curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

Diễn đàn mở rộng của nhóm chủ trương Giao Điểm

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

..........

      03_gd10.GIF (962 bytes)

    Tôn giáo: vấn đề của thời đại:
Mark_03.gif (833 bytes) Trở lại vấn đề: A. de Rhodes và chữ quốc ngữ Charlie Nguyễn
Mark_03.gif (833 bytes) Phật & Giêsu  Trần Chung Ngọc
Mark_03.gif (833 bytes) Những lời châu ngọc về Thánh kinh (TCN dịch) Robert G. Ingersoll
Mark_03.gif (833 bytes) Thùa sai Công giáo Pháp và chính sách đế quốc tại VN  (II) Patrick Tuck
Mark_03.gif (833 bytes) Vài nhận xét về “Thư góp ý Pháp lệnh tôn giáo” của ông PĐD Charlie N
Mark_03.gif (833 bytes) Tạp ghi tháng Mười  Nguyễn văn Hóa
Mark_03.gif (833 bytes) Vài nét Phật học trong tư tưởng Kant Thái Kim Lan
 
    PG 63 - 40 năm nhìn lại:
Mark_03.gif (833 bytes) Giới thiệu “Tuyển tập 1963-2003: 40 năm nhìn lại” của nhiều tác giả
 
  Hồ sơ đàn áp PG trước năm 1963:
Mark_03.gif (833 bytes) phần I: Lời giới thiệu | Sa môn T. Mãn Giác
Mark_03.gif (833 bytes) phần II: Dẫn nhập
Mark_03.gif (833 bytes) phần III: hồ sơ đàn áp Tỉnh hội PG Phú Yên
Mark_03.gif (833 bytes) phần IV: hồ sơ đàn áp Tỉnh hội PG Bình Định
Mark_03.gif (833 bytes) phần V: hồ sơ đàn áp Tỉnh hội PG Quảng  Ngãi
 
   Đặc biệt của CĐ. : “Lược sử Ngô Đình Diệm”
Mark_03.gif (833 bytes) phần I: Diệm với Nhật, Pháp và Việt Minh
Mark_03.gif (833 bytes) phần II: Diệm - Bảo Đại: “thành phần thứ ba”
Mark_03.gif (833 bytes) phần III: Thủ tướng toàn quyền (1954-1955)
 
     Văn học – sáng tác:
Mark_03.gif (833 bytes) Hiệp hội Tương tế Bắc Việt nghĩa trang Trần Vũ
Mark_03.gif (833 bytes) Đọc “Phồn Hoa Kinh’ của Hoàng Nguyên Nhuận  Nguyễn Văn
Mark_03.gif (833 bytes) Nguyễn Đình Thi trong tôi... ngoài tôi Hoàng Cầm
Mark_03.gif (833 bytes) Hoa Sứ chùa Già Lam Thái Kim Lan
 
   Câu chuyện thời sự tháng Mười:
Mark_03.gif (833 bytes) Tin ngắn Giao Điểm
Mark_03.gif (833 bytes) Chính quyền Bush thất bại mọi mặt Hoài Việt
Mark_03.gif (833 bytes) Vi khuẩn Jihad tấn công Pentagon (Pep Escobar) NV
Mark_03.gif (833 bytes) Chiến tranh trên sự thật (John Pilger)
Mark_03.gif (833 bytes) Hồ sơ cá nhân (Ignacio Ramonet)
Mark_03.gif (833 bytes) Ổ diều hâu ở Bộ ngoại giao (Jim Lobe)
08_gdmau.jpg (3664 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
whiteball.gif (923 bytes)  Trang nghiên cứu đối thoại quý bốn tháng 10-2003 whiteball.gif (923 bytes)

[ PHẦN II ]

V. DIỆM & BẢO ĐẠI: “THÀNH PHẦN THỨ BA”

Đầu năm 1947, Diệm xuất hiện ở Hà-nội, ngụy trang như một tu sĩ dòng Cứu Thế. Được Pháp yêu cầu lập chính phủ chống Cộng, Diệm đưa một kế hoạch không thể chấp nhận được. Diệm còn gặp Charles Reed, Tổng lãnh sự Mỹ, tại Hà Nội. Trong thời gian ở Hà-nội, ngụ tại tu viện dòng Cứu Thế ở Thái Hà ấp. Ngày 11/4/1947, Diệm trở lại Sài Gòn. Ngày 5/9/1947, lại trở ra Hà-nội.

A. SỰ HÌNH THÀNH CỦA “THÍ NGHIỆM” BẢO ĐẠI:

Thời gian này, thí nghiệm Bảo Đại bắt đầu thành hình.(38) Thí nghiệm này nhằm ngụy trang cuộc tái xâm lăng Việt Nam của Pháp mà chính phủ de Gaulle đã phát động từ năm 1945.

38. Trước đây, thường có cuộc tranh cãi về hai chữ “giải pháp” [solution] và “thí nghiệm” [experiment]. Biến cố lịch sử cho thấy lá bài Bảo Đại không giải quyết được nhu cầu chính trị của phe chống Cộng, nên không là một “giải pháp.” Nó vẫn nằm trong phạm trù một “thí nghiệm.” 

Từ mùa Hè 1945, de Gaulle đã nỗ lực tìm một “chí sĩ quốc gia Việt Nam chân chính” để cầm cờ dẫn Pháp trở lại Đông Dương. Ứng cử viên được nhiều người biết nhất là Hoàng tử Vĩnh San (1900-1945), tức cựu hoàng Duy Tân (1907-1916), đã bị truất phế và đầy qua Réunion năm 1916. Tai nạn phi cơ ngày 26/12/1945 khiến giấc mộng của phe de Gaulle “tan biến như một giấc mơ đẹp.” Hai ngày sau, 28/12, Khâm sứ Vatican là  Tổng Giám mục Antonin Drapier trình lên Cao ủy/Linh mục Georges Thierry d’Argenlieu (1945-1947) kế hoạch cho Bảo Đại lên ngôi như trước ngày 9/3; rồi lập Hoàng tử Bảo Long làm vua, Hoàng hậu Nam Phương nhiếp chính, với Diệm làm Thủ tướng.(39)

39. Nguyên văn: “À mon avis, il serait avantageux pour le calme de rétablir le Roi comme chef régulier avant le 9 mars.” Ngày 28/12/1945, trong một lá thư gửi một giáo sĩ Pháp, Drapier cho rằng gia đình Bảo Đại là "gia đình thân Pháp bậc nhất trong dân chúng Việt Nam (la plus francophile de tous les annamites); CAOM (Aix), CP 125.

Một số chính khách, lãnh tụ giáo phái Việt Nam cũng xúc tiến việc thực hiện "giải pháp" Bảo Đại từ cuối năm 1945, đầu năm 1946. Người đầu tiên đưa ra ý kiến này là Lê Hữu Từ, tân Giám Mục Phát Diệm. Nhân dịp Bảo Đại về Phát Diệm dự lễ tấn phong của Từ, Từ hỏi Bảo Đại có mưu tính gì chăng; nhưng Bảo Đại không có phản ứng tích cực.

Một số chính khách không Cộng Sản cũng tìm thấy ở Bảo Đại sự lãnh đạo, hoặc ít nữa sự chính thống [legality] cần thiết, để chống Hồ. Hăng say nhất có lẽ là cựu Thủ tướng Kim và đảng viên trẻ Đại Việtkể cả Đỗ Đình Đạo v.. v...(40)

40. Trần Trọng Kim, Kiến Văn Lục: Một Cơn Gió Bụi (Sài Gòn: 1969), tr. 134ff. Sẽ dẫn: MCGB, 1969.

Việt Nam Quốc Dân Đảng [VNQDĐ] và Trung Hoa Quốc Dân Đảng [THQDĐ] cũng ít nhiều tiếp tay Bảo Đại rời Hà Nội vào trung tuần tháng 3/1946.

Tuy nhiên, mãi tới sau cái chết của Nguyễn Văn Thinh ngày 10/11/1946 và sự khủng hoảng của thí nghiệm "Cộng Hoà Nam Kỳ tự trị” tr.151;nhất là sau cuộc tấn công của Việt Minh trên khắp miền Bắc vĩ tuyến 16 tối 19/12/1946— vai trò Bảo Đại mới sáng giá hơn. Nước Pháp lúc này đứng trước một ngã ba đường. Một, tiếp tục thương thuyết với Việt Minh, hầu tìm một giải pháp chính trị. Nẻo đường khác, là đoạn tuyệt với chính phủ "ương ngạnh" [intransigence] của Hồ, đi tìm một "chí sĩ quốc gia" chấp nhận thỏa hiệp với Pháp. Hầu hết các cấp lãnh đạo Pháp—từ Bộ trưởng Marius Moutet cho tới đặc sứ Leclerc—đều nghĩ rằng đã đến lúc đoạn tuyệt với Hồ. Nhân vật ủng hộ Bảo Đại nồng nhiệt nhất là Léon Pignon, Cố vấn Chính trị của d'Argenlieu. Do Pignon tiến cử, ngày 14/1/1947, d'Argenlieu viết báo cáo mật về kế hoạch tái sử dụng Bảo Đại.(41)

41. Thierry d’Argenlieu, Chronique, 1985:385-92.

Moutet không chấp thuận.(42)

42. Nguyên văn công điện số 2464/CI/142, ngày 23/1/1947, như sau: "Ne suis pas d'accord. Ne rien décider avant que nouveau gouvernement ait formé directives;" Thierry d’Argenlieu, Chronique, 1985:387.

Thủ tướng Léon Blum (12/1946-1/1947) cũng không tán thành, nhưng chuyển kế hoạch này cho người kế vị là Paul Ramadier (1947-1948). Dẫu vậy, d'Argenlieu vẫn gửi nhân viên Mật thám Cousseau qua Hong Kong để liên lạc với Bảo Đại vào khoảng đầu năm 1947.

Sự thành hình của chính phủ Ramadier ngày 21/1/1947, và quyết định thay d'Argenlieu bằng Emile Bollaert ngày 5/3/1947 mang lại một không khí mới. Viên chức Pháp nghĩ đến một chính phủ Liên bang Việt Nam, với ba chính phủ địa phương tại ba kỳ, và một chính phủ trung ương tượng trưng sự thống nhất lãnh thổ. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là ai sẽ cầm đầu chính phủ trung ương đó. Hồ Chí Minh và Bảo Đại trở thành hai tâm điểm của các cuộc thảo luận.

Một số chính khách Pháp nghĩ rằng phải nối lại thương thuyết với Hồ. Theo họ, dù Hồ và các thuộc hạ thân tín là Cộng Sản, đa số cấp lãnh đạo Việt Minh chỉ là những người yêu nước. Hơn nữa, Hồ và các thuộc hạ là những người có khả năng nhất.(43)

43. Số người chủ trương thương thuyết với Hồ chỉ có Đảng Cộng Sản Pháp và một số cá nhân như Léon Blum. Ngày 31/12/1946, trong phần trích dịch những dư luận báo chí ở Paris, báo L' Humanite đăng lại lời bình luận của báo Le Parisien libéré [Người Paris Giải Phóng]: “Sẽ là một sự điên rồ khó tha thứ khi mưu toan đặt lên một chính phủ bù nhìn nào đó sẵn sàng hợp tác với chúng ta, nhưng không có nền tảng dân chúng. Một sự điên rồ mà trong tương lai sẽ rất đắt giá cho chúng ta.” (Nguyên văn: Ce serait une impardonable folie que de susciter pour pouvoir comme partenaire, un quelconque gouvernement fantoche prêt à la collaboration avec nous, mais sans fondement populaire. Une folie qui dans l'avenir nous couterait fort cher).

Một số khác chủ trương loại bỏ Hồ, thương thuyết với Bảo Đại. Theo họ, Bảo Đại có một số người theo ở Trung Kỳ; và được sự ủng hộ hoặc chấp thuận của nhiều nhân vật có uy tín tại Bắc cũng như Nam Kỳ. (44)

44. Cầm đầu nhóm này là phe Gaullist. Xem infra.

Ngày 1/4/1947 tân Cao Ủy Bollaert tới Sài Gòn với lệnh tái thiết lập những guồng máy cũ, nhưng đừng để lộ ra là Pháp muốn tái lập nền quân chủ. Việc làm đầu tiên của Bollaert là thay Pignon bằng Didier Michel.

Thời gian này, Bảo Đại sống ẩn dật tại Hong Kong. Rời Hà Nội qua Nam Kinh ngày 16/3/1946 trong phái đoàn viếng thăm thân hữu chính phủ Trung Hoa, nhưng đến ngày trở về, Bảo Đại nhận được thư Hồ khuyên nên du lịch thêm một thời gian. Cựu hoàng bèn sang Hong Kong, sống tại đây với một vũ nữ, dưới một tên giả trong khách sạn Saint Francis Hotel. Mùa Thu 1946, Bảo Đại tuyên bố với một ký giả Pháp, Jacques Sallebert, là với cựu hoàng, "chính trị đã chết." Bảo Đại cũng bày tỏ lòng kính phục Chủ tịch Hồ, và tiết lộ rằng sự thoái vị của mình là chiều theo ý dân.(45)

45. Nguyên văn: "Chính trị với tôi đã hết. Dân tộc tôi đã muốn dân chủ: tôi không có gì chống lại điều đó, bởi vì ngay từ đầu tôi đã cộng tác với chính phủ mới.... Tôi rất kính trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh" [La politique est pour moi une chose morte. Mon peuple a voulu une démocratie: je n'y ai fait aucune opposition, puisque j'ai même accepté, au début, de collaborer avec le nouveau gouvernement.... J'ai beaucoup d'estime pour le Président Ho Chi Minh....]; Combat (Paris), 15/10/1946; PA 28, Carton 7, Dossier 164; trích đăng trong Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, tập III, tr. 995-996.

Nhưng nhiều cá nhân và lãnh tụ các đảng phái chống Cộng vẫn tìm đến, lôi kéo Bảo Đại khỏi cảnh huống "về hưu" non ở tuổi 33. Trong số này có Nguyễn Tường Tam, Vũ Kim Thành, Trần Trọng Kim v.. v... Vào cuối năm 1946, đầu năm 1947, số người ủng hộ Bảo Đại được tăng cường thêm Hộ pháp của Cao Đài. Mới hồi hương vào tháng 8/1946, sau gần 5 năm lưu đầy, Phạm Công Tắc chủ trương hợp tác với Pháp để chống Cộng. Chính Tắc và Trần Quang Vinh, Tư lệnh lực lượng võ trang Cao Đài từ năm 1943, đã yểm trợ Y sĩ Lê Văn Hoạch lên cầm đầu chính phủ Nam Kỳ tự trị sau cái chết của Nguyễn Văn Thinh ngày 10/11/1946, hầu loại bỏ Trần Văn Tỷ. Cuộc tổng tấn công ngày 19/12/1946 của Hồ giúp Tắc mạnh bạo hơn. Ngày 1/1/1947, nhân dịp Moutet đang tham quan tình hình Đông Dương, Tắc yêu cầu Moutet cho Bảo Đại về nước; và hứa sẽ ủng hộ Bảo Đại.(46)

46. SHAT (Vincennes), 10H 643.

Nhưng các chính phủ tại Paris—với sự tham dự của Đảng Cộng Sản Pháp—còn chưa muốn đoạn tuyệt với Hồ. Vì nhiều lý do, viên chức Pháp vẫn khẳng định muốn thương thuyết, nhưng đặt thêm một điều kiện căn bản—đó là thảo luận trên thế mạnh, không để bạo lực chi phối, và sau khi đã vãn hồi trật tự. Ngày 20/12/1946, khi ra trước Quốc Hội điều trần, và tuyên bố sẽ qua Đông Dương tham quan, Moutet đã nhấn mạnh:

Nước Pháp muốn hoà bình, tôn trọng những nguyên tắc đã tuyên bố, nhưng không chịu khuất phục trước bạo lực. Chính sách của Pháp là bảo vệ quyền lợi nước Pháp và làm cho những quyền lợi ấy được tôn trọng.(47)

47. AAN, 1946 [Séance du 20 décembre 1946]:196.

Dù chỉ là một bình phong cho việc tái chiếm miền Bắc bằng võ lực, hay phát xuất từ lòng chân thành, những điều kiện tiên quyết này mở ra một câu hỏi then chốt—đó là thương thuyết với ai? Thêm vào đó, là giới hạn của những nhượng bộ Pháp có thể chấp thuận. Mặc dù bản tuyên cáo ngày 24/3/1945 của chính phủ de Gaulle đã trở thành dĩ vãng, đa số giới lãnh đạo Pháp vẫn nhấn mạnh ở điểm Đông Dương phải là một thành phần của Khối Liên Hiệp Pháp [L’Union Francse]; không thể thống nhất ba miền Bắc, Trung, Nam vì miền Nam là một thuộc địa, tức một phần lãnh thổ bất khả phân của Pháp như Hiến Pháp 1946 đã qui định; và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa [VNDCCH] của Hồ chỉ là một trong những phe phái mà người Pháp có thể thương thuyết.

Ngày 23/12/1946, Dân biểu André Mutter của hạt l'Aube—người từng yêu cầu bắt giữ Hồ tại Paris ít tháng trước—tuyên bố không thể đàm phán với chính phủ Hồ được nữa vì đó là "bọn phản bội" [traitres]. Mutter nhấn mạnh:

Chúng ta không thể coi Hồ Chí Minh như đại diện của một tiểu bang tự do [Etat libre]; đó là một kẻ sát nhân [assassin].(48)

48.   AAN, 1946, [2è Séance du 23/12/1946]:321.

Sau khi tham quan Đông Dương về, ngày 18/3/1947, Moutet khẳng định không thể thương thuyết với Hồ nữa. Vì Hồ không những chỉ coi việc ký Hiệp ước như một phương tiện tranh đấu; mà còn chủ trương bạo động.( 49)

49. AAN, 1947:882-883.

Mặc dù vẫn có những người như Pierre Cot chưa dứt khoát—đề nghị đừng nên qui lỗi cho một phe nào—phe cực hữu ngày thêm mạnh. Ngày 13/4/1947, Paul Reynaud tuyên bố trước Quốc Hội Pháp:

Hồ Chí Minh là một tên tội phạm [un criminel] và không thể có việc thương thuyết với hắn; hoặc hắn đã bị điều khiển [manoeuvré] và tự chứng tỏ thiếu khả năng để bắt chính quân đội của mình tuân lệnh, vậy thì, đó là kẻ thiếu khả năng và cũng chẳng nên thương thuyết với hắn nữa.(50)

50.   AAN, 1947:835.

Hôm sau, 14/4, Dân biểu Maurice Violette còn đi xa hơn, khẳng định: "Tinh thần quốc gia ở Việt Nam là phương tiện; cứu cánh là thực dân Liên Sô." (51)

51. AAN, 1947: 856, col 2.

Lời cáo buộc này khiến phe Cộng Sản Pháp, kể cả Marcel Cachin, cực lực phản đối. Ramadier phải công nhận cho tới thời điểm đó, Liên Sô hoàn toàn trung lập. Nhưng từ ngày này, dù công khai hay phía sau hậu trường, các viên chức Pháp, vì những lý do dễ hiểu, không ngừng tố cáo nguồn gốc Quốc Tế Cộng Sản [QTCS] của Hồ.(52)

52. Những tài liệu văn khố Nga và Trung Cộng mới giải mật cho biết Hồ chỉ chính thức nối lại liên hệ với Liên Sô Nga từ tháng 2/1950. Nhưng Stalin giao cho Bắc Kinh cai quản Đảng Cộng Sản Đông Dương. Theo một viên chức Trung Cộng, tối 16/2/1950, Stalin từ chối lời đề nghị của Hồ là Liên Sô và VNDCCH ký Hiệp ước hữu nghị giống như Nga mới ký với Trung Cộng.

Phe cổ võ việc cắt đứt thương thuyết với Hồ còn đưa ra thêm một lý do khác là từ ngày 19/12/1946, chưa ai được gặp Hồ. Sự biến dạng này khiến không thể không hoài nghi rằng Hồ đã chết; và, những phần tử quá khích như Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Hạ Bá Cang (Quận thọt) đang chi phối Tổng bộ Việt Minh. Những văn thư ký tên Hồ gửi cho viên chức Pháp trong những tháng cuối năm 1946, đầu năm 1947—kể cả bản kiến nghị do Trần Ngọc Ranh trao cho Pháp tại Paris vào tháng 2/1947—bị coi là đã giả mạo chữ ký Hồ.

Song song với chiến dịch hạ uy tín Hồ là việc tách rời Hồ khỏi khối đại đa số người Việt yêu nước. Ramadier, khi ra thuyết trình trước Quốc Hội vào tháng 2/1947, đã mở đầu cho khuynh hướng này. Tiếp đó, Moutet khẳng định Hiệp ước sơ bộ 6/3/1946 đã được ký kết với một chính phủ liên hiệp Việt Nam, mà không phải với cá nhân Hồ.

B. SỨ MỆNH CAO ỦY BOLLAERT:

Để đánh dấu sự thay đổi chính sách của mình, Ramadier quyết định thay Linh mục Cao ủy d'Argenlieu vì d'Argenlieu bị chỉ trích là còn nặng đầu óc thực dân; và vì d'Argenlieu có những khó khăn trong việc liên hệ với những người mà ông ta phải làm việc chung. D’Argenlieu không chịu từ chức, nên bị sa thải.

Bài diễn văn được coi như bản tuyên bố chiến tranh lạnh với Liên Sô của Tổng thống Harry Truman (1945-1953) ngày 12/3/1947 và kế hoạch viện trợ tái thiết Tây Âu của Ngoại trưởng George C. Marshall—được biết như “Kế hoạch Marshall”—ít tháng sau khiến chính phủ Ramadier ngày một nghiêng về phía loại bỏ Hồ, “một cán bộ QTCS.” Tuy nhiên, dự định của Paris nhằm biến hoá cuộc chiến tranh Việt Nam thành một điểm nổ của cuộc chiến tranh lạnh Tư Bản-Cộng Sản—hầu xin được viện trợ Mỹ và thiết lập chính nghĩa cho việc tái xâm lăng—không đạt được tốc độ mong muốn. Oat-shinh-tân không muốn trực tiếp can thiệp vào Đông Dương. Dù không muốn thấy “một chế độ tay sai của Mat-scơ-va thống trị bán đảo Đông Dương,” và cũng không muốn bị mang tiếng ủng hộ Pháp tái thiết lập chế độ thuộc địa kiểu tiền chiến tại thuộc địa này, Mỹ chỉ khuyên Pháp nên tìm được một "chí sĩ quốc gia chân chính" lên cầm đầu cuộc chiến chống Cộng. Bởi thế, suốt năm 1947, Bollaert gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm một giải pháp cho Việt Nam.

Dẫu vậy, Bollaert đặt xuống những nền tảng cho việc thực thi thí nghiệm Bảo Đại.

Giai đoạn đầu là những bước ngoại giao để loại bỏ Hồ.

Nguyên từ cuối tháng 12/1946, đầu tháng 1/1947, Hồ nhiều lần xin nối lại thương thuyết. Ngày 20/2/1947, ít tuần trước ngày Đại Hội Các Quốc Gia Á Châu tại New Dehli, Đài Việt Minh công bố một lá thư gửi Ramadier và Moutet của Hồ, kêu gọi thương thuyết. Việt Minh cũng nhờ đại diện Hồng Thập Tự Quốc Tế chuyển cho Lãnh sự Bri-tên một lá thư nghị hoà, nhưng viên chức Pháp ở Paris đều nói không nhận được. Mãi tới ngày 26/3, viên chức Ngoại giao Pháp mới nói với Đại sứ Mỹ Caffery là nhận được thư này, nhưng không ai dám khẳng quyết Hồ còn sống.(53)

53. FRUS, 1947, VI:81-82.

Cũng ngày này, tân Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám khẳng định muốn độc lập trong Liên Hiệp Pháp. Ngày 18/4/1947, Giám nhờ Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế chuyển cho Miguel de Pereyra, tân Ủy viên Cộng Hoà Bắc Việt, một công hàm yêu cầu ngưng bắn tức khắc và nối lại thương thuyết.(54)

54. FRUS, 1947, VIII:94-95.

Hôm sau, 19/4, Giám lại tuyên bố sẵn sàng điều đình, nhưng vì Pháp đòi Việt Minh phải nộp 50% khí giới, phóng thích tù binh Pháp. VM không chịu, vì như thế là đầu hàng. Việt Minh còn cử Thứ trưởng Ngoại Giao Phạm Ngọc Thạch tới Bangkok và các nước Đông Nam Á để vận động. Thạch hai lần tiếp xúc Tùy viên Quân sự Toà Đại sứ Mỹ ở Bangkok, nhưng không đạt kết quả.

Tháng 5/1947, Bollaert cử Paul Mus, cố vấn kinh tế, tìm cách liên lạc với Giám. Ngày 9/5, Mus gặp Giám ở Cầu Đuống, rồi được dẫn đi gặp Hồ. Tuy nhiên, khi nghe điều kiện của Bollaert—tức Việt Minh phải buông súng đầu hàng—Hồ chẳng có lựa chọn nào khác hơn từ chối. Bollaert cũng xúc tiến mạnh hơn việc thành lập các cơ cấu hành chính lâm thời tại các vùng chiếm đóng. Khởi đi từ Ủy Ban Chấp Chánh Lâm Thời [Comité administratif provisoire] ở Huế (12/4/1947) và Hội đồng An Dân Bắc Việt [Comité provisoire de gestion administrative et d'action sociale] ở Hà Nội (19/5/1947), các ủy ban hay hội đồng hàng tỉnh, hàng quận tiếp tục được thiết lập.

Trong hai tháng cuối Xuân, đầu Hạ 1947, Hồ lại mở chiến dịch kêu gọi thương thuyết. Ngày 19/6, Hồ tuyên bố muốn được độc lập trong Liên Hiệp Pháp. Một tháng sau, ngày 19/7, Hồ cải tổ chính phủ. Hai nhân vật "ôn hoà"—Hoàng Minh Giám và Tạ Quang Bửu—lên nắm Bộ Ngoại Giao và Quốc Phòng. Chu Bá Phượng, một lãnh tụ VNQDĐ vẫn được "nắm" chức Cứu tế, Xã hội (dù trên thực tế đang bị giam lỏng). Nguyễn Văn Tố, Đặng Văn Hướng, Bồ Xuân Luật là ba Bộ trưởng không bộ nào. Vũ Đình Tụng, Bộ trưởng Cựu Chiến binh, và Ngô Tử Hạ, Thứ trưởng Cựu Chiến binh, đại biểu Giáo phái Ki-tô. Tôn Đức Thắng mất chức Bộ trưởng Nội Vụ; Giáp lên chức Tổng Tư lệnh Quân đội.(55)

55. Thành phần chính phủ thứ tư của VNDCCH như sau: Chủ tịch: Hồ Chí Minh; Cố vấn: Vĩnh Thụy; Ngoại Giao: Hoàng Minh Giám; Quốc phòng: Tạ Quang Bửu; Tài chính: Lê Văn Hiến; Tư pháp: Vũ Đình Hoè; Kinh tế: Phan Anh; Canh Nông: Ngô Tấn Nhơn(?); Y tế: Hoàng Tích Tri; Lao động: Nguyễn Văn Tạo; Cứu tế, Xã hội: Chu Bá Phượng (?); Giáo dục: Nguyễn Văn Huyên; Cựu chiến binh: Vũ Đình Tụng (Y sĩ, Ki-tô); Trong hàng Thứ trưởng, có: Trần Duy Hưng (Nội vụ), Trần Văn Bính (Tài chính), Trần Công Tường (Tư Pháp), Nghiêm Xuân Yêm (Canh Nông), Tôn Thất Tùng (Y tế), Nguyễn Khánh Toàn (Giáo dục), Ngô Tử Hạ (Cựu chiến binh); Cù Huy Cận (Thứ trưởng Kinh tế Nhà nước).

Giới ngoại giao ghi nhận việc cải tổ chính phủ này như một nỗ lực của Hồ để nối lại thương thuyết. Tuy nhiên, khi trở lại Paris ngày 29/7, Mus tuyên bố khó thể có hoà bình vì cả hai bên đều không tin nhau. Thực ra, Bollaert vốn có ý định cắt đứt liên hệ với Hồ; và bí mật thương thuyết với Bảo Đại cùng các phe phái chống Cộng khác. Mus là một trong những đặc sứ, nhưng quan trọng nhất vẫn là Cousseau, nhân viên tình báo có nhiệm vụ kiểm soát và nuôi dưỡng Bảo Đại trong cảnh lưu vong. Nhưng ông vua cuối nhà Nguyễn, người được Đại diện Vatican ca ngợi như thân Pháp nhất tại Việt Nam, đã phần nào thay đổi.(56)

56. Ngày 28/12/1945, trong thư gửi một giáo sĩ Pháp, Tổng Giám Mục Drapier cho rằng gia đình Bảo Đại là "gia đình thân Pháp bậc nhất trong dân chúng Việt Nam (la plus francophile de tous les annamites), và theo ý ông ta, nên cho Bảo Đại lên ngôi như trước ngày 9/3 (À mon avis, il serait avantageux pour le calme de rétablir le Roi comme chef régulier avant le 9 mars); CAOM (Aix), CP 125.

Bảo Đại, và nhất là những cộng sự viên buổi đầu như Kim, Thành, Diệm, Sâm mới trải qua một cơn sốt váng vất độc lập, thống nhất—và, phần nào vì mặc cảm—đòi hỏi Pháp nhân nhượng nhiều hơn những gì đã nhân nhượng với Hồ. Gặp Cousseau ở Hong Kong vào tháng 1/1947, chẳng hạn, Kim đưa ra 7 điều kiện để hợp tác: 1/ thống nhất 3 kỳ; 2/ tự trị; 3/ định rõ vị trí của VN trong Liên Hiệp Pháp; 4/ VN phải có quân đội; 5/ VN phải có cơ cấu tài chính; 6/ Pháp nên định một hạn kỳ trao trả độc lập cho VN; 7/ VN có đại biểu ngoại giao với các nước Á Đông và buôn bán với các nước khác.(57)

57. Kim 1969:164-165. Ngày 2/2, Kim xuống tàu thủy từ Hong Kong về Việt Nam. Tới Sài Gòn, Kim tạm trú trong nhà Luật sư Trịnh Đình Thảo, cựu Thượng thư Tư pháp trong chính phủ Kim (4-8/1945). Pignon và nhiều người khác, gồm cả cựu Khâm sai miền Nam Nguyễn Văn Sâm, hay tới thăm viếng. Nhưng chỉ hơn một tháng sau, d'Argenlieu bị Dân biểu Bollaert thay thế. Tân Cố vấn chính trị Michel chỉ ghé thăm Kim một lần ngày 8/5/1947, rồi từ đó biệt tín. Nhóm Quảng và Đán cũng xa lánh dần Kim, làm việc cho những "sứ giả" mới của Bảo Đại như Phan Văn Giáo và Trần Văn Quế.(Trần Trọng Kim 1969, tr. 161-9, 171-4, 178. Theo Phạm Khắc Hoè, ngày 8/2/1947, Phan Huy Đán và Đinh Xuân Quảng đưa Hoè tới gặp Trần Trọng Kim và Nguyễn Văn Sâm ở nhà Trịnh Đình Thảo; Phạm Khắc Hoè 1987, tr. 312-4).

Tuy nhiên, Pháp không chịu nhượng bộ ngay. Quá tự tin ở sức mạnh quân sự—ít nữa đủ sức đánh tan quân đội chính qui Việt Minh—ai nấy hy vọng chiến thắng không xa. Tình hình quân sự những tháng đầu năm 1947 phần nào thắp sáng ngọn lửa lạc quan. Ngày 17/2/1947, bộ đội Việt Minh rút khỏi Hà-Nội. Gần một tháng sau, ngày 11/3, Pháp làm chủ tình hình Nam-định. Tại miền Trung, Pháp tái chiếm Hội-an [Faifo] ngày 15/3; Quảng-nam ngày 16/3; đổ bộ Đồng Hới ngày 27/3. Riêng Hòa-Bình, ngày 15/4 Pháp làm chủ được tình thế.

Bởi thế, Bollaert và cố vấn tìm cách kéo dài thời gian, chờ đợi kết quả chiến dịch mùa khô 1947—một chiến dịch mà các Tướng lãnh Pháp tin tưởng sẽ bẻ gãy xương sống quân đội Việt Minh. Để chuẩn bị cho chiến dịch này, ngày 16/5 Bollaert cử Tướng Raoul Salan—một nhân vật quen thuộc với Đông Dương, từng tham gia cuộc thương thuyết với Trung Hoa và Hồ năm 1946—làm Tư lệnh miền Bắc. Viện binh Pháp cũng lục tục kéo tới, nhiều nhất là lính Lê-dương [Légions étrangères] gốc Đông Âu và lính da đen Phi Châu.

Bollaert cũng cho cải tổ những chính phủ "Tề" tại miền Bắc và miền Trung. Ngày 19/5/1947, Y sĩ Trương Đình Tri—nguyên Bộ trưởng Y tế trong chính phủ Liên Hiệp 2/3/1946 của Hồ—được cử làm Chủ tịch Hội Đồng An Dân Bắc Việt. Tại miền Trung, Trần Văn Lý cầm đầu Chủ tịch Ủy ban Chấp Chính Lâm Thời Trung Kỳ. Nguyễn Khoa Toàn, Tỉnh trưởng Thừa Thiên từ năm 1946, nắm Chủ tịch Hội đồng Thẩm nghị [Tư vấn] Trung Kỳ. Tại miền Nam, mặc dù coi chính phủ Lê Văn Hoạch là gánh nặng của mình, Bollaert biến hoá dần sản phẩm của nhóm Gaullist này. Ngày 19/5, Bollaert trả Dinh Thống Đốc cho Hoạch. Đồng thời, áp lực Hoạch cải tổ chính phủ và tách biệt dần khỏi khuynh hướng tự trị.

Trong năm 1947 cũng có nhiều nỗ lực kết hợp các đảng phái Việt Nam đang tập trung tại vùng "Tề." Ngày 17/2, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt Toàn Quốc (Front d'Union Nationale du Viet-Nam, hay MTQGTNTQ)—hậu thân của Mặt Trận Thống Nhứt Toàn Dân—chính thức thành lập, qui tụ các đảng viên Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng, Việt Nam Quốc Gia Độc Lập Đảng, Việt Nam Quốc Gia Thanh Niên Đoàn, Cao Đài, Đoàn Thể Dân chúng, Liên Đoàn Công Giáo. (58)

58. CAOM (Aix), INF, c.138-139, d. 1245.

Ngày 29/3, MTQGTNTQ ra Tuyên Cáo tại Hong Kong. Theo tuyên cáo này, mục tiêu của Mặt trận là thống nhất tất cả các tổ chức cách mạng, đảng phái chính trị, đoàn thể tôn giáo và xã hội để đấu tranh giành độc lập và thống nhất lãnh thổ, củng cố chế độ cộng hoà, dân chủ, hợp tác toàn diện với tất cả các quốc gia trên thế giới trên căn bản công bằng và tự do để vãn hồi trật tự thế giới. Về những biến cố ở Việt Nam, Mặt Trận khẳng định cuộc kháng chiến hơn một năm qua không phải là công trình của một đảng phái chính trị nào, mà là của toàn dân Việt. Mặt Trận cũng khẳng định chính phủ Hồ không còn được nhân dân tin tưởng và đã mất vị thế trong thế giới trong công cuộc tranh đấu dành độc lập. Bởi vậy, Mặt Trận ủng hộ cựu hoàng Bảo Đại Nguyễn Vĩnh Thụy để thành lập một chính phủ dân chủ thực sự.(59)

59. Ibid; FRUS, 1947, VI:133.

Thế chống Cộng của các phe nhóm được tăng hơn nữa sau khi Huỳnh Phú Sổ (1917-1947), Giáo chủ đạo Hoà Hảo, bị Việt Minh sát hại ngày 20/4/1947.

Tại miền Bắc, nhóm Đặng Vũ Lạc (1902-1948), Lê Thăng (1901-1987?), Đỗ Văn Năng (1915-1950) bắt đầu qui tụ các đảng viên Đại Việt và VNQDĐ, thành lập Đại Việt Quốc Dân Đảng hay Tân Đại Việt. Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân cùng Ngô Thúc Địch và một số người khác tái tổ chức VNQDĐ.

Tại miền Trung, VNQDĐ và Đại Việt tái xây dựng tại vùng Tề. Tổ chức Đại Việt Phục Hưng của Diệm cũng hoạt động trở lại. Do Nguyễn Khoa Toàn đề xướng, Trần Văn Lý và Trần Thanh Đạt lập nên Việt Nam Quốc Gia Liên Hiệp làm cánh tay chính trị. Một nhân vật đang lên khác tại miền Trung là Phan Văn Giáo (1901-1963?). Giáo, một Dược sĩ Ki-tô gốc Thanh-hoá từng nổi danh là một cây vợt tennis tên tuổi, bị Việt Minh bắt giữ vào tháng 8/1945 vì có liên hệ với VNQDĐ, và lên án 6 năm khổ sai, tịch biên gia sản vào tháng 2/1946. Thoát ra Hà-nội tháng 11/1946, Giáo qua Hong Kong hợp tác với Bảo Đại. Tháng 3/1947, được Bảo Đại ủy về nước vận động thành lập một chế độ quân chủ lập hiến.

Tại miền Nam, các phe nhóm tự trị thay đổi lập trường, tuyên bố không chống đối việc thống nhất, miễn mỗi xứ vẫn có tự trị về kinh tế và chính trị. Những nhóm chống Cộng khác tổ chức biểu tình khắp nơi. Ngày 12/8, Huế biểu tình yêu cầu Bảo Đại về nước chấp chánh. Ngày 1/9 và rồi 14/9, biểu tình mời Bảo Đại về nước được tổ chức ở Sài-gòn.

Các viên chức vùng Tề khắp ba miền cũng tới tấp đi lại giữa Việt Nam và Hong Kong để "van xin" Bảo Đại đứng ra nhận lãnh trách nhiệm. Có những nỗ lực liên hiệp giữa Lê Văn Hoạch và MTQGTNTQ của Nguyễn Văn Sâm, sau khi Hộ Pháp Tắc tuyên bố ủng hộ tổ chức này ngày 16/8. Điều kiện của Sâm là ghế Bộ trưởng Nội Vụ hoặc Quốc Phòng. Sau đó, MTQGTNTQ ủy nhiệm Hoạch tiếp xúc Bảo Đại để cầm đầu phong trào quốc gia và thống nhất đất nước.

Ngày 5/9, Bảo Đại tuyên bố muốn tiếp xúc với các lãnh tụ VN để bàn luận thời sự. Cùng ngày, dù không được mời, Sâm qua Hong Kong gặp Bảo Đại.(60)

60. FRUS, 1947, VI:133.

Ngày 9/9, Bảo Đại tiếp kiến 24 đại diện ba miền. Trong số những đại diện này có Nguyễn Văn Tâm, Bộ trưởng Quốc Phòng của chính phủ Hoạch. Bảo Đại tuyên bố sẽ đứng ra hoà giải các phe phái sau khi đã thương lượng với Pháp.(61)

61. SHAT [Vincennes], 10H 643.

Mặc dù có kẻ thù chung là Cộng Sản, các tổ chức chính trị và giáo phái không đạt được sự đoàn kết cần thiết. Màu sắc tôn giáo, địa phương chi phối nặng nề, khiến phần đông hữu danh vô thực. Nguy hiểm nhất là tệ nạn sứ quân.

Dĩ nhiên, phe Việt Minh không chịu bó tay. Đài phát thanh Việt Minh không ngừng đả kích những tên "Việt Gian" đang âm mưu lập nên một “chính phủ bù nhìn tay sai” chống lại chính phủ hợp pháp VNDCCH. Tại miền Nam, Nguyễn Bình phát động chiến dịch khủng bố và ám sát. Đã có lúc, Việt Minh nghĩ đến việc gửi Phạm Khắc Hoè sang Hong Kong thuyết phục Bảo Đại. Và, khi công bố chính phủ đổi mới vào tháng 7/1947, Hồ vẫn liệt kê Bảo Đại như cố vấn tối cao.

Theo đúng kịch bản, ngày 10/9/1947, Bollaert đọc diễn văn lần thứ hai tại Hà Đông.

Trong diễn văn này, Bollaert đưa ra khẩu hiệu mới là "Độc lập trong tương trợ [L'Indépendance dans l'interdépendance]." Mục đích chính không phải là hứa hẹn sẽ trao độc lập cho Việt Nam mà chỉ thỏa mãn đòi hỏi của người Việt bằng cách tạo một tiền lệ nhắc đến hai chữ "độc lập"—từ năm 1945, Pháp chưa hề nhắc đến hai chữ "quốc cấm" này, và chỉ có cặp Ramadier-Bollaert mới không sợ hãi chúng. Việc này sẽ chứng tỏ tinh thần "cấp tiến" của Paris.(62)

62.   FRUS, 1947, VIII:133-134..

Những đề nghị của Bollaert cũng được cân nhắc sao cho Hồ không thể chấp nhận được; và như thế, tạo lý do chính đáng để phát động chiến dịch mùa khô 1947 sắp tới nhằm cắt đứt trục tiếp vận của Việt Minh từ Hoa Nam, tiêu diệt lực lượng võ trang Việt Minh, và bắt sống Hồ cùng những cán bộ lãnh đạo.(63)

63. FRUS, 1947, VIII:138-139.

Diễn văn của Bollaert cũng mở cửa cho Bảo Đại. Mặc dù chẳng trọng vọng gì cựu hoàng, Pháp miễn cưỡng chấp nhận cho Bảo Đại về nước cầm đầu một chính phủ thống nhất chống Cộng. Bollaert hy vọng rằng việc đả bại Việt Minh sẽ khiến Bảo Đại bớt cứng rắn trong những điều kiện hợp tác.(64)

64 . FRUS, 1947, VIII:140-141.

Ngày 18/9—tức 4 ngày sau cuộc biểu tình rầm rộ ở Sài-gòn mời Bảo Đại về nước—Bảo Đại ra tuyên cáo chấp nhận sự ủy thác của quốc dân và sẵn sàng thương thuyết. Ngày 20/9, cựu hoàng nói sẵn sàng gặp đại diện Pháp ở Hong Kong hay Đông Dương. Theo Giám đốc Mật Thám Đông Dương, Perrier, nói với Lãnh sự Mỹ tại Sài-gòn ngày 22/9, Bảo Đại đã đồng ý thương thuyết từ lâu, nhưng tạm thời trì hoãn để khỏi mang tiếng do Pháp dựng lên. Vẫn theo Perrier, Pháp chẳng kỳ vọng gì ở Bảo Đại, chỉ mong Bảo Đại sẽ lôi kéo được một số người ủng hộ. Sợ rằng Bảo Đại khó lôi kéo số lớn người quốc gia trong hàng ngũ Hồ. Vậy mà Bảo Đại đòi hỏi độc lập rộng rãi hơn những gì Bollaert đã hứa.(65)

65. FRUS, 1947, VI:139-40.

Ngày 29/9, Hoạch từ chức. Hai ngày sau, 1/10, Xuân—mới từ Pháp về ngày 15/9—được HĐTV Nam kỳ ủy thác lập chính phủ lâm thời. Một tuần sau, Xuân công bố danh sách chính phủ Lâm thời Nam Phần.(66)

66. Chính phủ Nguyễn Văn Xuân ngày 8/10/1947 gồm có: Thủ tướng: Xuân; Phó Thủ tướng: Trần Văn Hữu; Bộ trưởng [BT] Tư pháp: Nguyễn Khắc Vệ; BT Công chính: Nguyễn Văn TBT Canh Nông: Trần Thiện Vàng; BT Thông tin: Nguyễn Phú Khai; Thứ trưởng Thông tin: Trần Văn Ân.

Đây là bước chủ yếu để trao quyền thống nhất lãnh thổ cho Bảo Đại.

C. CHIẾN DỊCH LÉA:

Ngày 7/10, Pháp mở chiến dịch "Lea" tấn công Việt Bắc. Ngay trong ngày đầu tiên, tái chiếm được Thông và Sơn-la. Ngày 13/10, Nhảy Dù Pháp chiếm Bắc-kạn, Cao-bằng; 20/10, chiếm Yên- Báy; 21/10, chiếm Chapa; và 30/10, chiếm Lào-kay.

Tai hướng Đông Bắc, một cánh quân có thiết giáp từ Lạng-sơn ngược đường 4 tiến lên Cao-bằng. Cánh quân khác, gồm 2 tiểu đoàn Bộ Binh, được giang vận ngược sông Hồng, và rồi sông Lô lên Tuyên-quang. Qua tháng 11-12/1947, tức giai đoạn II của chiến dịch, 9 tiểu đoàn từ Hải-dương tiến lên tảo thanh phía Đông, Đông Bắc và chính Bắc Hà-Nội.

Chiến dịch mùa Khô 1947 này không đạt được kết quả mong muốn. 60,000 quân Pháp cùng giang hạm, không quân và thiết giáp Pháp chỉ có thể tịch thu và phá hủy một số kho tàng của Việt Minh cùng ba trạm phát tuyến. Mục tiêu chính của cuộc Hành quân Léa, tức toàn bộ chính phủ Hồ, đều chạy thoát, ngoại trừ Nguyễn Văn Tố và phụ tá của Bộ trưởng Tài chính Lê Văn Hiến. Đài phát thanh Việt Minh vẫn tiếp tục hoạt động. Trong khi đó, những đợt phản công của Việt Minh gây tổn thất đáng kể cho lực lượng Nhảy Dù Pháp.(67)

67. Vào cuối chiến dịch Léa, hơn 1,000 lính Pháp tử trận, và khoảng 3,000 người bị thương.

Đáng sợ hơn nữa, từ ngày 12/10, Hồ ra lệnh "tiêu thổ kháng chiến." Làng mạc bị thiêu hủy. Đường xá, cầu cống bị phá hoại. Nền kinh tế quốc gia ngày một phá sản. Qua đầu năm 1948, tuyến giao thông từ Lào-kay tới Cao-bằng trở lại tình trạng tự do như cũ.(68)

68. Am Consul, Hanoi, to State Dept, 9 Feb 1948, 851G.00/2-948, RG 59; Ronald H. Spector, United States Army in Vietnam, Advice and Support: The Early Years, 1941-1960 (Washington, DC: Center for Military History, United States Army, 1983), tr. 90. Sẽ dẫn: Spector 1983.

Tại miền Nam, việc điều quân Pháp ra Bắc tạo cơ hội cho Việt Minh tăng gia hoạt động. Mặc dù Việt Minh không tạo được chiến thắng lớn nào, những vụ phá hoại đồn bót, cầu cống, ám sát, thủ tiêu diễn ra khắp nơi. Hai vụ ám sát gây tiếng vang nhất là cái chết ngày 10/10/1947 của  Nguyễn Văn Sâm (1898-1947) tại Sài-gòn và Trương Đình Tri ở Hà Nội.(69)

69. Từ Hong Kong trở về, ngày 17/9, Sâm nhân danh MTQGTNTQ gửi thư cho TT Truman, yêu cầu can thiệp vào Đông Dương; FRUS, 1947, VI:142-143. Sâm cũng quyết định xuất bản báo Quần Chúng tại Sài-gòn để có cơ quan ngôn luận trong tay. Cái chết của Sâm đã được cảnh cáo từ trước—Ngày 23/6/1947, báo L'Echo du Viet-Nam [Dư Luận] của Nguyễn Phan Long đã loan tin Sâm bị Tòa án Mặt trận Quân Khu VII của Nguyễn Bình đã cho lệnh bắt giải Sâm ra xét xử về tội vi phạm lệnh giải tán MTQGTNTQ.

D. THỎA ƯỚC HẠ LONG 6-7/12/1947:

Như mũi tên đã rời khỏi giây cung, thí nghiệm Bảo Đại vẫn tiếp tục chu trình tiến hoá của nó. Báo chí Paris bắt đầu nhập cuộc. Ngày 18/11/1947, Le Monde đăng bài của André Blanchet, đề nghị trả độc lập cho một nước Việt Nam độc lập dưới quyền lãnh đạo của Bảo Đại. Các đoàn thể, tổ chức chống Cộng người Việt tiếp tục chuẩn bị đón Bảo Đại về nước. Quan trọng hơn, Bollaert quyết định gặp Bảo Đại để thương thuyết.

Ngày 6-7/12/1947, Bollaert gặp Bảo Đại ở Hạ Long. Hai bên ký một tạm ước [protocol], theo đó, Bảo Đại sẽ trở lại Đông Dương thành lập chính phủ thống nhất ba miền. Việt Nam sẽ được trao trả độc lập trong khối Liên Hiệp Pháp. Về ngoại giao, Pháp sẽ chịu trách nhiệm, nhưng sẽ đưa viên chức Việt vào ngạch ngoại giao. Về quốc phòng, Việt Nam có quân đội riêng, nhưng quân đội này phải hứa sẽ tham chiến trong khối LHP. Quan trọng nhất là mật ước rằng từ nay Pháp sẽ ngưng thương thuyết với Hồ Chí Minh.(70)

70. FRUS, 1947, VIII:151.

Ngày 12/12, Bollaert về Pháp báo cáo. Ba ngày sau, 15/12, Paris ra tuyên bố sẽ cho Bollaert “toàn quyền hành động và thương thuyết cần thiết để tái lập hoà bình và tự do tại Việt Nam." Bản tuyên cáo này cũng nhấn mạnh rằng vì Hồ đã bác bỏ lời đề nghị trong diễn văn ngày 10/9 tại Hà-đông của Bollaert, Pháp đã ngưng mọi nỗ lực thương thuyết với Việt Minh. Bốn ngày sau nữa, 19/12, Xuân qua Hong Kong yết kiến Bảo Đại.

Ngày 23/12, chính phủ Pháp lại ra tuyên cáo là thể theo lời yêu cầu của Paul Coste-Floret, Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại, Bollaert được phép xúc tiến việc thương thuyết với tất cả các phe phái ở Việt Nam.

Trong khi đó, chính phủ Truman bắt đầu lo ngại về sự sụp đổ của chế độ Tưởng Giới Thạch ở Trung Hoa lục địa. Tướng George Marshall được gửi qua Trung Hoa, hy vọng tìm một giải pháp chính trị. Tuy nhiên, Mao Trạch Đông và Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã quyết định ngả theo Nga, công kích mãnh liệt chính sách Mỹ. Bầu không khí chiến tranh lạnh khiến Mỹ chú tâm hơn đến Đông Dương, trực tiếp ủng hộ cuộc tái xâm lăng Việt Nam của Pháp.

Ngày 29/12/1947, báo Life đăng bài “The Saddest War” [Cuộc chiến buồn thảm nhất] của William C. Bullitt, cựu Đại sứ Mỹ tại Pháp và Liên Sô, cổ võ việc trao trả độc lập cho Việt Nam theo kiểu Philippines; giao phó cho người Việt quốc gia chân chính [true nationalists] trách nhiệm lôi cuốn những phần tử quốc gia trong hàng ngũ Việt Minh và tập sự cai quản đất nước. Mặc dù không nhắc đến Bảo Đại, và cũng chỉ đăng hình Bollaert cùng Hồ, "phần tử quốc gia" mà Bullit nhắc đến được diễn giải như Bảo Đại. Thực ra, Bullitt chỉ đề nghị duy trì một chế độ chống Cộng thân hữu ở Đông Dương.(71)

71. William C. Bullitt, “The Saddest War” [Cuộc chiến buồn thảm nhất]; Life (29/12/1947); FRUS, 1947, VI:110.

E. “KHO VŨ KHÍ CỦA THẾ GIỚI TỰ DO”:

Từ năm 1947, Diệm đã mở liên lạc với viên chức Mỹ, xin viện trợ. Đây chẳng phải là sáng kiến mới mẻ gì của họ Ngô. Hầu hết các chính khách Việt đều nhận rõ vị thế siêu cường của Mỹ, nhưng không có đư ợc những đường giây móc nối như anh em họ Ngô. Ngay chính Hồ Chí Minh cũng đã hoạt động cho OSS Mỹ trong hai năm 1944-1945, và lực lượng võ trang đầu tiên của Việt Minh được OSS Mỹ trang bị và huấn luyện. Hồ Chí Minh còn được đặt cho một bí danh là Lucius. Điều khiến Mỹ e ngại, và cuối cùng theo đuổi chính sách “hands-off” [không nhúng tay] khi Pháp tái xâm lăng Việt Nam là thành tích hoạt động cho QTCS của Hồ. Việc Hồ quyết định giải tán Đảng CSĐD ngày 11/11/1945 vẫn chưa đủ thuyết phục các viên chức Ngoại giao Mỹ—những người vẫn chủ trương chỉ có Âu Châu mới đáng chú tâm hàng đầu.

Sau khi Bollaert ký thông cáo chung Hạ Long (6-7/12/1947) với Bảo Đại, ngày 21/12, Diệm cùng Nguyễn Văn Xuân và Trần Văn Lý lênHong Kong gặp cựu hoàng. Trước khi qua Geneva ngày 24/12, Bảo Đại ủy Diệm về nước tham khảo ý kiến các phe phái để thành lập chính phủ thống nhất. Diệm từ chối vì những nhượng bộ của Pháp quá ít so với đòi hỏi của Việt Nam. Ngày 26/12, Diệm trở lại Sài-gòn chờ đợi tình thế chuyển biến.

Điều ít ai biết là phía sau hậu trường, ngày 24/12/1947, Diệm bí mật gặp Tổng lãnh sự Mỹ tại Hong Kong là George D. Hopper, trình bày về nội tình VN và giải pháp Bảo Đại. Mục đích chính của Diệm, theo Hopper, là xin viện trợ Mỹ. Hopper chỉ ghi nhận mà không hứa hẹn gì. (72)

72. Ngày 18/12/1947, Tổng Lãnh sự Charles Reed đã từ Sài-gòn điện trước cho Hopper rằng có thể Diệm sẽ ghé thăm; FRUS, 1947, VI:152-155.

Tại Việt Nam, đa số các chính khách chống Cộng đã tạm thời thỏa mãn. Ngày 25/12, mặc dù không ưa Xuân, Hoạch thành lập Việt Nam Quốc Gia Liên Hiệp để ủng hộ "giải pháp Bảo Đại."(73)

73. CAOM (Aix), 7F 27.

Riêng Diệm, qua đường giây Giám mục Thục, bí mật tổ chức một nhóm thân Mỹ và chống Cộng. Tại miền Bắc, Diệm có những thân hữu cũ như Trần Trung Dung, Nguyễn Xuân Chữ, Nguyễn Đình Thuần, v.. v... Tại miền Trung, Trần Văn Lý thành lập Đảng Xã Hội Công Giáo. Tại miền Nam, Diệm được sự yểm trợ của Nguyễn Phước Hậu, Bertin, Nguyễn Bửu, Trần Tử Hoàng, v.. v....(73)

73. Theo tin tình báo Pháp, ngày 8/2/1848, Diệm đồng ý với lập trường của VNQGLH: Độc lập - thống nhất. Năm Lửa Trần Văn Soái cùng lập trường, và tỏ ý quí trọng Diệm. (10H 4201). Ngày 11/2/1948, Tiết, một người thân cận Diệm và Nhu, từ chức Giám đốc báo Thống Nhất ở Huế, về Quảng-nam làm Giám đốc trị sự công ty bảo hiểm Le Secours. Lý do chính là không đồng ý với Trần Văn Lý (10H 4201). Ngày 12/2/1948, Diệm cử Đông đi Hà-tiên, Sa-đéc, Cần-thơ, Vĩnh-long gặp một số linh mục kháng chiến cùng đại diện Cao Đài, Hoà Hảo để vận động cho Bảo Đại. Theo Đông, phần lớn giáo dân trong vùng Việt Minh ủng hộ kháng chiến; nhưng sẽ ngả theo Bảo Đại nếu được độc lập, thống nhất. Cũng định gửi một số sách báo vào vùng Việt Minh, như cuốn Tôi Muốn Tự Do. Nhu sẽ lên đường qua Pháp chừng hai tháng. Dự trù gặp Bảo Đại, và xuống Roma (10H 4201).

Tháng 2/1948, Diệm lại qua Hong Kong, chờ đón Bảo Đại. Ngày 14/3/1948, Bảo Đại về tới Hong Kong. Gặp Chủ tịch các Hội Đồng An Dân Hà-Nội và Hội Đồng Chấp Chánh Huế. Có Tướng Xuân và Hoạch của Cộng Hòa Nam Kỳ Tự Tri. Mọi người yêu cầu Bảo Đại xúc tiến nhanh hơn việc thương thảo. Xuân đồng ý thống nhất 3 miền. Bảo Đại sai Diệm về Sài Gòn báo cho Bollaert biết là "Nguyện vọng của dân Việt vượt quá những điều ký kết ở Hạ-long [Les aspirations du peuple vietnamien dépassaient les termes de l'accord d'Halong [12/1947]."] Tuy nhiên, vai trò Diệm bị lu mờ dần trước những khuôn mặt được Pháp chọn lựa. Một trong những lý do là thành tích hợp tác với Nhật của Diệm

Chuyến viếng thăm Sài-gòn ngày 25/5/1948 của Hồng y Francis Spellman mở thêm đầu mối liên hệ với Mỹ cho anh em Diệm. TGM Sài-gòn, Cassaigne,  mời Thục tham dự buổi tiếp đón Spellman.(75)

75. Tháp tùng Spellman có Fulton G. Green. Thời Sự (Hà Nội), 7/3/1949.

Ngày 5/6/1948, Bollaert cùng Nguyễn Văn Xuân và đại diện ba miền ký Thoả ước Hạ-Long với “sự chứng kiến” của Bảo Đại. Trư ớc đó, Bảo Đại đã cử Xuân làm Thủ tướng chính phủ Lâm thời Quốc Gia Việt Nam trong khi chờ đợi một hiệp ước cơ bản cuối cùng giữa Bảo Đại và Pháp. Thủ đô đặt ở Hà Nội, nhưng mỗi miền có một Thủ hiến và lực lượng an ninh riêng.

Trong tháng 6/1948, Trần Văn Lý chính thức thành lập Đảng Xã Hội Công Giáo, do Thục bảo trợ. Diệm được coi như lãnh tụ tối cao của đảng này.(76)

76. CAOM (Aix), Indochine, 7F 29, tr. 57.

Tại Đà Lạt, Nhu cùng nhóm Linh mục Parrell tụ họp nhân sự cho hạt nhân đầu tiên của chủ thuyết “Nhân vị.” Thuyết này dựa theo thuyết Personalisme [Nhân vị] của Emmanuel Mounier, đặt trên cơ bản thần quyền Ki-tô giáo. Tuy nhiên, Diệm không hợp tác với Xuân.

Những chiến thắng liên tiếp của Mao Trạch Đông tại lục địa khiến Pháp hối hả hơn trong việc thực hành thí nghiệm Bảo Đại. Cao ủy Léon Pignon góp công lớn trong việc này. Ngày 8/3/1949 Tổng thống Pháp Vincent Auriol trao đổi công hàm với Bảo Đại, nhìn nhận Việt Nam là một Tiểu bang tự do [l’Etat libre] trong Liên Hiệp Pháp. Quốc hội Pháp cũng thông qua đạo luật trả lại Nam Việt cho Bảo Đại. Tháng 4/1949, Bảo Đại về Đà Lạt. Có tin Diệm lại từ chối lời mời lập chính phủ; nêu lý do sợ giáo dân Ki-tô bị VM thảm sát. Thực ra, Diệm không thoả mãn với nội dung thỏa ước 8/3/1949. Đích thân Bộ trưởng Hải Ngoại Coste-Floret cố gắng thuyết phục Diệm, nhưng không thành công. (77)

77. Irving 1975:69.

 Ngày 21/9/1949, Diệm về Huế, sống ở nhà Ngô Đình Cẩn (1911-1964), em trai áp út. Ngày 22/11—sau khi Mao Trạch Đông đã tuyên bố thành lập chế độ Cộng Sản ở Trung Hoa lục địa (ngày 1/10/1949), và các đạo Hồng quân Trung Cộng đang tiến sát dần tới biên giới Việt-Hoa, Diệm rời Huế vào Sài-gòn, rồi Vĩnh-long, và Đà Lạt (2/1950).

Thời gian này, Giáo hoàng Vatican cũng ra lệnh rút phép thông công bất cứ ai liên hệ với Cộng Sản. Thánh lệnh này khiến các cộng đồng Ki-tô giáo Việt ngày một nghiêng về phía Thế giới Tự Do, thắp hồng “cuộc thánh chiến chống Cộng Sản.” Tuy nhiên, Diệm vẫn đứng ngoài cuộc chơi. Tháng 3/1950, Giám mục Từ tại Phát Diệm phải sai Lê Quang Luật vào Nam yêu cầu Diệm đừng "chùm chăn" và "ngang bướng" nữa, cần yểm trợ Bảo Đại.(78)

78. Ngày 24/3/1950, Luật tiết lộ với cơ quan tình báo Pháp (SEHAN) rằng Diệm không thân cận được với Bảo Đại vì bản tính nhu nhược (faible) và thiếu cương quyết (indécis) của Bảo Đại. Nếu lên nắm quyền, Diệm sẽ chống Cộng thẳng tay, mà muốn thế cần có sự tín nhiệm và yểm trợ tuyệt đối của Bảo Đại. Điều này chắc không có. Ngoài ra, lập trường chính trị của Diệm cũng khác biệt. Thứ nhất Diệm muốn biết chắc thể chế độ chính trị của Việt Nam sẽ được tương tự như India trong Liên Hiệp Bri-tên. Nhưng sự bảo đảm chắc chắn này không được chứng tỏ qua thực tế, như việc bàn giao chủ quyền, hay qua sự tiến hoá của các khuynh hướng chính trị tại Pháp. Luật thêm rằng tại miền Bắc, Diệm chẳng có bao nhiêu người ủng hộ, ngoại trừ phe Ki-tô chịu ảnh hưởng Phát-diệm. Tại Hà-nội, theo Luật, có thể có Trần Văn Lai, Trần Trung Dung và Nguyễn Xuân Chữ. SHAT (Vincennes), Indochine, 10H 1039.

Ngày 9/4/1950, Tổng lãnh sự Mỹ Edmund Gullion báo cáo chính phủ Nguyễn Phan Long sắp đổ và Trần Văn Hữu có thể lên thay. Gullion nghĩ rằng Pháp hẳn muốn Diệm, nhưng Bảo Đại không đồng ý.

Giữa năm 1950, Diệm có ý định thành lập một lực lượng thứ ba, thân Mỹ, chống Pháp để lôi kéo những người bất mãn trong hàng ngũ Việt Minh. Cuối tháng 6/1950, tổ chức Phong Trào Quốc Gia Quá Khích ra đời ở Trung và Nam Việt, có liên hệ với Diệm.

F. MỸ “MẤT “ TRUNG HOA:

Thời gian này, tình hình thế giới cực kỳ căng thẳng. Thế giới chia làm hai phe rõ rệt. Một phe thuần phục Liên Sô Nga của Joseph Stalin. Một phe khác nằm trong vùng ảnh hưởng của Liên bang Mỹ.

Tháng 1/1950, Hồ Chí Minh đi bộ 17 ngày đêm qua tới Nam Ninh (Quảng Tây), rồi được Lưu Thiếu Kỳ đón lên Bắc Kinh. Hồ cho biết mục đích của chuyến đi là xin viện trợ. Vì cả Mao Trạch Đông lẫn Chu Ân Lai đã qua Mat-scơ-va, ngày 3/2, Lưu Thiếu Kỳ dàn xếp cho HCM qua Nga. Tại Mat-scơ-va, HCM được gặp Josef Stalin lần đầu. Stalin hỏi Hồ về lý do giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương ngày 11/11/1945, rồi chỉ thị cho Mao tiếp tay Đảng CSĐD. Đây là lần đầu tiên Hồ được gặp “người thép Nga,” dù đã chính thức hoạt động cho QTCS từ hơn phần tư thế kỷ trước.(79)

79. Một trong những biên khảo xuất sắc về liên hệ giữa QTCS với Đảng CSĐD do học giả Anatoli Sokolov thực hiện. Ấn bản Việt ngữ của tác phẩm này, theo Sokolov, không được chính xác. Một số phụ chú đã bị cắt bỏ. Tác phẩm Ho Chi Minh: The Missing Years, 1924-1941 (2003) của Quinn-Judge và Lê Hồng Phong (Hà Nội: 2002) cũng chứa đựng nhiều tài liệu giá trị Nga.

Để chuẩn bị cho chuyến viếng thăm Bắc Kinh, ngày 15/1/1950, đài phát thanh Việt Minh đã công bố nhìn nhận chính quyền Cộng Sản Trung Hoa, và yêu cầu các nước Cộng Sản nhìn nhận chính phủ VNDCCH. Ba ngày sau, 18/1, Bắc Kinh chính thức nhìn nhận VNDCCH. Ngày 30/1 đến phiên Mat-scơ-va. Các nước Cộng Sản khác liên tục mở bang giao với chế độ Hồ. Ngày 17/2/1950, Hồ tháp tùng phái đoàn Mao và Chu Ân Lai rới Mat-scơ-va. Sau đó, Hồ ở lại Bắc Kinh tiếp tục thảo luận về việc viện trợ. Lưu Thiếu Kỳ, Phó Chủ tịch Trung Cộng, đích thân điều động công tác “nghĩa vụ quốc tế” này. Hồ xin Bắc Kinh cung cấp chuyên viên quân sự để cố vấn và chỉ huy từ cấp Sư đoàn trở lên, nhưng Lưu Thiếu Kỳ chỉ đồng ý gửi cố vấn. La Quí Ba [Luo Guibo] được chọn làm Cố vấn trưởng chính trị; trong khi Vi Quốc Thanh [Wei Guoqing] cầm đầu phái đoàn cố vấn quân sự.  Trung Cộng cũng hứa giúp huấn luyện và trang bị vũ khí cho 6 đại đoàn (sư đoàn) Việt Minh. Các trung đoàn đầu tiên qua Vân Nam huấn luyện thuộc Đại đoàn Quân Tiên Phong (308) của Vương Thừa Vũ, và 312 của Lê [Trịnh] Trọng Tấn. Để bảo đảm cho việc tiếp vận từ Trung Cộng, Bắc Kinh giúp Hồ mở chiến dịch biên giới “Cao-Bắc-Lạng,” hay Lê Hồng Phong II (16/9-14/10/1950), nhằm tiêu diệt lực lượng đồn trú tại Lạng Sơn và Cao Bằng. Người thực sự chỉ huy trận này là Chen Geng [Trần Canh], cựu Tư lệnh Quân Khu Vân Nam, do Hồ xin đích danh. Tư ớng Carpentier rúng động, phải cho lệnh triệt thoái tất cả những vị trí trú quân dài theo biên giới, chỉ còn giữ lại Tiên Yên-Móng Cáy.(80)

80. Hầu hết các chi tiết trên đã được công bố từ thập niên 1950. Tuy nhiên, ngày tháng và chi tiết mới được tài liệu văn khố Trung Cộng xác tín từ thập niên 1990. Một trong những tác phẩm nên đọc: Qiang Zhai, China & The Vietnam Wars, 1950-1975 (Chapel Hill: Univ. of North Carolina Press, 2000), tr. 15-20. Xem thêm Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ (Hà Nội: NXBQĐND, 2001), tr. 10-16.

Từ ngày này, thế trận đã thay đổi hoàn toàn. Việt Minh bắt đầu chủ động chiến trường. Chính phủ Hồ Chí Minh bắt đầu đư ợc giao nhiệm vụ mới: Tiền đồn của Xã hội chủ nghĩa.(81)

81. Đại tướng Vĩ Nguyên Giáp, trong tập hồi ký Điện Biên Phủ (1994) đã đủ can đảm và sự lương thiện trí thức để ghi nhận sự thực lịch sử cay đắng này.

Trong khối Tự Do, ngày 4/2/1950, Mỹ nhìn nhận chế độ Bảo Đại vì “Hồ đã để lộ bản chất thật sự Cộng Sản.”  Rồi đến Bri-tên và một số nước khác. Từ ngày này Pháp tìm cách lôi kéo Mỹ và Bri-tên vào “trận chiến chống Cộng” ở Đông Dương. Đại sứ Donald Heath (1950-1954) của Mỹ thận trọng thêm vào mối đe dọa của Trung Cộng hai chữ “Nga Sô.” Việc Mỹ tham chiến ở Triều Tiên, và nhất là cuộc triệt thoái các tiền đồn biên giới Việt-Hoa, khiến cuộc chiến tranh lạnh Mỹ-Nga bắt đầu chi phối nội tình Việt Nam. Pháp bị đặt vào vị thế cực kỳ tế nhị. Một mặt, cần thành lập quân đội bản xứ để phụ giúp cho quân viễn chinh Pháp; và ngày càng tùy thuộc nhiều hơn vào viện trợ Mỹ. Mặt khác, giới thẩm quyền Mỹ không ngừng áp lực Pháp phải trao trả dần độc lập cho Việt Nam, và áp lực Mỹ gia tăng theo viện trợ.

Winston Churchill—người cực lực chống lại kế hoạch Quốc tế quản trị Đông Dương của Tổng thống Franklin D. Roosevelt, và tác giả thuật ngữ “bức màn sắt” ở Âu châu—sau ngày lên nắm chức Thủ tướng Bri-tên lần thứ hai, cũng muốn dựng “bức màn tre” ở Đông Dương. Nhưng Churchill chỉ muốn góp ý mà không tán thành việc gửi quân tác chiến qua Đông Dương.(82)

82. Ngày 21/6/1954, Churchill viết thư cho Eisenhower, đề nghị: “establishing a firm front against Communism in the Pacific sphere. We should certainly have a SEATO, corresponding to NATO in the Atlantic and European sphere. In this it is important to have the support of the Asian countries. This raises the question of timing in relation to Geneva. In no foreseeable circumstances, except possibly a local rescue, could British troops be used in Indochina, and if we were asked our opinion we should advise against United States local intervention except for rescue.” (FRUS, 1952-1954, XIII:1728-1729)

G. QUA MỸ XIN VIỆN TRỢ:

Ngày 18/6/1950, Giám mục Thục gặp XLTV Đại sứ Gullion tại Sài-Gòn, xin giấy nhập cảnh Mỹ trên đường qua Roma dự năm Thánh cho mình và Diệm. Tháng 7/1950, có tin Diệm nhiều lần bị Việt Minh đe dọa đến tính mạng. Ngày 15/7/1950, Diệm về Huế thăm mẹ bị đau nặng. Ngày 2/8, Diệm trở lại Sài-gòn sau khi ghé ngang Đà Nẵng. Ngày 14/8, Diệm cùng Thục rời Sài-Gòn trên tàu La Marseillaise. Gặp Cường Để ử Nhật, bàn việc thành lập một chính phủ chống Cộng. (83)

83. Sau đó, có tin đồn Cường Đểề Bangkok, được một cán bộ CS tên Quy hết sức chiều đãi. Tuy nhiên, hiện chưa có tài liệu nào minh chứng việc này.

Ngày 2/9, Diệm và Thục tới Mỹ. Hơn hai tuần sau, ngày 21/9, William S. B. Lacy, Trưởng Nha Philippines và Đông Nam Á, tiếp Diệm và Thục. Thục tuyên bố phải lập một quân đội quốc gia, lấy giáo dân Ki-tô làm hạt nhân để không sợ đào ngũ mang súng qua hàng VM. Lacy nhận xét rằng Thục mới là phát ngôn chính, trong khi Diệm chỉ tán thưởng ý kiến Thục.(84)

84. FRUS, 1950, VI:884-886. Tối ngày 25/10/1950, Acheson điện cho Heath về việc thành lập QĐGVN. Theo Acheson, viên chức Pháp nghĩ rằng có thể đưa các lực lượng giáo phái vào, tổng số chừng 75,000 người. Thục, Chi và Diệm cũng muốn biến lực lượng Ki-tô Giáo thành một phần quân đội; Ibid., VI:909-10. Ý kiến của Thục, thực ra, chẳng có gì mới lạ. Từ năm 1947, quan tư ớng Pháp đã khéo léo sử dụng các sứ quân tôn giáo, và ngay cả băng đảng, để ngăn chặn Việt Minh. Các Đơn Vị Lưu Động Bảo Vệ Ki-tô Giáo cua Leroy [UMDP] hoat dong khong xa giao phan cua Thuc. Tháng7/1950, Bộ Chỉ Huy Các Đơn Vị Lưu Động Bảo Vệ Ki-tô Giáo rời về tỉnh Bến-tre. Trung tá Leroy được làm Tỉnh trưởng tỉnh này [cho tới ngày 25/11/1952 (10H 643). Những cuộc tắm máu “bạo lực cách mạng” của Việt Minh trong giai đoạn 1945-1946 là một trong những động lực phá vỡ sự liên kết từ trên xuống của các đảng phái.

Ngày 15/10, Diệm và Thục rời Mỹ qua Paris. Sau đó, xuống Roma, rồi trở lại Paris vào trung tuần tháng 11/1950.

Ngày 8/12/1950, Thục rời Âu Châu trở lại Việt Nam. Cuối tháng đó, Diệm, qua trung gian Bửu Kĩnh, Nghị viên Hội Đồng Liên Hiệp Pháp, gửi cho Bảo Đại một thư riêng, đề nghị một chương trình hoạt động.(85)

85. Ngày 24/1/1951, XLTV Đại sứ Mỹ Gullion báo cáo là Bảo Đại đã nhận được thư của Diệm. Nhưng Bảo Đại không ưa Diệm vì Diệm từng nhiều lần từ chối hợp tác. Phần anh em Diệm và Thục chủ trương giải pháp lập Bảo Long lên ngôi, với Nam Phương và Cường Để làm Nhiếp Chính. FRUS, 1951, VI:359-61.

Sau đó sang Mỹ. Ngày 15/1/1951, Diệm khai với nhân viên Bộ Ngoại Giao Mỹ là mới từ Paris qua được khoảng một tháng để nghiên cứu về cơ cấu chính quyền Mỹ và giáo lý. Nói thêm là đã cho Bảo Đại biết sẵn sàng làm Thủ Tướng với một số điều kiện. (86)

86. FRUS, 1951, VI:348.

Trong thời gian ở Mỹ, nhờ sự che chở của Spellman, Hồng Y Giám đốc Tuyên úy Ki-tô Roma trong quân đội Mỹ, Diệm tá túc tại Tu viện Maryknoll, thuộc tỉnh Lakewood, tiểu bang New Jersey. Có dịp làm quen với nhiều Dân biểu, Thượng Nghị sĩ như Mike Mansfield, John F. Kennedy, Walter Judd, v.. v... Diễn thuyết tại nhiều nơi. Từ ngày này, Diệm trở thành một lá bài “chí sĩ quốc gia chống Cộng” trừ bị của Mỹ. Diệm cũng thường tuyên bố mình là nhân vật được biết nhiều nhất tại Việt Nam, chỉ thua có Hồ Chí Minh. (87)

87. Ngày 21/6/1954, Diệm nói với Đại sứ Heath: “I am best known figure in Vietnam after Ho Chi Minh;” XIII:1727. Khi đại ngôn điều này, Diệm quên mất Bảo Đại, bậc quân vương cũ của mình. Phê bình về lời tuyên bố hợm hĩnh của Diệm, một viên chức ngoại giao Mỹ nhận xét Diệm là “nhân vật thứ hai, cách rất xa, Hồ Chí Minh.”

Đại sứ Heath và các viên chức Mỹ nhiều hơn một lần tiến cử Diệm trong các cuộc khủng hoảng chính phủ, nhưng cả Bảo Đại lẫn Pháp chỉ muốn những người đáng tin cậy như Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, v.. v... Ngày 12/5/1952, chẳng hạn, Heath đề nghị cho Bảo Đại sẽ tạm thời nắm chức Thủ tướng, và mời những người có khả năng như Nguyễn Hữu Trí hay Ngô Đình Diệm vào nội các, với chức vụ Phó Thủ Tướng, Pháp cần ra tuyên ngôn về một chính sách "tiến hoá" (evolutionary statement) đối với nền độc lập của Việt Nam. Một số điều khoản lỗi thời trong Hiệp định 8/3/1949 và Hiệp ước Pau cần sửa đổi. Pháp phải đẩy mạnh hơn việc thiết lập QĐVN. (88)

88. FRUS, 1952-1954, I:134-41.

Sau khi chính phủ Joseph Laniel (5/1953-6/1954) đồng ý trả độc lập hoàn toàn cho Việt Nam năm 1953,(89) họ Ngô ráo riết vận động lên cầm quyền. Diệm từ Mỹ sang Belgium lo tiếp xúc Bảo Đại, qua môi giới Ngô Đình Luyện.

89. Ngày 28/4/1954, Laniel và Nguyễn Trung Vinh ký thoả hiệp "kiện toàn [perfection] nền độc lập của Việt Nam."

Tại Việt Nam, Thục và Nhu mở rộng hoạt động với các tổ chức tôn giáo và chính trị. Nhu hợp tác cả với Lê Văn “Bảy” Viễn, Phạm Công Tắc, v.. v... trong việc thành lập một liên minh chính trị vào cuối năm 1953. Đầu năm 1954, Thục, Nhu cùng nhóm Tinh Thần của Y sĩ Trần Văn Đỗ và Liên Đoàn Thanh Lao Công của Trần Quốc Bửu lập ra tiền thân của tổ chức được biết sau này như Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng, tức Cần Lao. (90)

90. Xem chi tiết về tổ chức này trong Chính Đạo, VNNB, Tập I-C: 1955-1963 (Houston: Văn Hóa, 2000) & Tập II-B: Các tổ chức chính trị (Houston: Văn Hóa, đang in). Xem thêm Liễu, Trả Ta Sông Núi, I:333-342. Nên lưu ý, trong Chính Cương của Cần Lao, không hề đề cập đến thuyết “sáng tạo” hay “tạo hóa” mà đôi lần đề cập đến thuyết “tiến hóa.” Điều này chứng tỏ Nhu có thể là một tín đồ Ki-tô, nhưng “chống Giáo sĩ” [anti-clerical] như Nhu thú nhận với Phái đoàn điều tra LHQ vào ngày 28/10/1963; UNGA, Agenda Item 77, Doc. A/5630, 7/12/1963.

Mark_03.gif (833 bytes) tiếp Phần III: Thủ tướng Toàn quyền (1954-1955)

Mark_03.gif (833 bytes) Go to top page

half_under_water_sw.gif (3365 bytes)

Home  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net