curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

Diễn đàn mở rộng của nhóm chủ trương Giao Điểm

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

..........

      03_gd10.GIF (962 bytes)

    Tôn giáo: vấn đề của thời đại:
Mark_03.gif (833 bytes) Trở lại vấn đề: A. de Rhodes và chữ quốc ngữ Charlie Nguyễn
Mark_03.gif (833 bytes) Phật & Giêsu  Trần Chung Ngọc
Mark_03.gif (833 bytes) Những lời châu ngọc về Thánh kinh (TCN dịch) Robert G. Ingersoll
Mark_03.gif (833 bytes) Thùa sai Công giáo Pháp và chính sách đế quốc tại VN  (II) Patrick Tuck
Mark_03.gif (833 bytes) Vài nhận xét về “Thư góp ý Pháp lệnh tôn giáo” của ông PĐD Charlie N
Mark_03.gif (833 bytes) Tạp ghi tháng Mười  Nguyễn văn Hóa
Mark_03.gif (833 bytes) Vài nét Phật học trong tư tưởng Kant Thái Kim Lan
 
    PG 63 - 40 năm nhìn lại:
Mark_03.gif (833 bytes) Giới thiệu “Tuyển tập 1963-2003: 40 năm nhìn lại” của nhiều tác giả
 
  Hồ sơ đàn áp PG trước năm 1963:
Mark_03.gif (833 bytes) phần I: Lời giới thiệu | Sa môn T. Mãn Giác
Mark_03.gif (833 bytes) phần II: Dẫn nhập
Mark_03.gif (833 bytes) phần III: hồ sơ đàn áp Tỉnh hội PG Phú Yên
Mark_03.gif (833 bytes) phần IV: hồ sơ đàn áp Tỉnh hội PG Bình Định
Mark_03.gif (833 bytes) phần V: hồ sơ đàn áp Tỉnh hội PG Quảng  Ngãi
 
   Nhận diện về Ngô Đình Diệm:
Mark_03.gif (833 bytes) phần I: Diệm với Nhật, Pháp và Việt Minh
Mark_03.gif (833 bytes) phần II: Diệm - Bảo Đại: “thành phần thứ ba”
Mark_03.gif (833 bytes) phần III: Thủ tướng toàn quyền (1954-1955)
square-brown.gif (51 bytes)7 điểm thất bại của Ngô đình Diệm Bùi Kha
 
     Văn học – sáng tác:
Mark_03.gif (833 bytes) Hiệp hội Tương tế Bắc Việt nghĩa trang Trần Vũ
Mark_03.gif (833 bytes) Đọc “Phồn Hoa Kinh’ của Hoàng Nguyên Nhuận  Nguyễn Văn
Mark_03.gif (833 bytes) Nguyễn Đình Thi trong tôi... ngoài tôi Hoàng Cầm
Mark_03.gif (833 bytes) Hoa Sứ chùa Già Lam Thái Kim Lan
 
   Câu chuyện thời sự tháng Mười:
Mark_03.gif (833 bytes) Tin ngắn Giao Điểm
Mark_03.gif (833 bytes) Chính quyền Bush thất bại mọi mặt Hoài Việt
Mark_03.gif (833 bytes) Vi khuẩn Jihad tấn công Pentagon (Pep Escobar) NV
Mark_03.gif (833 bytes) Chiến tranh trên sự thật (John Pilger)
Mark_03.gif (833 bytes) Hồ sơ cá nhân (Ignacio Ramonet)
Mark_03.gif (833 bytes) Ổ diều hâu ở Bộ ngoại giao (Jim Lobe)
08_gdmau.jpg (3664 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
whiteball.gif (923 bytes)  Trang nghiên cứu đối thoại quý bốn tháng 10-2003 whiteball.gif (923 bytes)

[ MỤC LỤC PHÂN CHIA THEO TRANG WEB - PHẦN I: DIỆM VỚI NHẬT, PHÁP VÀ VIỆT MINH ]

(Ghi chú của GĐ: Quan điểm nghiên cứu sử của tác giả Chính Đạo về “các nhà lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc” là quan điểm cá nhân, không nhất thiết phù hợp với quan điểm lịch sử của nhóm Giao Điểm)

Sơ lược tiểu sử
JEAN BAPTISTE NGÔ ĐÌNH DIỆM (1897-1963):
THỜI KỲ CHƯA NẮM QUYỀN, 1897-1954

Chính Đạo

Ngày 25/4/1961, Tướng Edward G. Lansdale—người được coi như hiểu biết rất rõ Việt Nam Cộng Hòa [VNCH]—viết báo cáo lên Thứ trưởng Quốc phòng Roswell L. Gilpatric, Chủ tịch Ủy Ban Đặc Nhiệm Việt Nam (Presidential Task Force on Vietnam), về “No Din Zee’em” (Ngô Đình Diệm) như sau: (1)

Ông ta lùn, mập tròn. . . Nhiều người không chú ý đến cặp mắt đen hay liếc trộm [snapping] của ông ta mà chỉ chú ý đến cặp giò chỉ vừa đủ chạm mặt đất khi ngồi. Tuy nhiên, ông ta không cảm thấy ngượng ngùng về chuyện lùn, và có vẻ rất tự nhiên chung quanh những người Mỹ cao lớn. . . .

Ông ta tỏ vẻ ăn uống ngon lành (và thường có sở thích ăn ngon). Nụ cười của ông ta có vẻ e dè và bất thường. . . .  Diệm sinh ngày 3/1/1901. . . Năm 25 tuổi [1926], Diệm đã được cử làm quan đầu tỉnh. Nhưng sau “sáu tháng làm Thượng thư” Diệm từ chức, trở thành “người hùng thực sự của người Việt.” Từ đó, anh em Diệm “âm thầm chống cả Pháp lẫn Cộng Sản.” Diệm là một người độc thân 60 tuổi, “đã cắt bỏ mối tình với người yêu đầu đời để dâng hiến cho tổ quốc.”

1. Department of Defense, US-Vietnam Relations, 1945-1967, 12 books, (Washington, DC: GOP, 1971), Bk 11, tr. 36-41.

Thực ra, Lansdale dường không biết nhiều, hoặc không muốn viết rõ về Tổng thống Diệm cũng như họ Ngô. Hầu hết chi tiết về hộ tịch Diệm cũng như thành tích chống Pháp của Diệm và gia đình Ngô Đình Khả, đều thiếu chính xác. Các học giả thế giới cũng chẳng bận tâm đến việc tu chỉnh lại tiểu sử  người cầm đầu phe thua cuộc. Đáng buồn hơn nữa, lịch sử Việt Nam, dưới mắt nhiều học giả thế giới, chỉ là một thứ “anecdotes” [câu chuyện thêm thắt vào] chính sách và sự can thiệp của các cường quốc như Mỹ, Nga, Trung Hoa, Pháp, Bri-tên, Nhật, v.. v... Người Việt cũng có lý do riêng để không muốn thấy có một tiểu sử chính xác về Diệm, từ chính trị, tôn giáo, tới ý thức hệ. Nên chẳng ngạc nhiên khi khối văn chương hiện hữu về họ Ngô hay Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa tràn ngập những lời “cung văn” hoặc “đào mộ,” bất chấp sự thực.

Bài viết này nhằm điền vào khoảng trống nói trên. Tư liệu chúng tôi sử dụng cơ bản là tập tiểu sử chính phủ Diệm do cơ quan an ninh Pháp thành lập ngày 5/7/1954, hiện vẫn còn chưa giải mật. Ngoài ra, còn nhiều tư liệu văn khố Pháp, Mỹ, Nga, Trung Hoa, cùng các tài liệu nguyên bản khác.

I. SƠ LƯỢC GIA THẾ:

Ngô Đình Diệm, ngoài tên “thánh” Jean Baptiste [Gioan Bao-xi-ta], còn có bí danh Nguyễn Bá Chinh. Theo tài liệu văn khố Pháp, Diệm sinh ngày 27/7/1897 tại Đại Phong [Phuong] hay Đại Phong Lộc, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.(2)

2. SHAT (Vincennes), Indochine, [10H 4195]. Tài liệu này hiện vẫn chưa giải mật. Xem phóng ảnh trong Nguyên Vũ, Paris Xuân 96 (Houston: Văn Hóa, 1997), tr. 165. Những chi tiết không có phụ chú trong bài này đều trích dẫn từ tài liệu trên. Xem thêm Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu [VNNB], tập III: Nhân vật chí, tái bản có bổ sung (Houston: Văn Hóa, 1997), tr. 262. Sẽ dẫn: Nhân vật chí, 1997.

Cha là Khả, một người theo đạo Ki-tô tân tòng, xuất thân thông ngôn cho Pháp, sau đổi qua ngạch quan lại Việt, lên tới chức Đề đốc Kinh thành (1905-1907). “Mẹ” là Phạm Thị Thân.

Anh em Diệm khá đông, gồm sáu trai, hai gái. Khôi, con vợ lớn, là anh cả. Diệm, theo lời đồn, đứng hàng thứ ba—em của Khôi, Thục—và anh của Ngô Thị Hiệp (bà Cả Lễ; chồng là Nguyễn Văn Ấm), dù Diệm lớn hơn Thục hơn hai tháng. Dưới Diệm có Nhu, Cẩn, Luyện, cùng một người em gái khác. Vì Khả chết khi Diệm còn nhỏ (17 tuổi khai sinh), Khôi quyền huynh thế phụ. Khôi chết, Thục có ảnh hưởng nhất trên Diệm.

Cha đỡ đầu Diệm là Nguyễn Hữu Bài (1863-1935), cha vợ Khôi, một thủ hạ cũ của Khả, cũng một Thượng thư uy quyền tại Huế từ 1907 tới 1933. Theo tài liệu Pháp, từ nhỏ Diệm đã được Bài nuôi dưỡng.

Sau ngày lên cầm quyền ở miền Nam, Diệm đổi ngày sinh thành 3/1/1901. Chẳng hiểu tại sao có việc “thay đổi” hộ tịch trên.

Việc thay tên, đổi họ và ngày sinh tháng đẻ là việc thường xảy ra ở Việt Nam. Trước hết, vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, việc khai hộ tịch không được kiểm soát chặt chẽ. Các viên chức xã ấp tại thôn quê không đặt nặng sự chính xác về ngày sinh của trẻ em. Cha mẹ nhiều khi khai rút tuổi con cái để nhắm mục đích nào đó, như đi học hay khai sưu thuế. Hơn nữa, việc đổi từ ngày nhật (dương) lịch qua nguyệt (âm) lịch rất phức tạp, đôi khi cha mẹ dùng ngày tháng sinh nguyệt lịch làm ngày tháng nhật lịch, rồi dùng năm nhật lịch tương đương trong khai sinh. Thông thường, cha mẹ hay khai rút tuổi các con. Nhưng rất hiếm trường hợp cha mẹ khai con mình tăng thêm ba bốn tuổi, ngoại trừ có biệt lệ nào đó. Phải chăng Diệm rơi vào trường hợp đặc biệt này, vì nếu sinh năm 1901, Diệm không thể nào được tập ấm chức Cửu phẩm và làm việc tại Tân Thư Viện Huế năm 1917, khi mới 16 tuổi.(3)

3. Xem Ngô Đình Diệm, “L’Encrier de S. M. Tu-Duc: Traduction des Inscriptions [Nghiên mực của vua Tự Đức: Bản dịch những chữ khắc];” Bulletin des Amis du Vieux Hue [BAVH], Bộ IV, số 3 (Tháng 7-9/1917), tr. 209.

Theo Ngô Đình Luyện, em út trong gia đình họ Ngô, Diệm đã khai tăng bốn tuổi (tức từ 16 lên 20 tuổi) để có thể vào trường Hậu Bổ.(4)

4. Phỏng vấn ngày 2/11/1985 tại Paris.

Điều này khó tin, vì mãi tới năm 1918-1919, Diệm mới khai là học viên trường Hậu bổ.(5)

5. Ngô Đình Diệm, “L’Ambassade de Phan Thanh Gian (1863-1864);” BAVH, Bộ VI, Số 1bis và 2 (Avril-Juin 1919), tr. 161. Luyện cũng  là một nhân chứng không đáng tin cậy. Thí dụ như khi được hỏi về vai trò chính trị của Luyện, Luyện nói được lệnh đứng ngoài chính trị. Thực tế, từ thập niên 1940, Luyện đã bí mật tham gia hoạt động cho tổ chức thân Nhật của họ Ngô, và trở thành đặc sứ của Diệm với Bảo Đại, trước khi nắm chức Đại sứ tại London. Luyện cũng tung những tin đồn về giao tình giữa Luyện và Bảo Đại, mà theo Bảo Đại không hề có. Xem báo cáo về cuộc đàm thoại tại Nice ngày 28/4/1955 giữa Bảo Đại với Gibson, Đệ nhất thư ký Tòa Đại sứ Mỹ; FRUS, 1955-1957, I:332-336.

Và, như đã lược nhắc, Diệm được tập ấm chức Cửu phẩm, làm việc tại Tân Thư Viện Huế từ năm 1917, trước khi vào trường Hậu Bổ.

Một trong những động lực trong việc sửa đổi hộ tịch có lẽ là để hợp thức hóa vai “em” của Diệm với Giám Mục Thục—Thục sinh ngày 6/10/1897 tại Phước Quả, Thừa Thiên, thua Diệm hơn hai tháng. Nhưng cũng có thể, và điều này cần được tra cứu thêm, Diệm không man khai hộ tịch, mà lý do rất đơn giản là không cùng mẹ (Phạm Thị Thân) với anh chị em khác.(6)

6. Xem tiểu sử Thục trong CAOM (Aix), GGI, CP 125; Chính Đạo, Nhân vật chí, 1997:312. Tại Việt Nam, tưởng cũng nên ghi nhận, có tục lấy tên “mẹ già,” tức vợ chính thức, để khai sinh cho các con ngoại hôn hoặc thê thiếp.

Có lẽ vì muốn che đậy bí ẩn này, tiểu sử Thục trong tập Vua chúa và người quí phái [Souverains et Notabilités] của Đông Dương năm 1943 không ghi ngày sinh.

Tài liệu văn khố Pháp cũng ghi Diệm sinh tại Đại Phong [Phuong] hay Đại Phong Lộc, Lệ Thủy, Quảng Bình, mà không phải Phước Quả, Thừa Thiên, giống như Thục, Nhu, Cẩn, Luyện, v.. v... Địa danh “Đại Phong Lộc” từng được khai là nơi sinh của Khôi, anh cả trong gia đình, con Khả và người vợ lớn đã chết sớm, trước khi Khả lấy bà kế thất tên Thân.(7)

7. Xem Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu [VNNB], Tập I-C: 1955-1963 (Houston: Văn Hóa, 2002), tr. 110.

Rất ít chi tiết về học vấn của Diệm đã được công bố. Có tin Diệm từng học trường Pellerin ở Huế, và tốt nghiệp Diplôme [Trung học đệ nhất cấp]. Diệm cũng biết cả chữ Nho [Hán Việt]. Lại có tin Diệm học ở chủng viện, nhưng bỏ tu nửa chừng. Bởi thế, nhiều hơn một tài liệu cho rằng Diệm thuộc loại “religious fanatic” [cuồng đạo].

II. “BÁT CƠM” BẢO HỘ PHÁP:

Trong nỗ lực biến hóa Ngô Đình Diệm thành một “lãnh tụ anh minh” đủ sức đương đầu với Hồ Chí Minh—kiểu “ăn Ngô thì no, ăn Hồ thì đói”—cơ quan tuyên truyền Mỹ và Nam Việt Nam tô chuốt cho Diệm những bảng hiệu như “yêu nước, chống Pháp,” v.. v... Thực ra, Diệm xuất thân từ một gia đình trung gian bản xứ phục vụ Bảo hộ Pháp rất tận tụy. Khả, cha Diệm, từng lên tới chức chánh thông ngôn tòa Khâm sứ Huế dưới thời Khâm sứ Rheinart des Essarts, rồi chuyển sang làm thương biện Viện Cơ Mật, năm 1892 dịch công văn của Viện Cơ Mật xin Toàn quyền Pháp đừng gửi ra Huế “những người như Petrus [Key], thông phán Tạo, Lê Duy Hinh, hay Diệp Văn Cương, v.. v...” Khả cũng tham dự chiến dịch đánh phá phong trào Cần Vương kháng Pháp tại Hà Tĩnh-Quảng Bình của Ngự sử Phan Đình Phùng trong hai năm 1895-1896, và được đặc cách lên chức Thái thường tự khanh (Chánh tam phẩm) năm 1896 sau khi hài cốt Ngự sử Phùng bị đốt thành tro, ném xuống sông Lam “theo [lối trừng phạt] truyền thống.” (8)

8. Xem Chính Đạo, Hồ Chí Minh (1892-1969), Con người & Huyền thoại, 3 tập (Houston: Văn Hóa, 1997), tập I:161-162; Phụ bản 5, trong Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, II:602-604. Trần Trọng Kim, trong Việt Nam Sử Lược, đã dẫn lời “một đại quan về hưu” để bài bác chi tiết trộn tro than Ngự sử Phùng bắn xuống sông Lam này. “Đại quan về hưu” dấu tên này chắc không thể biết rõ sự việc bàng chính Khâm sứ Huế, người viết báo cáo vào tháng 2/1896. Đó là chưa nói đến thói quen chối tội của các tội nhân hình sự. Đáng tiếc vì không được huấn luyện về phương pháp nghiên cứu và viết sử, lại không có tư liệu, Trần Trọng Kim khiến tập phổ thông lược sử của ông chứa nhiều dữ kiện và nhận định lầm lạc.

Sau một thời gian làm Phó Giám đốc trường Quốc Học ở Huế, đặc trách vấn đề nhà cửa, lương bổng và hành chính, Khả được giao chức Đề đốc kinh thành, lo việc bảo vệ và kiểm soát Thành Thái (1889-1907), cầm đầu một toán thân binh cạo răng trắng, hớt tóc ngắn, mang súng trường, nhưng nhiệm vụ chính yếu—nếu tin được báo cáo của Hiến binh Pháp—chỉ để giúp vua lùng sục và bắt cóc gái đẹp quanh kinh thành. Khi về hưu, Khả được chức hàm Thượng thư.(9)

9. Xem bản dịch một bài thơ của vua Tự Đức của “hàm Thượng thư” Khả trong BAVH.

Khôi, anh cả họ Ngô, bắt đầu “tham chánh” từ năm 1910, sau khi tốt nghiệp trường Hậu bổ. Khoảng 6 năm đầu, Khôi làm tại văn phòng cha vợ là Nguyễn Hữu Bài, Thượng thư Bộ Công. Sau ngày tiếp tay cho Khải Định (1916-1925) lên ngôi, Bài được thăng lên Thượng thư Bộ Lại, và Khôi bắt đầu đi ngồi huyện, phủ, rồi lên tới Tuần vũ, Tổng đốc.

Diệm thì năm 1917, được tập ấm chức Cửu phẩm, làm việc tại Tân thư viện Huế (tức Musée Khải Định sau này). Năm 1918-1919, Diệm vào trường Hậu bổ Huế. (10)

10. Xem chú 5 supra. Diệm chỉ dịch một phần tập tâu của Phan Thanh Giản và Phạm Phú Thú, dưới sự hướng dẫn của Nguyễn Đình Hòe.  Phần còn lại do Trần Công Tạn dịch. Tác giả đa tạ ông Nguyễn Đắc Xuân đã cung cấp một phóng ảnh bài viết này.

Người đỡ đầu của Diệm có lẽ là Nguyễn Đình Hòe, một phụ tá cũ của Khả, lúc đó làm Giám đốc trường Hậu Bổ. Thời gian này, triều đình Huế đã bỏ lối thi Hương và thi Hội truyền thống, và trường Hậu bổ mở thêm một phân khoa Pháp chính của trường Đại học Hà Nội. Học viên học tại Huế hai năm đầu, và năm thứ ba phải ra Hà Nội. Có lẽ Diệm được chuyển qua chương trình này.

Tốt nghiệp năm 1922, nhờ ảnh hưởng của Thượng thư Bài, Diệm được bổ nhậm ngay. Năm 1929, Diệm lên tới chức Tuần Vũ Bình-thuận (Phan Thiết). Được cấp trên đặc biệt chú ý vì thanh liêm và tinh thần diệt Cộng rất cao. Một số nhân chứng ghi nhận rằng Diệm, khi làm tri phủ Hoà-đa (Bình Thuận), đã dùng đèn cầy [nến] thiêu đốt hậu môn tù nhân CS để lấy khẩu cung. (11)

11. Lời chứng của Nguyễn Thi, trong Trần Văn Giàu, Miền Nam giữ vững thành đồng (Hà Nội: NXB Khoa Học, 1964), tập I, tr. 36; Nguyệt Đàm và Thần Phong, Chín năm máu lửa dưới chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm (Sài Gòn: 1964), tr. 18. Theo hai tác giả này, nhân chứng là Cử nhân Nguyễn Trác, cựu Nghị viên trưởng An Nam. Xem thêm, Bùi Nhung, Thối nát. (Sài Gòn: 1969); Hoàng Trọng Miên, Đệ nhất phu nhân (Los Alamitos, CA: 1989), I:128-129.

Vì thế, theo Giám Mục Thục, Cộng Sản đã thuê một sát thủ ra tận Phan-rang mưu sát Diệm, nhưng Diệm chỉ bị thương.(12)

12. Nguyên văn: “Các anh em tôi cũng liên tục dâng hiến mạng sống họ cho nước Pháp trong dịp Cộng Sản nổi loạn. Diệm, em tôi, đã ngã xuống vì những viên đạn súng lục của một người Tàu Chợ Lớn, được gửi tới Phan Rang, nơi Diệm hăng say ngăn chặn sự xâm nhập của các cán bộ Cộng Sản từ Nam Kỳ” [Mes frères, eux mêmes ont exposé leur vie continuellement pour la France lors de la révolte communiste. Mon cadet Diệm a failli tomber sous les coups de révolver d’un chinois de Cholon, envoyé à cet effet à Phan Rang, où Diệm défendait énergétiquement l’entrée de l’Annam aux émissaires communistes envoyées de la Cochinchine]. Thư Ngô Đình Thục gửi Decoux ngày 21/8/1944; CAOM (Aix), PA 14, carton 2. Thư này do tác giả công bố lần đầu tiên trên báo Lên Đường (Houston) năm 1989; in lại trong Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu [VNNB], 1939-1975, tập I-A: 1939-1946, tr. 200.

Tóm lại, từ Khả xuống Khôi, rồi Diệm, tinh thần phục vụ và lòng trung thành với Pháp khá vững chắc. Khôi từng nhờ Nhu khai với Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Paul Arnoux ngày 18/8/1944 tại Huế rằng Khôi “xin thề trên thập tự giá” là lúc nào cũng coi Bảo hộ Pháp như “bát cơm” [bol de riz] của dòng họ mình. Khôi cũng thường nói với Diệm rằng sở dĩ người Pháp [Khâm sứ Emille Grandjean] không ưa vì “[họ Ngô] quá toàn vẹn,” và “Phạm Quỳnh thì khôn khéo, nên được cả Pháp lẫn Nhật quảng cáo tài năng.”(13)

13. Nguyên văn: “Francs ne veulent pas de nous, parce que nous sommes trop entiers, à fortiori Japonais qui préfèraient souplesse PHAM QUYNH dont ils vantent talent.” Báo cáo số 1806, A,B,C, D ngày 18/8/1944, Surete gửi DirSurGe; CAOM (Aix), 14 PA, c.2, d.19; trích đăng trong Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, III:856.

Giám mục Thục, trong thư ngày 21/8/1944 gửi Toàn quyền Jean Decoux, tóm lược rõ ràng nhất công lao và lòng trung thành với Bảo hộ Pháp của họ Ngô cũng như cá nhân Diệm.(14)

14. Xem chú 12, supra.

Dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp “yêu nước, chống Pháp” của Diệm, là cuộc "đảo chính cung đình" ngày 2/5/1933. Ngày này, Toàn quyền Pierre Pasquier (12/1928-1/1934) và Quyền Khâm sứ Léon Thibeaudeau (2/1933-7/1934) đột ngột bắt Bài và toàn bộ nội các về hưu. Việc này, theo báo Tiếng Dân, chấn động dư luận Huế. Bẽ bàng nhất cho Bài là Bài cùng các Thượng thư không hề được thông báo trước. Và, khi Khâm sứ Thibeaudeau tuyên bố danh sách nội các mới, một số người vẫn chưa kịp về đến kinh đô.

 Nguyên Pasquier, với sự thỏa thuận của Albert Sarraut, quyết định thực hiện một cuộc “đại cải cách” ở An-nam, đánh bóng uy tín nhà Nguyễn để làm giảm bớt và điều-kiện-hóa các phong trào quốc gia mới, nhất là sự du nhập và phát triển của phong trào Cộng Sản từ giữa thập niên 1920. Pasquier và Thibeaudeau đoạn tuyệt với nhóm hợp tác cựu trào (Nguyễn Hữu Bài, Ki-tô giáo), vốn chủ trương  đồng hóa và thống trị (theo kế sách của Giám mục Paul Puginier và Louis Caspar), lúc đó đang trở thành một thứ kiêu binh của cái mà Phạm Quỳnh và Bảo Đại gọi là “một văn phòng phụ thuộc nho nhỏ của Tòa Khâm,” tức triều đình Huế, lúc nào cũng mang sức mạnh của khối giáo dân bản xứ ra áp lực Pháp. Ngựa mới của Pasquier là phe tân trào (tiêu biểu bằng Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Thái Bạt, Lê Dư, v.. v...). Phe này chủ trương hợp tác tinh thành, hay Pháp-Việt đề huề. Quan chức Pháp đã chọn phe tân trào, vì chủ trương hợp tác có nhiều triển vọng thành công hơn trước sự lớn mạnh của các phong trào quốc gia mới. Trong khi đó, nhóm Quỳnh chấp nhận “tôn quân” cũng là yêu nước,” tạm ngưng lại đòi hỏi một thể chế cộng hòa.

Để làm giảm bớt sự chống đối và bi phẫn của nhóm cựu trào, Pasquier và Thibeaudeau đặc cách Diệm—con nuôi của Bài, cũng một trong hai Tuần vũ thanh liêm, chống Cộng nhiệt tình nhất—lên làm Thượng thư Bộ Lại.(15)

15. “Ngôi sao” thứ hai của Pasquier là Bùi Bằng Đoàn (1890-1955), từ Tuần phủ lên chức Thượng thư Bộ Hình. Ngày 6/5/1933, các tân Thượng thư mới có mặt đầy đủ tại Huế nhân dịp gắn huy chương cho Bài và 4 người khác. Ngày 17/5, Thibeaudeau chủ tọa phiên họp Hội đồng Nội các đầu tiên. Mười ngày sau, 27/5, tân Nội các họp dưới sự chủ tọa của Bảo Đại và Pasquier. Xem Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn, 1883-1945, 3 tập (Houston: Văn Hóa, 1999-2000), tập III:793. [Sẽ dẫn: Các vua cuối.] Đoàn sau này hợp tác với Hồ Chí Minh.

Nhiều tài liệu, kể cả một số mật báo viên, lầm lẫn ghi rằng Diệm được làm “quan đầu triều Bảo Đại.” Thực ra, từ tháng 5/1933, Bộ Lại mất đi ảnh hưởng của những năm trước, khi Bài được kiêm nhiệm chức Tổng lý [Chủ tịch Viện Cơ Mật], và chỉ ngang hàng với các Bộ khác. Người có uy thế nhất là Phạm Quỳnh, Thượng thư Bộ Giáo dục kiêm Ngự tiền Tổng lý của Bảo Đại. Quỳnh không những chỉ chuyển dịch lệnh của Toàn quyền và Khâm sứ -- Pháp cho Bảo Đại, mà còn đồng thời thiết kế việc thực thi các lệnh trên, cùng báo cáo kết quả lên Khâm sứ.

Thibaudeau còn cử Diệm làm Tổng Thư ký Ủy ban Cải Cách, và yêu cầu Diệm làm tờ trình về kế hoạch canh tân. Diệm, có lẽ với sự tiếp tay của Bài, đưa ra 2 điều kiện:

- Phải thống nhất Bắc và Trung Kỳ, và tái bổ nhiệm một Tổng Trú sứ (Résident Général) cho Trung và Bắc Kỳ như đã qui định trong Hoà ước 6/6/1884.

- Phải cho Viện Dân biểu quyền thảo luận.(16)

16. Báo cáo ngày 10/5/1933, Pasquier gửi Colonies; CAOM [Aix], INF, c.366/d.2905; Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, tập III:785-809, 1111-1145.

Đề nghị này giống hệt kế hoạch của Bài: Muốn cải cách, việc đầu tiên là phải hủy bỏ hai chức Thống sứ Hà Nội và Khâm sứ Huế; sau đó cho An-Nam ngân sách riêng. Nói cách khác, phải trở lại với Hiệp ước 6/6/1884—đòi hỏi mà Bài đã gieo xuống đầu óc thơ dại của vua Duy Tân từ năm 1915-1916, đưa đến việc vua Duy Tân bị truất phế rồi đầy qua Réunion cùng cựu hoàng Thành Thái (Bửu Lân) vào cuối năm 1916. Pasquier, dĩ nhiên, không chấp thuận.

Ngày 9/7/1933, Diệm ra Quảng-trị gặp Bài, ở với cha nuôi ít ngày. Trở lại Huế, ngày 12/7, Diệm nạp cho Thibeaudeau một bản sao đơn từ chức đã trình lên Bảo Đại. Lý do Diệm nêu ra là cơ cấu tổ chức hiện tại không phù hợp với Hiệp ước 6/6/1884—Hiệp ước này qui định Pháp chỉ giữ một chế độ bảo hộ kiểm soát (protectorat de contrôle) mà không phải bảo hộ trực tiếp (protectorat direct). (17)

17. Báo cáo số 303-A.P., 22/7/1933, Gougal gửi Colonies; INF, c.366/d.2905. Xem thêm Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, 2000, tập III:804-806.

Thibeaudeau rất bất mãn, gọi Bảo Đại từ Đà Lạt về Huế giải quyết. Bảo Đại bảo thẳng Diệm rằng không thể viện dẫn lý do chính trị để từ chức, vì đó là hành động phản nghịch. Diệm đành viết lại đơn từ chức khác ngày 18/7, nêu lý do muốn dành thì giờ cho việc tu hành. Lần này, Diệm được toại ý. Ngày 22/7, Thibeaudeau đổi Thái Văn Toản qua thay Diệm nắm bộ Lại, và đưa Tôn Thất Quảng, Tổng đốc Thanh Hóa, mới lập công lớn trong việc đàn áp đẫm máu tại các tỉnh Bắc An Nam, lên nắm Bộ Công và Nghi Lễ thay Toản.(18)

18. Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, III:806-807. Năm 1962, Diệm lại giải thích với một viên chức Mỹ như sau: Sở dĩ Diệm từ chức vì không đồng ý với chính sách “chống Cộng” của Pháp. Theo Diệm, Cộng Sản là sản phẩm của các chính phủ tả phái Pháp. Xem Memorandum of a Conversation, Saigon, January 16, 1922; FRUS, 1961-1963, II:41-42. Nội dung buổi nói chuyện này chứng tỏ Diệm, dù tự nhận đã nghiên cứu về Cộng Sản từ năm 1922 qua các tài liệu Switzerland [Thụy Sĩ], chẳng biết gì vai trò của địa bàn Trung Hoa cùng hoạt động của DALBURO Liên Sô Nga ở Vladivostok, Thượng Hải hay Hong Kong.

Ngay sau ngày Bài đột ngột bị cách chức, vài tờ báo Nam Kỳ công khai đả kích Pasquier. Theo một mật báo viên (Luật sư Lê Văn Kim), những bài đả kích trên từ Huế chuyển vào Sài Gòn. Tháng 12/1933, Diệm còn vào Sài-gòn gặp Nguyễn Phan Long, Lê Văn Kim, Jacques Lê Văn Đức v..v... bàn thảo kế hoạch trả thù Pasquier và Thibeaudeau. Tiếp đó, tờ La Tribune indochinoise [Diễn đàn Đông Dương] và tờ La Lanterne ở Paris mở chiến dịch đòi thay Pasquier bằng cựu Toàn quyền Alexandre Varenne (7/1925-11/1927) và đưa cựu Khâm sứ Yves Châtel (6/1931-2/1933) trở lại Huế.

Biết được tin này, Pasquier truất hết chức tước của Bài, Diệm và Pierre Nguyễn Đệ, Bí thư riêng của Bảo Đại, thuộc một gia đình trung gian bản xứ Ki-tô nổi danh khác ở miền Bắc (Án sát Nguyễn Liên). Diệm còn bị trục xuất khỏi Huế, chỉ định cư trú tại Quảng-bình. (19)

19. CAOM (Aix), INF, c.366/d.2905; Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, III:808.

May mắn cho Diệm, ngày 15/1/1934, Pasquier chết vì tai nạn máy bay trên không phận Paris. Năm sau, Bài chết tại Quảng Trị. Toàn quyền René Robin (7/1934-1/1937) và Khâm sứ Maurice Graffeuil (7/1934-5/1936, 4/1937-8/1941) phục hồi tước vị cho Bài, Diệm và Đệ. Diệm được về Huế dạy ở trường Providence [Thiên hựu] do Linh mục Thục, “anh trai” Diệm, làm Giám học.(20)

20. Năm 1934, Thục cũng tìm cách đả kích Bảo Đại bằng cách áp dụng “giáo luật” vào đám cưới của Bảo Đại với Nam Phương hoàng hậu. Pháp giải quyết bằng cách cho một linh mục Pháp cử hành lễ cưới trong bí mật.

III. HỢP TÁC VỚI NHẬT:

Thế chiến thứ hai (1939-1945) và việc Nhật xâm chiếm Đông Dương từ hai năm 1940-1941 khiến Diệm và họ Ngô đi tìm một bát cơm ngoại cường khác. Họ Ngô bí mật yểm trợ Hoàng thân Cường Để và từ năm 1942, công khai hợp tác với Hiến binh Nhật (Kempeitai).  Con trai lớn của Khôi, Huân, làm thông ngôn cho Nhật. Trong khi đó, Nhu (1910-1963) che chở cho hai con Cường Để, Tráng Đinh và Tráng Liệt,  tại văn khố Tòa Khâm sứ Huế. Những người thân Diệm cũng làm việc tại tòa Lãnh sự Nhật từ năm 1942.

Đầu năm 1943, Y sĩ Trương Kế An, thủ lãnh Liên Đoàn Ái Quốc Việt Nam, gặp Diệm ở Hà-nội. Pierre Đệ, anh rể hụt của Nhu, cũng có mặt.(21)

21. Note số 2995-SP/C, Huế, 4/4/43; 14 PA, c.1. Ít tháng sau, do sự dàn xếp của Thân Thị Nam Trân (1905-1986), vợ Luật sư Trần Văn Chương (1898-1986), Nhu khiến gia đình Nguyễn Liên phải hủy bỏ cuộc đính hôn để Nhu kết hôn với Lệ Xuân, con gái thứ hai của Nam Trân-Chương, thua Nhu tới 14 tuổi.

Trong khi đó, Khôi, Tổng đốc Nam-Ngãi, đã dùng Dinh thự của mình cho Diệm tiếp xúc với những cá nhân thân Nhật. Khôi còn cố ý che chở cho tín đồ Cao Đài trong vùng cai trị. Mật thám Pháp cũng tìm thấy trong nhà một người cháu họ của Khôi ở Quảng Nam, Ngô Đình Dậu, tài liệu liên quan đến Việt Nam Phục Quốc Hội của Cường Để. Vì việc này, trong buổi gặp mặt trên đèo Hải Vân, Khâm sứ Grandjean (6/1941-8/1944) ép Khôi về hưu không được hàm Thượng thư. Tháng 1/1944, Grandjean còn cho lệnh Bảo Đại trục xuất Diệm khỏi Huế, chỉ định cư trú ở Quảng-Bình. Anh em Diệm trút mọi hờn oán lên Phạm Quỳnh, đương kim Tổng lý [Tể tướng] triều đình. (22)

22. Mối hiềm khích, nếu không phải hận thù, giữa họ Ngô và Phạm Quỳnh, là điều bất cứ giới chức quan lại nào ở Huế đều rõ. Các viên chức Pháp quyết định không ngả theo phe nào, theo đúng chủ trương chia để trị. Xem thêm chi tiết trong Vũ Ngự Chiêu, “Social and Cultural Change in Vietnam Between 1940 and 1946,” Ph.D. dissertation, December 1984, University of Wisconsin-Madison, Part I, chapters 3, 4 & 6.

Mùa Hè 1944, Mật thám Pháp khám phá ra tổ chức Đại Việt Phục Hưng của Diệm, gồm khoảng 50 đảng viên tích cực, kể cả một số giáo sĩ; nằm ngay trong đội lính khố xanh (Garde indochinoise), cảnh sát v..v... Một trong những lãnh tụ là Trần Văn Lý, Tuần vũ Hà-tĩnh.(23)

23. CAOM (Aix), GGI, 7F 29, tr. 56.

Ngày 12/7, Trung úy Kuga Michio của Hiến binh Nhật đưa Diệm vào Đà Nẵng, rồi đáp phi cơ vào Sài-Gòn. Trong thời gian ở miền Nam, Diệm lui tới với Mitsuhiro, Chủ công ty Đại Nam [Dainan Koosi hay Dainan Konsi], trùm tình báo dân sự của Nhật, cũng người tự nhận là bạn thân của Cường Để.(24)

24. Matsushita [Tùng Hạ] đã tới Đông Dương từ thập niên 1920. Năm 1938, bị trục xuất; nhưng trở lại Sài Gòn từ năm 1941. Matsushita thường tuyên bố là bạn thân và đại diện của Cường Để tại Đông Dương.

Một tháng sau, ngày 12/8, một cán bộ của Diệm là Nguyễn Huy Tân, Cán sự Công chính ở Quảng-Ngãi, khai rằng tổ chức của Diệm có nhiều công chức người Việt, kể cả một Hạ sĩ quan Khố xanh [Đỗ Mậu]. Tân cũng khai Nhật đã chọn Diệm làm Thủ tướng, trong một chế độ quân chủ lập hiến mà người làm vua không nhất thiết phải là Cường Để. Hai ngày sau, 14/8, Paul Arnoux, Giám đốc Cảnh Sát, được lệnh bí mật khai thác Nhu và Khôi ngay tại Huế. Ngày 18/8, Arnoux báo cáo rằng Nhu nhìn nhận việc làm tội lỗi của Diệm, nhưng Khôi không dính líu, xin thề trên thập tự giá là chỉ muốn duy trì "bát cơm" Pháp cho. (25)

25. Xem chú 13 supra.

Ngày 20/8, vì tình hình Âu Châu đang rối loạn, phe “Pháp tự do” của Charles de Gaulle đang tiến vào Paris, Decoux đồng ý với đề nghị của Arnoux là chỉ trừng trị những cán bộ hạng trung, tránh khiêu khích Nhật.

Trong khi đó, ngày 21/8, Thục—đã được thụ phong chức Giám mục Vĩnh long từ năm 1938—viết thư xin Decoux nghĩ đến công lao hãn mã của cha mình với chính phủ Pháp trong việc “đánh dẹp phản loạn” (tức những phong trào Văn Thân và Cần Vương yêu nước, kháng Pháp) khi xét xử việc làm của Khôi và Diệm. Anh em Thục, Thục nhấn mạnh, cũng đã nhiều lần dâng hiến thân tâm cho Bảo hộ Pháp.(26)

26. Xem chú 12 supra.

Chẳng hiểu vì công lao to lớn của Khả (đặc cách từ Thương biện viện Cơ Mật lên Thái thường tự khanh, tức Chánh tam phẩm năm 1896), vị thế Giám Mục của Thục, thành tích phục vụ của anh em Diệm-Khôi, hay vì mối lo ngại cho sự an nguy chính bản thâ⮠Decoux, Pháp không tiếp tục truy cứu việc này.

Cuối năm 1944, đầu năm 1945, Diệm tá túc trong bệnh viện Chợ Quán, được trưng dụng làm cơ sở quân sự của Nhật, sau này đổi tên thành bệnh viện bài lao Hồng Bàng. Tại đây, Diệm cùng Y sĩ Nguyễn Xuân Chữ, Y sĩ Lê Toàn, Kỹ sư Vũ Văn An, Ký giả Vũ Đình Dy thành lập Ủy Ban Kiến Quốc, phò trợ Cường Để (27)

27. Nguyễn Xuân Chữ , Hồi ký Nguyễn Xuân Chữ  (Houston: Văn Hóa, 1996), tr. 243-249.

Cuối năm 1944, khi chuẩn bị kế hoạch Mago để lật đổ chế độ thân Vichy Decoux, Hiến binh Nhật đã dự trù Diệm sẽ trở thành Thủ tướng. Tuy nhiên, tình hình ngày một đổi thay mau chóng. Tướng Tsuchihachi Yuitsu, Tân Tư lệnh Quân đoàn 38—lực lượng trách nhiệm phòng thủ bán đảo Đông Dương chống lại cuộc đổ quân Đồng Minh—dồn mọi nỗ lực cho mục tiêu quân sự hơn chính trị. Bởi thế Tsuchihachi giữ Bảo Đại làm vua một nước Việt Nam “độc lập trong Khối thịnh vượng chung Đông Á,” chống việc đưa Cường Để về nước.

Tháng 3/1945, sau cuộc Hành quân Meigo (9-10/3/1945) loại bỏ chính quyền Decoux, Bảo Đại hai lần nhờ Nhật mời Diệm làm Thủ tướng, nhưng không có hồi âm. Mãi sau này, Bảo Đại mới được Nhật thông báo rằng họ không muốn dùng Diệm. (28)

28. Bảo Đại, Le Dragon d’Annam (Paris: Plon, 1980), tr.   . Mùa Thu 1945, Giám mục Thục cho rằng sở dĩ Diệm không nhận lời vì thấy chế độ do Nhật lập nên khó tồn tại lâu dài; hơn nữa quanh Bảo Đại có những thành phần tả phái và franc-mac-on [tam điểm]. CAOM (Aix), GGI, CP 125. Lời chứng này khó tin cậy. Mục đích của Thục là biện minh cho sự hợp tác của Diệm với Nhật. Và có thể Thục cũng không biết đến quyết định của Tsuchihashi.

Thay vào đó, tháng 4/1945, Trần Trọng Kim (1883-1952) được đưa từ Krung thêp về Huế làm Tổng lý nội các [Thủ tướng] “Đế quốc Việt Nam” (4-8/1945). (29)

29. Xem Vũ Ngự Chiêu, The Other Side of the 1945 Vietnamese Revolution: The Empire of Vietnam (4-8/1945) / Phía bên kia cuộc cách mạng 1945: Đế Quốc Việt Nam (4-8/1945) (Houston: Văn Hóa, 1996). Bản Anh ngữ tập sách nhỏ này, trích ra từ luận án năm 1984, đã in trong Journal of Asian Studies vào tháng 2/1986.

Thực ra, nhóm Diệm-Chữ đã bị phân tán ra khắp ba miền. Y sĩ Chữ về lại Nam Định, rồi Hà Nội, và cuối cùng trở thành Chủ tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Chính trị miền Bắc, thay Khâm sai Phan Kế Toại từ chức vào giữa tháng 8/1945. Diệm về lại Vĩnh Long, tá túc trong giáo phận của Giám mục Thục. (30)

30.   Vào cuối tháng 7, đầu tháng 8/1945, có những vận động đón Cường Để hồi hương làm Cơ Mật viện trưởng cho Bảo Đại, nhưng Cường Để không về nước được vì chiến tranh chấm dứt đột ngột vào giữa tháng 8/1945.

IV. DIỆM & VIỆT MINH:

Mặc dù sau này Diệm thường tuyên bố tại Việt Nam, Diệm chỉ nổi danh thua Hồ Chí Minh, từ khi Việt Minh cướp chính quyền vào tháng 8/1945 cho tới đầu năm 1947 là một giai đoạn bí mật nhất đời Diệm.

Như chúng ta đã biết, ngày 17-19/8/1945, Việt Minh lên nắm chính quyền ở Hà-Nội.(31)

31. Chủ tịch Ủy Ban Chính Trị Bắc Bộ đã bị bó buộc trao chính quyền cho nhóm Nguyễn Khang-Nguyễn Quyết. Xem Chữ 1996:284-290. Tài liệu CS Việt Nam cho rằng đây là một cuộc “cách mạng,” nhưng chưa phải là “cách mạng vô sản.” Xem những bài viết trên Cờ Giải Phóng (Hà Nội) từ tháng 8 tới tháng 12/1945.

Ngày 25/8, Bảo Đại tuyên bố thoái vị. Khôi và con trai trưởng là Huân bị Việt Minh bắt, rồi thủ tiêu ở vùng Phong-điền, Thừa-Thiên. (32)

32. Cùng bị sát hại với cha con Khôi là Phạm Quỳnh.

Ngày 7/5/1953, trong buổi thảo luận về tình hình Đông Dương tại Tối Cao Pháp Viện Mỹ, Diệm tuyên bố từng bị Hồ Chí Minh "cô lập" trong một làng thiểu số năm 1946. Sau 6 tháng, Hồ yêu cầu Diệm tham gia chính phủ. Diệm trả lời rằng vì biết Hồ là CS, Diệm muốn được toàn quyền và được biết mọi tin tức. Những người ủng hộ Diệm đòi Diệm phải được giao Bộ Nội Vụ và nắm ngành Cảnh Sát. Hồ do dự   ít tuần, rồi cuối cùng từ chối. (33)

33. FRUS, 1952-1954, XIII:554. Ngày 16/1/1962, Diệm lập lại chi tiết bị bắt giữ ở vùng thượng du Bắc Việt; FRUS, 1961-1963, II:42.

Việc Diệm bị Việt Minh bắt được nhiều nguồn tin khác xác nhận. Xuất hiện tại Biên-Hoà vào tháng 10/1945, khoảng hai tháng sau Thục khai với tình báo Pháp rằng Khôi và Diệm đều bị Việt Minh bắt và có thể đã bị xử bắn.(34)

34.   CAOM (Aix), GGI, CP 125; Nhân vật chí, 1997:313.

Ngày 28/12/1945, Tổng Giám mục Antonin Drapier viết cho Trưởng đoàn Truyền giáo Hải ngoại Pháp ở Sài-Gòn, rằng Diệm đã bị Việt Minh bắt.(35)

35.    CAOM (Aix), GGI, CP 125. Vẫn theo Drapier, Nhu, lúc ấy ở Hà-nội, không dám ra khỏi nhà vì sợ bị bắt cóc. Tại Huế cũng có tin Thục bị Việt Minh bắt.

Một ký giả Bri-tên ghi rằng theo Diệm, Diệm bị VM bắt vào tháng 9/1945, khi từ Sài Gòn ra Huế ngăn Bảo Đại đừng theo Hồ. Sau đó, bị giải lên thượng du gần biên giới Hoa-Việt, suýt chết vì bệnh sốt rét. Sáu tháng sau, HCM mang Diệm về Hà-nội, thuyết phục Diệm theo mình. Diệm không đồng ý, HCM bèn thả Diệm. Sau này, Hoàng Tùng cho rằng tha Diệm là một sai lầm. (36)

36. Stanley Karnow, Vietnam: A History (New York: Viking Press, 1983), tr. 216-217.

Một nguồn tin khác ghi rằng vào khoảng tháng 6/1946, khi Diệm đến Tuy-hoà ở nhà cha Độchính xứ Tuy-hoà, cán bộ VM đã "khéo léo" mời được Diệm lên miền Thượng (Mọi). Người gia nhân thoát chạy ra Phát-diệm, xin Giám mục Lê Hữu Từ giúp, sợ bị giống như Khôi. Từ bèn cùng Linh mục Phạm Quang Hàm và Dân biểu Ngô Tử Hạ vào Bắc bộ phủ xin Hồ tha Diệm. Chính Hồ cũng không biết việc này, và hứa sẽ can thiệp. Khoảng một tháng sau, Diệm về tới Hà-nội, Võ Nguyên Giáp cho gọi Nhu tới lĩnh về. (37)

37. Giám mục Lê Hữu Từ & Phát Diệm, 1945-1954 , tr. 117.

Những chi tiết quanh việc Diệm bị Việt Minh bắt có nhiều nghi vấn:

1. Theo thư gửi Decoux đề ngày 21/8/1944, Thục nói Cộng Sản từng sai một tên giết mướn người Hoa ra Phan-rang mưu sát Diệm, nhưng Diệm chỉ bị thương. Nếu bắt được Diệm năm 1945 hoặc 1946, ngay tại miền Trung, cách nào Cộng Sản tha Diệm?

2. Xét về ngày tháng Diệm bị bắt, cũng có phần không ổn.

a. Karnow dẫn lời Diệm là Diệm bị bắt vào tháng 9/1945. Sáu tháng sau, được tự do. Vậy, tức vào khoảng tháng 3 hoặc tháng 4/1946.

b. Ngày tháng mà Từ hoặc tác giả viết hồi ký cho Từ ghi là Diệm bị bắt đúng vào giai đoạn HCM đang ở Pháp, và mãi tới ngày 22/10/1946 HCM mới về tới Hà-nội. Vậy Từ can thiệp vào dịp nào? (Diệm cũng không hề nhắc đến việc được Từ và Hạ can thiệp).

c. Ngay chính Diệm, ngày 7/5/1953, chỉ nói mơ hồ đã bị "cô lập" tại một làng thiểu số trong 6 tháng vào năm 1946.

3. Không ai rõ Diệm được tha vào ngày tháng nào, và cũng chẳng ai rõ hành tung Diệm từ lúc được tự do tới khi xuất hiện ở Hà Nội vào đầu năm 1947 trong bộ đồ tu hành.

Cho tới khi có tài liệu rõ ràng, có thể  tin Diệm đã trốn trong nhà tu Redemptoristes [Dòng Cứu thế] ở Huế hay Đà Lạt như tài liệu văn khố Pháp ghi nhận.

Mark_03.gif (833 bytes) đọc tiếp Phần II: Diệm & Bảo Đại: “Thành Phần Thứ Ba”

Mark_03.gif (833 bytes) Go to top page

half_under_water_sw.gif (3365 bytes)

Home  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net