trọng và khó khăn này.

Ông Cintrat cho rằng khi quyết định tiến hành một cuộc viễn chinh ở Nam Kỳ, thì không nên đặt vấn đề với người Anh, vì như vậy sẽ tạo than phiền và cãi vã. Lúc ấy người Anh sẽ cảm thấy bị xúc phạm khi ta vào Nam Kỳ một mình, mà điều quan trọng là ta phải vào đó một mình. Nếu ta thông báo cho người Anh về ý định của ta rồi lại làm theo ý ta mà không đếm xỉa gì đến phản ứng của họ, những rắc rối khác mà ta phải tránh có thể xảy ra. Như thế, nếu quyết định viễn chinh, ta nên tiến hành mà không thông báo cho nội các Anh và Pháp phải hành động cương quyết và thẳng thừng…

Ông Fleury cho rằng trong những động cơ quyết định cuộc viễn chinh của ta, phải là sự thông báo của ông De Montigny, người đã một cách nào đó, cảnh cáo triều đình Huế và sự khả dĩ sẽ gởi tới một lực lượng áp đặt.

Ông chủ tịch cho rằng tạm thời hiệp ước 1787, dù là khởi điểm cho sự thảo luận của chúng ta, được coi như gác sang một bên, rằng sự thất bại của ông Montigny đã làm tình thế thay đổi và quyền hạn của chúng ta cũng thay đổi rằng một cuộc thương thảo có lẽ sẽ buộc chúng ta phải tham khảo và lưu ý đến những ý kiến khác và rằng chúng ta phải tránh bất cứ điều gì có thể làm cho nước Pháp mất tự chủ trong hành động. Ông cho rằng chúng ta phải làm cho công cụ ộc này hoàn toàn là việc của người Pháp, một công cuộc vừa có chính cách chính trị vừa có tính cách tôn giáo, với mục đích đòi bồi hoàn cho việc các thừa sai Pháp, đồng bào của chúng ta, từ lâu vẫn bị bách hại và mới đây còn bị giết hại nữa, đồng thời thiết lập một cơ sở chính trị bảo vệ cho mọi quyền lợi của chúng ta.

Ông chủ tịch nhận thức rằng đương nhiên chúng ta sẽ gặp phải lời bình luận và ngạc nhiên của người Anh. Ông nói thêm rằng chính phủ cần ý kiến của uỷ ban về chính vấn đề hậu quả do thái độ của người Anh. Ông kết thúc và nói rằng vụ này và vụ chinh phạt Trung Quốc là hai vấn đề phải tách biệt ra. Cuộc chinh phạt Nam Kỳ, nếu diễn ra phải bắt đầu một cách bí mật và bằng một lực lượng riêng và việc ông De Montigny thất bại đã cho chúng ta thẩm quyền tự do hành động.

            Tóm lại, uỷ ban chúng tôi xác định lập trường ủng hộ việc thiết lập một nền bảo hộ, như một kết hợp những điều kiện thuận lợi nhất đối với quyền lợi của chúng ta và như một biện pháp không khó thực hiện lắm.

            Đại tá Jaurès đọc lớn tiếng một bản kế hoạch đầy đủ về quân sự, hải thuyền và tài chánh cho một đội quân viễn chinh gồm 2600 người, do chính ông và đại tá Fourichon soạn thảo trên căn bản các con số chính thức…(Bộ ngoại giao, Paris loạt các biên bản và văn kiện: Châu Á, Tập 27 bis).

5. Bản phụ đính và biên bản buổi họp thứ bảy của uỷ ban Nam Kỳ, Paris ngày 18 tháng 5 năm 1857.

            Uỷ ban được giao phó nhiệm vụ nghiên cứu một dự án và đệ lên cho hoàng đế, xin ngài đòi buộc vua xứ Nam Kỳ (hay là Annam) thi hành bản hiệp ước được ký kết năm 1787, theo đó vị tiền bối của nhà vua đang trị vì đã nhượng bộ cho nước Pháp, để đổi lấy sự giúp đỡ về quân lính, tàu bè và súng đạn, một vài đồn trú quân, cùng với một số đặc quyền thương mại.

            Uỷ ban cần xem xét trước hết là vấn đề quyền hạn, nghĩa là giá trị hiện tại của bản hiệp ước, mà căn cứ vào đó Pháp đòi hỏi một vấn đề có liên hệ đến những sự kiện lịch sử.

...Về vấn đề quyền hạn, uỷ ban phải thừa nhận rằng trên quan điểm luật chung, bản hiệp ước năm 1787 là một cơ sở rất mong manh cho việc đòi hỏi phải thi hành đúng đắn. Tuy nhiên, không thể phủ nhận được ảnh hưởng mà Đức Giáo mục Adran, các sĩ quan Pháp, và sự giúp đỡ của vua Louis XVI đã gây nên, đem lại một kết quả rất có lợi cho ông hoàng Nguyễn Ánh và những người kế vị ông, uỷ ban cho rằng chừng đó cũng đủ làm cho ban hiệp ước năm 1787 có được đôi chút giá trị. Ở Châu Âu cũng như ở ngay cả Nam Kỳ cũng chẳng có gì là quá đáng việc Pháp, với lý do truyền thống hoàn toàn đúng đắn, đưa ra một yêu cầu cho những người thuộc dòng dõi ông hoàng Nguyễn Ánh, phải thực hiện những nghĩa vụ mà triều đại đã ký kết, nếu không phải là đối với nước Pháp, thì ít nhất cũng đối với những người đại biểu cho nước Pháp và đã thực hiện những ý định của vua Louis XVI một cách tốt đẹp và đúng mức.

NHỮNG HOÀN CẢNH ĐƯA TỚI VIỆC ĐẶT NỀN MÓNG CHO MỘT CƠ SỞ Ở NAM KỲ.

  • Những quyền hạn đặt căn bản trên các sự kiện và trên những tính toán tôn giáo, chính trị.

            Theo tình hình hiện nay, Uỷ ban tự hỏi phải chăng không có hoàn cảnh nào đem lại được cho Pháp một quyền hạn mới, không phải chỉ là quyền thương thuyết trên căn bản của hiệp ước năm 1787 mà còn theo đúng vấn đề được đệ nạp cho Uỷ ban nghiên cứu, thiết lập một căn cứ ở Nam Kỳ. Uỷ ban thừa nhận rằng bây giờ, khi mà Anh Quốc đã bắt đầu chiếm đóng vài nơi ở Trung Quốc, chúng ta cũng có cơ hội đóng vai trò chính trị riêng của chúng ta, không phải ở Trung Quốc, nơi chúng ta có thể bị ganh tị và gặp nhiều khó khăn, mà ở một đất nước hơi xa Trung Quốc rất thuận lợi về thương mại và hàng hải, nơi chúng ta sẽ không gặp kháng cự cũng như cạnh tranh và nhất là tránh được sự đụng chạm trực tiếp với người Anh. Xúc động bởi ý nghĩ rằng, nếu Pháp đã mất những thuộc địa rộng lớn của mình, nó phải trong những hoàn cảnh thuận lợi, tìm cách bù lại những mất mát do những thất bại chính trị to lớn ấy đã gây ra. Và hoà mình với các phong trào tiến bộ, văn minh và bành trướng thương mại lớn lao sắp sửa diễn ra ở Trung Quốc, Uỷ ban đã xem xét kỹ các hoàn cảnh có thể biện minh cho việc chúng ta chiếm cứ Đông Dương. Uỷ ban chúng tôi thừa nhận rằng, Pháp có những nghĩa vụ phải làm đối với chính mình, với tôn giáo và với sự văn minh, và bởi vì vua xứ Nam Kỳ đã không chịu thương thảo các hiệp ước, ngược đại và giết hại nhiều Thừa sai của ta, lăng nhục các sĩ quan và mới đây đặc sứ của ta, những sự việc này đã cho chúng ta duyên cớ chính đáng để can thiệp bằng vũ lực nhằm bảo vệ lợi ích thương mại, chính trị và tôn giáo của chúng ta. Ngoài những điều đặc biệt vừa mới xét đến, còn có những điều khác liên hệ đến tình hình chính trị nói chung. Đó là trong khi các cường quốc hàng hải khác đều có ít đất đai trong vùng, giữa Ấn Độ và Trung Quốc, Pháp không thể vẫn ở trong tình trạng kém đau lòng đối với niềm tự hào và tai hại cho sự thịnh vượng về thương mại của mình, cũng như quyền được chia phần ảnh hưởng chính trị mà Pháp phải được hưởng trong một vùng mà các biến cố trọng đại đang được hình thành. Vì thế, uỷ ban chúng tôi cuối cùng đã đồng ý rằng nếu như việc chiếm đóng một hay nhiều cứ điểm ở Nam Kỳ có thể thực hiện được không khó khăn lắm và nếu việc chiếm đóng ấy là chính đáng theo quan điểm của các cường quốc hàng hải, như trường hợp bị khiêu khích bởi những hành động tương tự như những hành động đã dẫn đến cuộc chinh phạt đối với Trung Quốc và căn cứ vào những quan hệ lâu đời giữa ta và Nam Kỳ và sau rốt là việc họ từ chối thương lượng, chúng ta không có lý do để chờ đợi kháng cự quá mạnh. Trái lại, nhiều cường quốc sẽ hài lòng và lưu ý sự đóng góp của Pháp vào các công cuộc, từ kết quả của sự đấu tranh lâu năm giữa phương Tây và vùng viễn Đông.

  • Cứu xét về tình hình của ta trong liên hệ với Anh Quốc.

           Một khó khăn duy nhất làm uỷ ban chúng tôi quản ngại là không biết việc ông De Montigny trao đổi tin tức với ngài John Bowring về chuyến đi Nam Kỳ sau này của mình có làm chúng ta phải hy sinh một ít tự do trong hành động không. Và không biết sau khi nhờ các dịch vụ hữu hiệu của ngài John Bowring để ký kết hiệp ước giữa ta và các vua Thái Lan, và yêu cầu ông ta hợp tác trong việc thương thuyết hiệp ước ở Nam Kỳ, chúng ta có còn hành động được một mình, mà không vi phạm một thoả hiệp hiểu ngầm giữa ta và Anh Quốc, là cùng nhau hành động trong những vụ việc nằm trong vùng giữa Ấn Độ và Trung Quốc không.

            Uỷ ban cứu xét điều này với cùng một mối quan ngại chúng tôi cảm nhận được về sự ác cảm ai cũng biết của Anh, đối với bất cứ cường quốc nào muốn chơi trội ở vùng biển và vùng lãnh thổ mà họ từng độc quyền ngự trị và buôn bán từ trước đến nay. Uỷ ban chúng tôi nghĩ rằng tình hình đã trở lại trạng thái ban đầu, khi ông De Montigny thất bại, và bây giờ chúng ta không bị ràng buộc bởi ước muốn của ông John Bowring về một cuộc thương thuyết chung, khi mà người thương thuyết của chúng ta đã thất bại, rằng sự thất bại mới này là điều đau đớn chỉ riêng nước Pháp phải gánh chịu, nên chúng ta có toàn quyền quyết định đòi bồi thường về việc ấy hay không, và sau hết rằng nếu Anh Quốc chiếm được những vị trí và đất đai ở Trung Quốc, đây là một điều khả dĩ, chúng ta càng có lý do chính đáng trong việc đòi được đền bù ở Nam Kỳ, dẫu sao chúng ta cũng có thể đưa ra những đòi hỏi chính đáng về việc ấy, vì tất cả những lý lẽ kể trên.

  • Lợi ích thương mại.

            Sau hết, trên quan điểm về lợi ích thương mại, uỷ ban chúng tôi nhất trí về những lợi ích trong việc chiếm đóng một xứ sở với hai mươi triệu dân (Đức cha Pellerin nói hơn hai mươi triệu), đất đai màu mỡ, hiền hoà, và có nhiều chủng loại và đáp ứng được những nhu cầu rất bức thiết của ngành kỹ nghệ chúng ta : bông và tơ lụa rất nhiều ở Nam Kỳ : đường và lúa gạo được trồng rất nhiều ở đó. Đất miền núi có rừng rất giàu gỗ xây dựng, kim loại, và tất cả các sản phẩm cơ bản và ăn được mà nước Pháp cần.

  • Về việc thi hành.

            Vì vậy, tóm tắt lại quyền lợi thương mại và chính trị của chúng ta đều chứng tỏ việc chiếm cứ Nam Kỳ là chính đáng và việc ấy đảm bảo cho chúng ta khai thác một xứ vừa giàu, vừa có vị trí thuận lợi để thành một căn cứ cho chúng ta trong tương lai, từ đó nếu cần chúng ta có thể theo dõi được một cách vừa hữu ích, vừa gần gũi những biến cố diễn biến ở Trung Quốc. Bằng cách này, nước Pháp sẽ làm được một việc vừa hữu ích cho quyền lợi của mình, vừa phù hợp với những nguyên tắc tôn giáo và văn minh mà nước Pháp tìm cách truyền bá trên toàn thế giới.Việc cứu xét vấn đề này mở rộng và bao gồm cả những điều kiện và phương thế thực hiện cần áp dụng để tổ chức cuộc chinh phạt và thành lập một vùng chiếm đóng. Kế hoạch này gồm việc phái một đội quân đông nhất là 2.600 người, bốn tàu chiến chở quân và một kinh phí không quá bốn triệu.

            Khi việc chiếm đóng đã thành công, có lẽ vùng bị chiếm sẽ phải tự phòng vệ lấy khi có chiến tranh hay nội loạn. Viêảnh xảy ra nội loạn rất ít và hậu quả không nguy hiểm : dân chúng ở đây rất dễ chinh phục : nền đô hộ của chúng ta sẽ cứu họ thoát khỏi cái ách đáng ghét và họ sẽ không nghĩ đến việc chống lại một chế độ đã giúp họ đủ thứ. Hơn nữa, chúng ta có thể tin vào sự yểm trợ của giáo dân Kitô giáo, gồm 300.000 người theo các tài liệu đã cũ và 600.000 người theo tin tức mới nhận được.

            Trong chiến tranh, hiển nhiên là các vùng chiếm đóng của chúng ta sẽ bị tấn công. Nhưng chúng tôi đề xuất rằng, một trong những ưu tiên bậc nhất về những vùng chúng ta chiếm đóng, là tạo ra một mạng lưới phòng vệ dễ thực hiện, các thị trấn chính hầu như đều phải toạ lạc trên các con sông trong nội địa. Còn Đà Nẵng phải là một nơi để củng cố, chẳng hạn như trong cách phản kích tấn công tử ngoài biển. Cũng có người nói rằng, nếu chúng ta tự hạn chế, trong phạm ví một cuộc bảo hộ, thì những bất lợi trong việc giữ các vùng ấy sẽ bớt phần gây cấn trong thời chiến tranh. Hơn nữa, đang khi chúng ta đáp ứng nhu cầu phải chiếm đóng Nam Kỳ, trước hết chúng ta chớ nên lo ngại nguy cơ nó sẽ bị mất. Tuy nhiên, uỷ ban chúng tôi hiểu rằng, giải pháp cho vấn đề này hoàn toàn tuỳ thuộc vào chính phủ.

  • Về dạng thức chiếm đóng Nam Kỳ.

            Vấn đề còn lại là phải quyết định về tính chất của sự chiếm đóng mà chúng ta sẽ thực hiện. Chúng ta nên chiếm đóng hoàn toàn, hay một phần, hay chỉ nên bảo hộ?

            Trước khi xác định ý kiến về vấn đề này, uỷ ban chúng tôi muốn nghe ý định của cha Huc, một thừa sai ở Trung Quốc, đức cha Pellerin giám mục Biblos, người đã sống mười hai năm ở Nam Kỳ, ông Godoaux, nhân viên biệt phái trong phái bộ của ông De Motigny và Lm. Chamaison, một cựu thành sai ở Bắc Kỳ ( nguyên văn ).

            Sau khi lắng nghe ý kiến những vị này…Ủy ban chúng tôi đã thảo luận và sau khi nghiên cứu xét kỹ vấn đề đã kết luận :

1. Rằng chúng ta phải bác bỏ việc thương lượng một hiệp ước, nếu nó dựa trên cơ sở những điều kiện của năm 1787,, rằng một hiệp ước như thế sẽ dẫn đến sự bất tiện là một cuộc chiếm đóng một phần không có lợi như một cuộc chiếm đóng toàn phần hoặc một sự bảo hộ, và sẽ không bảo đảm được tương lai cũng như sự an ninh cho một cộng đồng ki tô giáo.

2. Rằng một cuộc chiếm đóng toàn phần sẽ có khuyết điểm là gây ra những khó khăn chính trị, và có lẽ một đôi chút bất mãn đối với những người, dù hoàn toàn tin phục và có cảm tình với nước Pháp, cũng sẽ không chối bỏ chủ quyền của một triều đại trong nước để vâng phục người ngoại quốc mà không luyến tiếc. Nhưng họ sẽ hân hoan đón tiếp những người dùng uy thế quyền lực thường xuyên của mình để giải thoát họ khởi sự áp bức tệ hại và đưa họ trở về sự thịnh vượng phần nào.

3. Rằng một sự bảo hộ sẽ có một cái lợi, là làm giảm những lo lắng của Anh quốc và đem lại cho chúng ta tất cả những lợi lộc của một sở hữu chính thức, mà không mắc phải các chuyện rắc rối. Rằng điều ấy sẽ bảo đảm cho chúng ta sự tự do khai thác đất ấy, và mở rộng cửa để đón nhận đạo chúa và nền văn minh. Rằng với tư cách là người điều khiển chính phủ nhân danh nhà vua chúng ta có thể phán đoán chính xác hơn việc nên cho phép quyền lợi của các cường quốc hàng hải khác một chỗ đứng đến mức nào. Rằng mô hình cơ bản này đã có tiền lệ có thể phải giải thích được và nếu cần, minh chứng được cho những gì cho chúng ta muốn làm ở Đông Dương, và sau rốt là ngay cả nếu chính sách và quyền lợi thương mại của chúng ta không bó buộc, lòng nhân đạo và niềm tin tôn giáo của chúng ta cũng không cho phép chúng ta bỏ qua một công cuộc đem lại vinh quang cho nền văn minh Kitô giáo, mà tuỳ thuộc vào đó là hàng trăm ngàn người Kitô hữu đã bị tai tiếng bởi phái bộ của ông Montigny.

            Đức cha Pellerin và Lm. Chamaison đã xác nhận điều mà ủy ban chúng tôi đã viết về sự dễ dàng thực hiện công cuộc này, sự tiếp nhận đầy thiện cảm của toàn thể dân chúng, sự màu mỡ của đất đai và đồi núi toàn là rừng.

            Tất cả mọi thứ đều sẵn ở đó khi chúng ta đến. Không có gì phải tạo nên cả. Chỉ cần thay thế một vài vị đại thần là đủ. Xứ ấy về mặt hành chính cũng tương tự như nước Pháp, có tỉnh huyện và thị trưởng, và chúng ta sẽ tìm các quan chức của chúng ta - nghĩa là những công chức tận tuỵ và có hiệu năng - trong số những người Kitô hữu ở Nam Kỳ. Nói tóm lại, chúng ta có thể thay thế chế độ hiện tại bằng một chế độ bảo hộ hầu như ngay lập tức.

            Uỷ ban chúng tôi nói thêm một vài suy nghĩ về vấn đề.

  • Những suy nghĩ chung

            Sự bó buộc của tình thế có vẻ như đã giới hạn nước Pháp vào lãnh thổ Châu Âu mà nó hiện đang sở hữu. Như thế, sẽ không thể chấp nhận nếu không bành trướng được ở Châu Âu, nước Pháp lại bó buộc phải giới hạn khả năng hành động của mình trong những khu vực nhỏ hẹp hiện nay trong khi ấy các quốc gia hàng hải khác tìm cách tăng cường sức mạnh và tài nguyên của họ, trong những vùng mà chúa quan phòng có vẻ như đã dành sẵn cho khả năng bành trướng rất to lớn của Châu Âu đang lúc gợi hứng cho nền văn minh chân chính các mục đích chính đáng là tìm cách thâm nhập vào đó.

            Ngày nay không ai còn nói được rằng các thuộc đại là vô ích và bởi vì các thuộc địa của Pháp luôn luôn bị cắt bớt mỗi khi có sự thụt lùi ở chính quốc, bây giờ chính là lúc sửa chữa những thiệt hại ấy vì nước Pháp đang giữ một vị trí thật nổi bật ở Châu Âu. Do sức mạnh của Pháp, đặt căn bản trên hoà bình, hiện nay cho phép mình có được những phương tiện để duy trì các thuộc địa không mơ tưởng vào thời điểm trước, khi mà khoảng cách và sự giao thông khó khăn, cũng như sự yếu kém về chính trị, đã không cho phép có giữ được an toàn các thuộc địa ở hải ngoại.

            Cần lưu ý một sự kiện có sức nặng đáng kể đối với cán cân quyền lợi ở Châu Âu. Anh Quốc có vẻ đã dứt khoát từ bỏ ưu thế, hoặc ngay cả sự trổi vượt của mình đối với các cộng hoà và các vùng đất Tây Ban Nha sở hữu kế cận Hoa Kỳ. Chủ thuyết Monroe thay đổi tất cả những gì có từ trước, nhưng chỉ khi nào Anh Quốc lấy lại được những mất mát của mình ở Ấn Độ, ở Trung Quốc và ở nước Úc, nhờ đó thu hút được như Hoa Kỳ - một trong hai nhánh lớn nhất của nền mậu dịch thế giới.

            Chúng ta chỉ có thể tiến lên ngang hàng với các cường quốc hàng hải lớn mà bành trướng và làm giàu như họ, bằng cách có được đất đai, khả n