curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

Diễn đàn mở rộng của nhóm chủ trương Giao Điểm

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

..........

      03_gd10.GIF (962 bytes)

    Tôn giáo: vấn đề của thời đại:
Mark_03.gif (833 bytes) Trở lại vấn đề: A. de Rhodes và chữ quốc ngữ Charlie Nguyễn
Mark_03.gif (833 bytes) Phật & Giêsu  Trần Chung Ngọc
Mark_03.gif (833 bytes) Những lời châu ngọc về Thánh kinh (TCN dịch) Robert G. Ingersoll
Mark_03.gif (833 bytes) Thùa sai Công giáo Pháp và chính sách đế quốc tại VN  (II) Patrick Tuck
Mark_03.gif (833 bytes) Vài nhận xét về “Thư góp ý Pháp lệnh tôn giáo” của ông PĐD Charlie N
Mark_03.gif (833 bytes) Tạp ghi tháng Mười  Nguyễn văn Hóa
Mark_03.gif (833 bytes) Vài nét Phật học trong tư tưởng Kant Thái Kim Lan
 
    PG 63 - 40 năm nhìn lại:
Mark_03.gif (833 bytes) Giới thiệu “Tuyển tập 1963-2003: 40 năm nhìn lại” của nhiều tác giả
 
  Hồ sơ đàn áp PG trước năm 1963:
Mark_03.gif (833 bytes) phần I: Lời giới thiệu | Sa môn T. Mãn Giác
Mark_03.gif (833 bytes) phần II: Dẫn nhập
Mark_03.gif (833 bytes) phần III: hồ sơ đàn áp Tỉnh hội PG Phú Yên
Mark_03.gif (833 bytes) phần IV: hồ sơ đàn áp Tỉnh hội PG Bình Định
Mark_03.gif (833 bytes) phần V: hồ sơ đàn áp Tỉnh hội PG Quảng  Ngãi
 
   Đặc biệt của CĐ. : “Lược sử Ngô Đình Diệm”
Mark_03.gif (833 bytes) phần I: Diệm với Nhật, Pháp và Việt Minh
Mark_03.gif (833 bytes) phần II: Diệm - Bảo Đại: “thành phần thứ ba”
Mark_03.gif (833 bytes) phần III: Thủ tướng toàn quyền (1954-1955)
 
     Văn học – sáng tác:
Mark_03.gif (833 bytes) Hiệp hội Tương tế Bắc Việt nghĩa trang Trần Vũ
Mark_03.gif (833 bytes) Đọc “Phồn Hoa Kinh’ của Hoàng Nguyên Nhuận  Nguyễn Văn
Mark_03.gif (833 bytes) Nguyễn Đình Thi trong tôi... ngoài tôi Hoàng Cầm
Mark_03.gif (833 bytes) Hoa Sứ chùa Già Lam Thái Kim Lan
 
   Câu chuyện thời sự tháng Mười:
Mark_03.gif (833 bytes) Tin ngắn Giao Điểm
Mark_03.gif (833 bytes) Chính quyền Bush thất bại mọi mặt Hoài Việt
Mark_03.gif (833 bytes) Vi khuẩn Jihad tấn công Pentagon (Pep Escobar) NV
Mark_03.gif (833 bytes) Chiến tranh trên sự thật (John Pilger)
Mark_03.gif (833 bytes) Hồ sơ cá nhân (Ignacio Ramonet)
Mark_03.gif (833 bytes) Ổ diều hâu ở Bộ ngoại giao (Jim Lobe)
08_gdmau.jpg (3664 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
whiteball.gif (923 bytes)  Trang nghiên cứu đối thoại quý bốn tháng 10-2003 whiteball.gif (923 bytes)

[ PHẦN III ]       

V. THỦ TƯỚNG TOÀN QUYỀN (1954-1955):

Mùa Xuân-Hè 1954—giữa lúc dư luận Pháp rung chuyển vì cuộc thất trận tại Điện Biên Phủ (7/5/1954), hội nghị Geneva đang nhóm họp (từ ngày 8/5/1954) nhưng chưa đạt được kết quả mong muốn,  chính phủ Laniel bị bất tín nhiệm (12/6/1954), thay thế bằng Pierre Mendès-France (21/6/1954-2/1955), người từ năm 1952 đã cổ võ thương thuyết với Hồ Chí Minh—Diệm quì gối trước mặt vợ chồng Quốc trưởng Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương, “thề trên thập tự giá” rằng sẽ trung thành với Bảo Đại và duy trì cơ nghiệp nhà Nguyễn. Diệm cũng cam đoan sẽ rời bỏ quyền lực bất cứ lúc nào Bảo Đại muốn. Ngày 16/6/1954 này, Bảo Đại phong Diệm làm Thủ tướng Toàn quyền, dù trong thâm tâm cho rằng chỉ có những “tên khùng” (psychopath) tự nghĩ mình có một “sứ mạng” của “bề Trên” mới chịu làm Thủ tướng trước viễn ảnh đất nước chia đôi, và người Pháp có thể bỏ rơi miền Nam trong vòng hai năm.(91)

91. Xem buổi thảo luận giữa Bảo Đại và nhân viên ngoại giao Mỹ ngày 29/4/1955; Chính Đạo, VNNB, I-C: 1955-1963, tr. 54-55.

Trước khi rời Paris về nước ngày 23/6, Diệm thảo luận với tân Thủ tướng Mendès-France nhiều lần và mong muốn Mandès-France cho toàn quyền cũng như Bảo Đại, đặc biệt là vấn đề kiểm soát Ngân hàng và Viện Hối đoái (Office des Changes). Trong buổi nói chuyện với Đại sứ Heath ở Paris hai ngày trước, 21/6, Diệm và Luyện cũng cho biết không muốn thấy Bảo Đại về nước vì hai lý do: Bảo Đại có thể bị ám sát và sự hiện diện của Bảo Đại sẽ khiến có những sự phá rối từ văn phòng Quốc trưởng (Nguyễn Đệ). Chính vì sự khuấy rối [intriguing] này, Diệm đã xin được toàn quyền hành động. Diệm cũng nói cần ba bốn tháng để củng cố chính quyền.(92)

92. FRUS, 1952-1954, XIII:1728.

Trong buổi hội kiến giữa Mandès France và Thứ trưởng Ngoại Giao Walter B. Smith tại Quai d’Orsay ngày 20/6/1954—trong đó Mandès France nói về nhu cầu đạt một hiệp ước của Pháp với Việt Minh, Chu Ân Lai đề nghị gặp ở Geneva, và Smith cho Mendès-France biết đã cảnh cáo Molotov ngày Thứ Sáu, 18/6/1954, rằng Mỹ không chấp thuận cho CS giành được những gì vượt ngoài cái họ xứng đáng, và nhất là không được sỉ nhục nước Pháp, một đồng minh mà Mỹ vẫn yểm trợ—Mendès France yêu cầu Mỹ can thiệp để Diệm, “một người quá khích [a fanatic] giống như Lý Thừa Vãn,” tìm cách chống lại việc thương thuyết. (93)

93. FRUS, 1952-1954, XIII:1726.

Marc Jacquet phải từ chức vì tiết lộ cho báo chí kết quả cuộc thị sát chiến trường Đông Dương của Ely và Salan. (Báo cáo ngày 24/6/1954 của McClintock; III:1735)

Trước ngày từ chức, Navarre nhiều lần khẳng định Pháp không thể duy trì tình trạng quá ngày 1/10/1954 nếu không “quốc tế hóa” tức có sự can thiệp của Mỹ. Ely cũng đồng ý. (Báo cáo ngày 24/6/1954 của McClintock; XIII:1735)

Ngày 25/6/1954, Diệm rời Paris về nước. Tháp tùng có Trần Chánh Thành, Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng; Lê Quang Luật, Tổng Trưởng Thông Tin; và Nguyễn Văn Thoại. Tới Sài Gòn ngày 26/6, Diệm tạm trú tại Dinh Gia Long, vì Dinh Norodom vẫn được dùng làm tư dinh Cao Ủy Pháp.

Ngày 29/6, Diệm và Nhu, "đồng Thủ Tướng" không chính thức, gặp XLTV Đại sứ Mỹ Robert McClintock tại Sài-gòn. Theo McClintock, Diệm rất lo lắng về tình hình miền Bắc. Mặc dù Diệm đã yêu cầu Tướng Raoul Salan ngừng di tản chiến thuật, Salan nói đã nhận chỉ thị rõ ràng từ Paris, và tiếp tục việc triệt thoái. Diệm yêu cầu McClintock nhờ BNG Mỹ vận động ngoại giao để Pháp đừng rút quân quá nhanh đừng bỏ rơi Bắc Việt như một củ khoai nóng. Bằng không, Diệm sẽ không thành lập chính phủ. Diệm cũng xin Mỹ giúp di tản một số lớn dân Bắc, nếu Pháp và Việt Minh chia đôi Việt Nam. (94)

94. FRUS, 1952-1954, XIII:1762-1763.

Trong báo cáo về Oat-shinh-tân, McClintock cho biết đã hai lần yêu cầu tương tự với Oat-shinh-tân (ngày 17 & 22/6/1954).(95)

95. FRUS, 1952-1954, III:1718, 1729.

Ngày 1/7/1954, Ngoại trưởng Dulles chỉ thị cho Đại sứ Dillon tại Paris can thiệp với Mendès-France về việc di tản châu thổ sông Hồng; và lưu ý Mendes-France về mối quan tâm của Mỹ với giáo dân Bùi Chu-Phát Diệm. Đại sứ Johnson cũng cần hỏi Jean Chauvel là việc triệt thoái có phải là thỏa thuận ngầm với Việt Minh hay chăng. (96)

96. FRUS, 1952-1954, XIII:1772.

 Nhưng ngày 6/7/1954, Tướng Ely, Cao ủy kiêm Tổng Tư lệnh Đông Dương, cho McClintock biết rằng chính ông ta đã cho lệnh triệt thoái ba tỉnh miền Nam để giữ trục chiến lược Hà Nội-Hải Phòng. Sẽ còn triết thoái phía Tây, lấy sông Đà làm tuyến phòng thủ. Đáng lẽ nên rút cả Hà Nội, chỉ giữ Hải Phòng, nhưng mất Hà Nội là một đại họa chính trị. Nếu bỏ Hà Nội, Ely sẽ từ chức.

30/6/1954: Tướng Ely thông báo cho Đại tá de Brebisson biết kế hoạch rút Nam Bắc Việt đã được hoạch định từ ngày 15/5/1954, và do đích thân Ely trao cho Tướng Navarre trong dịp qua Đông Dương.

Sài Gòn, 29/6/1954: McClintock gặp Hoàng tử Savang và Thủ tướng Souvana Phouma.. Savang và Phouma nói không thành lập chính phủ liên kết với em (half-brother), lãnh tụ Pathet Lào. (XIII:1764-1765)

Diệm yêu được gặp lại McClintock vào ngày Thứ Sáu, 2/7/1954. (XIII:1763)

28/6/1954: Cannes: Heath gặp Bảo Đại vào buổi tối. Theo Heath, Bảo Đại đang là một quan sát viên hãi sợ [craven spectacle]. Không còn chuyện chiến đấu đến giây phút cuối cùng như đã hứa chắc hai tháng trước. Bảo Đại có lẽ đang bị bệnh; và y sĩ riêng của Bảo Đại gửi cho Heath một lá thư yêu cầu khuyên Bảo Đại nên đi dưỡng bệnh ở Vittel khoảng 6 tuần lễ. Đau ốm hay chăng, theo Heath, Bảo Đại đã có vẻ chịu thua cuộc, trừ trường hợp Mỹ giúp ông ta "kéo tủ ra khỏi đống lửa" bằng cách can thiệp quân sự.

Sau khi kể lể về sức khoẻ, Bảo Đại hỏi Heath nghĩ gì về Hội nghị Geneva. Heath nói VM sẽ đồng ý lấy phần đất phía Bắc Đồng Hới, ngoại trừ khu vực Hải Phòng, và có thể khu Bùi Chu-Phát Diệm.

Bảo Đại nghĩ VM muốn có một chính phủ liên hiệp, và Bảo Đại có thể là Quốc trưởng, miễn hồ VM nắm được những bộ quan trọng như Nội Vụ. Bảo Đại cũng được nghe rằng Mendès-France và Chu Ân Lai đã đồng ý tại Berne là sẽ có tổng tuyển cử trong vòng 1 năm.

Về phần Diệm, Bảo Đại chẳng hiểu tại sao Diệm chịu nhận chức Thủ tướng. Bảo Đại đã hỏi chính sách của Diệm ra sao, thương thuyết với VM chăng? Diệm trả lời là không thương thuyết, và sẽ trông cậy vào sự yểm trợ của Mỹ. Bảo Đại thêm rằng VM sẽ chịu lùi bước nếu Mỹ can thiệp bằng quân sự. Quân đội QGVN cũng sẽ mạnh hơn, đả bại được VM. Nhưng hiện tại Bảo Đại chẳng làm được gì nữa; Mendès-France đã bỏ rơi Việt Nam.

Heath lập lại lời Ngoại trưởng Dulles đã nói với Nguyễn Quốc Định trước ngày khai mạc Hội nghị Geneva: Nếu một quốc gia muốn chống lại sự xâm lăng, quốc gia đó sẽ tìm được bạn và đồng minh. Bảo Đại bỏ qua vấn đề.

Bảo Đại cũng không trả lời câu hỏi của Heath là liệu có về nước để đối phó với tình thế. Theo Heath, thật rõ ràng là Bảo Đại không có ý định làm một việc gì có vẻ liều lĩnh như trở lại Việt Nam trong hoàn cảnh hiện tại. Nếu Mendès-France đạt một thoả thuận nào với VM thì ông ta cũng chỉ sẽ chống đối chiếu lệ [pro forma remonstrance], và cúi đầu. Nhờ sự đồng loã của cơ quan hối đoái Pháp, Bảo Đại đã có một tài sản đáng kể ở hải ngoại. (FRUS, 1952-1954, XIII:1760]

Ngày 1/7, Diệm ra Hà-nội dò xét tình hình. Hôm sau, 2/7, Diệm về Huế. Sau chuyến đi Bắc, Diệm nói với nhân viên Mỹ là đồng ý lập chính phủ. (97)

97. FRUS, 1952-1954, XIII:1773.

 Ngày 5/7/1954, Diệm công bố danh sách nội các.(98)

98. Thủ Tướng, kiêm Nội Vụ và Quốc Phòng: Diệm; Quốc Vụ Khanh: Trần Văn Chương; Tổng Trưởng [TT] Ngoại Giao: Trần Văn ĐỗTT Tài Chính và Kinh Tế: Trần Văn Của; TT Lao Động và Thanh Niên: Nguyễn Tăng Nguyên; TT Công Chính: Trần Văn Bạch; TT Y Tế và Xã Hội: Phạm Hữu Chương;  TT Canh Nông: Phan Khắc Sửu; TT Quốc Gia Giáo Dục: Nguyễn Dương Đôn.

Bộ trưởng Phủ Thủ Tướng: Trần Chánh Thành; Thông Tin: Lê Quang Luật; Công vụ Phủ Thủ Tướng: Phạm Duy Khiêm; Nội Vụ: Nguyễn Ngọc Thơ; Quốc Phòng: Lê Ngọc Chấn.

Thứ Trưởng Quốc Phòng: Hồ Thông Minh; Tư Pháp: Bùi Văn Thinh; Kinh Tế: Nguyễn Văn Thoại; Tài Chính: Trần Hữu Phương (10 H 4195).

6/7/1954: Heath trở lại Sài-gòn. Tướng Ely cũng trở lại Sài-gòn sau khi về Paris tham khảo với chính phủ Mendès-France và tân Bộ trưởng Các Quốc Gia Liên Hiệp Guy de La Chambre.

Ngày 7/7/1954, Diệm chính thức cầm quyền. Hôm sau, 8/7, khi gặp Heath và Tướng O’Daniel, Diệm than phiền ràng nếu mất Bắc Việt khó giữ Trung và Nam. Diệm muốn Mỹ can thiệp để Pháp đừng chia cắt đất nước. Diệm cũng mong Mỹ can thiệp cho QĐQGVN phải được tự trị càng sớm càng tốt. (99)

99. FRUS, 1952-1954, XIII:1793-1794.

Qua ngày 9/7, Thủ hiến Nguyễn Hữu Trí và Phan Văn Giáo từ chức. Tại Trung Việt, Diệm cử Nguyễn Đôn Duyến làm Đại biểu; tại Bắc Việt, Hoàng Cơ Bình làm Đại biểu, kiêm Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ; Trần Chánh Thành, Ủy viên dân sự, và Thiếu tướng Nguyễn Văn Vận, Ủy viên quân sự.

Nhưng Diệm vừa lên cầm quyền chưa đầy hai tuần lễ, Pháp và Việt Minh ký Hiệp ước Geneva (21/7/1954). Việt Nam bị chia làm hai vùng tập trung quân sự, chờ ngày Tổng tuyển cử, trong vòng 2 năm.

Mặc dù đại diện của chính phủ Diệm tại Geneva là Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ không chịu ký vào Hiệp ước, nhưng nhờ có danh nghĩa quân đội Pháp và nhất là sự trợ giúp tích cực, hầu như vô giới hạn của Liên Bang Mỹ, Diệm được thừa hưởng vùng đất phía Nam vĩ tuyến 17 để thiết lập một tiền đồn chống Cộng của Thế Giới Tự Do trong vòng hai năm im tiếng súng. Hầu như toàn bộ quân đội Quốc Gia Việt Nam ở miền Bắc, ngoại trừ một thiểu số đào ngũ theo Việt Minh, đều được tập trung vào miền Nam. Chính phủ Mỹ còn yểm trợ việc di cư vào Nam hơn 800,000 người sinh trưởng ở miền Bắc theo điều khoản mọi người được quyền tự do chọn chỗ cư trú tại vùng tập trung mình ưa thích.(100)

100. Con số chính thức là hơn 800,000, nhưng khó có được chính xác tổng số người Bắc di cư. Các đơn vị quân đội và giáo xứ thường man khai số người trong gia đình để xin trợ cấp.

 Trong khi đó, đại bộ phận quân đội Việt Minh cũng rút ra phía Bắc vĩ tuyến 17, chỉ để lại một số cán bộ trung kiên chuẩn bị đấu tranh chính trị trong vòng 2 năm. Lê Duẩn (1908-1986), Bí thư Trung Ương Cục miền Nam, chỉ còn giữ chức Bí thư Nam bộ.

Sự trợ giúp chính phủ Diệm một cách ồ ạt và mạnh mẽ của Mỹ khiến báo chí Pháp và dư luận Việt Nam trong thời gian này đều tin rằng Diệm là “lá bài Mỹ.” Nhưng vấn đề người Mỹ có đưa Diệm về nước cầm quyền hay chăng, còn một số khoen nối thiếu sót.

Nguồn tin quân sự Mỹ cho rằng Hồng Y Francis Spellman và Tướng hồi hưu William Donovan—cựu Giám đốc Sở Tình Báo Chiến Lược (OSS), tiền thân của Cơ quan Trung Ương Tình Báo Mỹ (CIA), lúc đó đang cầm đầu một cơ sở kinh tài trên đường Wall Street, New York—đứng sau kế hoạch vận động Diệm về cầm quyền. Vì thế, từ ngày 1/6/1954—gần một tháng trước ngày Diệm về nước—Đại tá Edward G. Lansdale đã qua Việt Nam để giúp Diệm củng cố quyền lực. (101)

101. Xem, Lansdale, In the Midst of Wars. Năm 1960-1961, khi tình hình trở nên nghiêm trọng, chính Diệm lại xin Lansdale làm Cố vấn cho mình, nhưng Mỹ không chấp thuận. Đây có thể là một trong những lý do khiến Diệm-Nhu bắt đầu có thái độ chống Mỹ để bảo vệ quyền lực cá nhân và gia đình—giống như âm mưu chống lại Toàn quyền Pasquier năm 1933.

Mặt khác, XLTV Đại sứ Mỹ, Robert McClintock, không dấu bực dọc về tin đồn rằng Diệm là người của Mỹ, và công khai chỉ trích Diệm cùng “đồng Thủ tướng” [Nhu] là chẳng có kế hoạch gì hơn “nương tựa vào Mỹ.” (102)

102. CĐ 2807, ngày 17/6/1954, McClintock gửi BNG; FRUS, 1952-1954, XIII:1718 CĐ 2932, 29/6/1954, McClintock gửi BNG; Ibid., XIII:1772)

Cuối năm 1954 và đầu năm 1955, Ngoại trưởng Dulles cũng khẳng định Diệm là do Pháp chọn. (103)

103. Xem, chẳng hạn, thư ngày 20/4/1955, Dulles gửi Collins; hay, biên bản cuộc họp Tam cường Mỹ-Bri-tên-Pháp ngày 8-11/5/1955.

Bảo Đại thì không nói rõ tại sao đã chọn Diệm làm Thủ tướng thay Hoàng thân Bửu Lộc. Trên danh nghĩa, Bảo Đại đã chọn Diệm nhưng ai cũng rõ Bảo Đại—một Quốc trưởng do Pháp lập nên từ năm 1949 với sự khuyến khích của Mỹ—chẳng có quyền lực gì trong việc lựa chọn Thủ tướng hay hoạch định chính sách. Nhiệm vụ Quốc trưởng của Bảo Đại chỉ thuần có tính cách “nghi lễ,” với số lương hàng năm là “5% tổng số thu nhập toàn quốc.”

Sự thăng tiến của Diệm ít nhiều ảnh hưởng đến cuộc phỏng vấn của Hồ Chí Minh với báo Expressen của Norway [Thụy Điển] ngày Chủ Nhật, 29/11/1953, để đáp ứng lời kêu gọi thương thuyết của chính phủ Laniel. Hồ nói sẵn sàng cứu xét mọi đề nghị của Pháp, nhưng chỉ thương thuyết với Pháp. (104)

104. FRUS, 1952-1954, XIII:890-891. Sau này, tại Hội nghị ngưng bắn Trung Giá, Văn Tiến Dũng cũng chỉ chấp thuận cho trồng hai cột cờ: một treo cờ Việt Minh, một treo cờ tam tài bên trên, cờ vàng ba sọc đỏ bên dưới.

Đại sứ Heath và rồi chính Ngoại trưởng John Foster Dulles cam đoan với Bảo Đại rằng nếu những người Việt Quốc Gia còn muốn tiếp tục chống Cộng—“đánh riêng trận Điện Biên Phủ của họ” như Bảo Đại ao ước—họ sẽ không đơn độc.(104)

104. Ngày Chủ Nhật, 17/1/1954, Bảo Đại nói với Đại sứ Heath rằng Giám Mục Thục và Diệm không chống đối Bảo Đại. Diệm rất ao ước được nối lại liên hệ với bậc quân vương cũ của mình. Cơ cấu chính quyền Việt Nam, theo Bảo Đại, sẽ mô phỏng theo Mỹ. Hội Đồng Tư Vấn (Cơ Mật Viện) mà Bảo Đại mới chỉ định sẽ là tiền thân của Thượng Nghị Viện; và sẽ tiến tới việc bầu cử Quốc Hội; FRUS, 1952-1954, XIII, 1:978-81. Ngày 24/4/1954, khi Dulles hỏi Việt Nam sẽ làm gì nếu Pháp quyết định ngưng bắn, Bảo Đại nói sẽ tiếp tục chiến đấu; nhưng cần được yểm trợ vũ khí. Theo Bảo Đại, Điện-biên-phủ có thể là trận đánh cuối cùng của Pháp, nhưng người Việt chưa đánh trận Điện-biên-phủ cuối cùng của họ; FRUS, 1952-1954, XIII:1384-1385.

Dựa trên những tài liệu đã giải mật, có thể kết luận rằng lá bài Diệm đã do Pháp tiến cử, qua Bảo Đại, và được sự chấp thuận của Mỹ. Pháp cũng như Bảo Đại đều nghĩ rằng Diệm là “người của Mỹ,” và có thế tựa Ki-tô giáo. Diệm, ít nữa cũng mở ra cho Pháp và Bảo Đại một hy vọng duy trì tình trạng hiện hữu, nhất là viện trợ Mỹ, thêm một thời gian. Phần Mỹ, mà người có tiếng nói quan trọng trong chính sách về Đông Dương là Đại sứ Heath, chưa muốn “mất” Đông Dương. Cuộc họp Thượng đỉnh Eisenhower-Churchill từ 26 tới 29/6/1954 đi đến kết luận rằng cần lập một bức màn tre dài theo vĩ tuyến 17 hay 17.5. Mặc dù Bri-tên cũng như Mỹ đều không muốn đem quân tham chiến ở Đông Dương, quân đội viễn chinh Pháp có thể được thay thế bằng lực lượng Liên minh phòng thủ Đông Nam Á (SEATO), theo kiểu mẫu Liên Minh Bắc Đại Tây Dương (NATO).

Dù nổi danh là người xa rời thực tế và cứng đầu, nhưng Diệm có lực lượng yểm trợ chính trị—tức giáo hội Ki-tô mà cách tổ chức chẳng khác biệt bao lăm với Cộng Sản. Diệm cũng có thành tích chống Cộng, và sống như một thầy tu. Ít nữa, ở thời điểm mùa Hè 1954, Diệm có cùng mục đích chống Cộng với Mỹ. Cuộc hôn nhân vì tiện nghi này sẽ cho Mỹ một thời gian vừa phải để nghiên cứu có nên tiến xa hơn trong kế sách ngăn chặn sự bành trướng của Cộng Sản xuống vùng Đông Nam Á hay chăng.

Nói cách khác, dù Mỹ không chính thức chọn Diệm, chẳng có gì sai lạc khi nói Diệm đã đưa Mỹ về làm Thủ tướng, trong một sách lược chung (joint adventure) Mỹ-Pháp-Việt. Tuy nhiên, cả Pháp lẫn Việt đều là cổ đông thiểu số, hay phụ thuộc, vì phần vốn đầu đóng góp của hai “cổ đông”này chỉ có máu xương trai tráng Liên Hiệp Pháp và Việt Nam.

Houston, 1993-2003
CHÍNH ĐẠO

[Trích: Hồ Chí Minh (1892-1969): Con người & Huyền thoại, tập III: 1947-1969, đang in]

 

Mark_03.gif (833 bytes) Go to top page

half_under_water_sw.gif (3365 bytes)

Home  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net