curley_sw_03.gif (1967 bytes) Trang mục lục

diễn đàn mở rộng của nhóm chủ trương Giao Điểm

Unicode Standard curley_sw_03.gif (1967 bytes)

..........

      03_gd10.GIF (962 bytes)

    Tôn giáo: vấn đề của thời đại:
Mark_03.gif (833 bytes) Trở lại vấn đề: A. de Rhodes và chữ quốc ngữ Charlie Nguyễn
Mark_03.gif (833 bytes) Phật & Giêsu  Trần Chung Ngọc
Mark_03.gif (833 bytes) Những lời châu ngọc về Thánh kinh (TCN dịch) Robert G. Ingersoll
Mark_03.gif (833 bytes) Thùa sai Công giáo Pháp và chính sách đế quốc tại VN  (II) Patrick Tuck
Mark_03.gif (833 bytes) Vài nhận xét về “Thư góp ý Pháp lệnh tôn giáo” của ông PĐD Charlie N
Mark_03.gif (833 bytes) Vài nét Phật học trong tư tưởng Kant Thái Kim Lan
Mark_03.gif (833 bytes) Tạp ghi tháng Mười  Nguyễn văn Hóa
 
    PG 63 - 40 năm nhìn lại:
Mark_03.gif (833 bytes) Giới thiệu “Tuyển tập 1963-2003: 40 năm nhìn lại” của nhiều tác giả
 
  Hồ sơ đàn áp PG trước năm 1963:
Mark_03.gif (833 bytes) phần I: Lời giới thiệu | Sa môn T. Mãn Giác
Mark_03.gif (833 bytes) phần II: Dẫn nhập
Mark_03.gif (833 bytes) phần III: hồ sơ đàn áp Tỉnh hội PG Phú Yên
Mark_03.gif (833 bytes) phần IV: hồ sơ đàn áp Tỉnh hội PG Bình Định
Mark_03.gif (833 bytes) phần V: hồ sơ đàn áp Tỉnh hội PG Quảng  Ngãi
 
   Đặc biệt của CĐ. : “Lược sử Ngô Đình Diệm”
Mark_03.gif (833 bytes) phần I: Diệm với Nhật, Pháp và Việt Minh
Mark_03.gif (833 bytes) phần II: Diệm - Bảo Đại: “thành phần thứ ba”
Mark_03.gif (833 bytes) phần III: Thủ tướng toàn quyền (1954-1955)
 
     Văn học – sáng tác:
Mark_03.gif (833 bytes) Hiệp hội Tương tế Bắc Việt nghĩa trang Trần Vũ
Mark_03.gif (833 bytes) Đọc “Phồn Hoa Kinh’ của Hoàng Nguyên Nhuận  Nguyễn Văn
Mark_03.gif (833 bytes) Nguyễn Đình Thi trong tôi... ngoài tôi Hoàng Cầm
Mark_03.gif (833 bytes) Hoa Sứ chùa Già Lam Thái Kim Lan
 
   Câu chuyện thời sự tháng Mười:
Mark_03.gif (833 bytes) Tin ngắn Giao Điểm
Mark_03.gif (833 bytes) Chính quyền Bush thất bại mọi mặt Hoài Việt
Mark_03.gif (833 bytes) Vi khuẩn Jihad tấn công Pentagon (Pep Escobar) NV
Mark_03.gif (833 bytes) Chiến tranh trên sự thật (John Pilger)
Mark_03.gif (833 bytes) Hồ sơ cá nhân (Ignacio Ramonet)
Mark_03.gif (833 bytes) Ổ diều hâu ở Bộ ngoại giao (Jim Lobe)
08_gdmau.jpg (3664 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
whiteball.gif (923 bytes) Trang nghiên cứu & đối thoại tháng 10 quý bốn 2003 whiteball.gif (923 bytes)
 

Chiến tranh trên sự thật (*)

John Pilger     

      Ở Baghdad, công trình kiến trúc tốn kém thể hiện thời kì hưng thịnh và sự điên rồ của chế độ đế quốc tham tàn là một nghĩa trang đã bị bỏ quên trong nhiều năm. Đó là nghĩa trang North Gate (Cổng Bắc).  Khách viếng thăm nghĩa trang thường là chó.  Những cánh cổng thường ở trong tình trạng khóa móc.  Bụi khói xe cộ chung quanh bao phủ mấy tấm bia cũ kĩ như sắp sụp đổ nói cho chúng ta một sự thật lịch sử bất biến.

      Trung tướng Stanley Maude được chôn cất ở đây sau khi qua đời vì bệnh dịch tả.  Dấu tích của ông tướng này để lại là một cái lăng giống như cái đồn quân ông từng trú đóng.  Năm 1917, Maude tuyên bố: “Chúng ta đến đây không phải để chinh phục mà để giải phóng.”  Trong vòng 3 năm sau đó, 10,000 người bỏ mạng trong cuộc nổi dậy chống quân đội Anh, cái quân đội từng xịt hơi ngạt và dội bom xuống những người mà họ gọi là “đê tiện” – “miscreants”.  Đó là một cuộc viễn chinh mà đế quốc Anh không bao giờ hồi phục nổi.

      Ngày nay, ở Mĩ hệ thống truyền thông có mặt trong mọi hang cùng ngõ hẻm nói cho người Mĩ biết rằng quân lính Mĩ đang đổ máu hàng ngày ở Iraq, mặc dù tình hình thực tế và qui mô tấn công của lính Mĩ ở Iraq được che đậy hoàn toàn.  Rồi nay mai đây, người Mĩ sẽ biết số lính bị giết chết sau ngày “giải phóng” còn cao hơn số lính bị giết trong lúc xâm lăng Iraq.  Cũng như tình trạng ở Việt Nam trước đây, chính phủ Mĩ cảm thấy duy trì cái huyền thoại về “sứ mệnh” càng ngày càng khó khăn hơn.  Nói như thế không có nghĩa là đánh giá thấp những thành công ngoạn mục của hệ thống tuyên truyền do Mĩ và Anh tung ra.  Hệ thống tuyên truyền này cực kì hữu hiệu trong việc giấu diếm dự thật: đó là phần đông người Iraq phản đối chế độ của Saddam Hussein và sự xâm lăng của liên quân Anh-Mĩ.  Một trong những lí do mà kí giả Andrew Gilligan (thuộc đài BBC) làm cho chính phủ Anh ở đường Downing ghét ông là vì ông dám tường thuật rằng đối với nhiều người Iraq, cuộc xâm chiếm đẩm máu của liên quân Anh – Mĩ cũng tồi tệ như cái chế độ độc tài của Saddam vừa gục ngã.

      Nhưng điều này chẳng bao giờ được đề cập đến trong nước Mĩ.  Cái chết của hàng chục ngàn người Iraq hầu như không hiện hữu.  Khi tôi (John Pilger) phỏng vấn Douglas Feith, nhân vật số 3 sau Donald Rumsfeld ở Ngũ giác đài, ông ta lắc đầu và lên lớp tôi về mức độ “chính xác” của vũ khí Mĩ.  Cái thông điệp mà ông ta muốn nói với tôi là cuộc chiến đã trở thành một trò trơi khoa học kĩ thuật không đổ máu nhân danh thần quyền của nước Mĩ.  Phỏng vấn ông Feith cũng giống như nói chuyện với một linh mục.  Chỉ có những “chàng trai” và “thục nữ” Mĩ phải chịu đau khổ, phải hi sinh dưới bàn tay của đám “tàn quân Ba'athist”, một danh-từ-tự-lừa-dối trong tinh thần danh từ “đê tiện” của Tướng Maude.  Giới truyền thông mù quáng lặp lại những câu thần chú của Feith, và ít khi nào dám đề cập đến cái sự thật về phong trào kháng chiến chống lại quân đội Mĩ ở Iraq, cái phong trào kháng chiến đang làm nhiều lính Mĩ phải cụt tay, cụt chân.  Báo chí Mĩ lúc thì dùng những từ ủy mị, lúc thì hung hăng theo tinh thần của chủ nghĩa sô-vanh ca tụng những nạn nhân lính Mĩ và tố cáo đám “tàn quân Ba'athist”.  Khi phỏng vấn John Bolton, thứ trưởng ngoại giao phụ trách an ninh quốc tế, ông ấy cho tôi biết chất vấn chính sách ngoại giao của Mĩ cũng đồng nghĩa với dị giáo, hay như cách nói của ông, tôi thuộc vào loại “đảng viên đảng cộng sản”.

      Đối với Mĩ, những khủng hoảng ở Iraq về hệ thống y tế, trẻ em chết vì đói khát và viêm dạ dày với một tỉ lệ cao hơn trước thời chiến tranh (theo UNICEF khoảng 8% trẻ em bị thiếu dinh dưỡng), hay khủng hoảng về nông nghiệp và thực phẩm ... coi như không có.   Cũng giống như việc Mĩ cầm đầu việc cấm vận Iraq trong suốt 12 năm trời làm cho hàng trăm ngàn người Iraq chết, người dân Mĩ không khi nào biết đến.  Người Iraq, cùng lắm là không phải con người, hay tệ hơn nữa là những đối tượng để lính Mĩ săn đuổi.  Tháng vừa qua, một lá thư xuất hiện một cách nổi bật trên tNew York Daily News viết: “Cứ mỗi GI bị giết, chúng ta cần phải x tử 20 tên Iraq”.  Trong tuần qua, Lực lượng đặc nhiệm 20, một đội quân thiện nghệ của Mĩ, được giao nhiệm vụ đi săn đuổi “những tên ác ôn”, đã giết chết ít nhất là 5 người Iraq ngay trên đường phố Baghdad.  Hành động săn bắt và giết người của họ chỉ là một hành động tiêu biểu của đội quân này.

      Oai phong của tờ New York Times Washington Post không thể nào sánh nổi với cái thô bỉ của hệ thống tin tức do Rupert Murdoch cầm đầu.  Tuy nhiên, ngày 23 tháng 7 vừa qua, cả hai tờ báo trên chạy cái tít lớn trên trang đầu về vở tuồng “Hồi hương” của cô Jessica Lynch, một binh nhì 20 tuổi bị thương trong một tai nạn xe cộ (trong lúc cô còn đóng quân ở Iraq) và bị bắt.  Cô ta được các bác sĩ Iraq cứu sống và chăm sóc cẩn thận.  Cũng chính những bác sĩ này đã mạo hiểm liên lạc với quân đội Mĩ để giao trả cô ta về đơn vị.  Nhưng câu chuyện chính thức do chính phủ Mĩ đưa ra thì khác hẳn.   Theo chính phủ Mĩ, cô ta đã anh dũng chống trả lại lính Iraq, và sau khi bị bắt giam, cô được biệt kích Mĩ giải thoát.  Nhưng toàn bộ câu chuyện này là một sự lừa dối có tổ chức.  Cuộc “giải thoát” được một đạo diễn phim trường Hollywood quay phim bằng máy thu hình tinh vi có thể dùng trong đêm tối.

      Mặc cho những sự thật như thế, đại đa số giới báo chí Mĩ vẫn hết lời ca ngợi lòng “anh dũng” của cô, và tâng bốc cô ta lên tận mây xanh khi cô về quê Elizabeth thuộc bang West Virginia.  Theo tờ Washington Post, toàn bộ câu chuyện bị lẫn lộn vì những mâu thuẫn trong các bài tường thuật của giới truyền thông.  Nhà văn George Orwell từng mô tả tình cảnh này là “Ngôn từ rơi rụng trên sự thật như là đống tuyết, làm hoen ố nội dung câu chuyện và giấu diếm tất cả chi tiết”.  Nhờ vào tự do báo chí tuyệt vời của Mĩ, phần đông người Mĩ, theo như một cuộc thăm dò ý kiến, tin rằng Iraq là thủ phạm đằng sau biến cố 11/9/01.   Jane Harman, một tiếng nói hiếm hoi trong Quốc hội Mĩ, nói: “Chúng ta là nạn nhân của một sự giấu diếm lớn nhất từ trước đến nay”.  Nhưng lời nói của bà Harman của chỉ là một ảo tưởng.

      Sự thật là cuộc chiến ở Iraq vừa qua là cuộc can thiệp lần thứ 73 của Mĩ trên thế giới trong quá trình làm cảnh sát quốc tế.  Ngoài những cuộc can thiệp như thế, còn có hàng trăm chiến dịch bí mật nhưng đẩm máu chống lại các dân tộc khác trên thế giới.  Những hành động phi pháp này được giới truyền thông toa rập và giấu nhẹm.  Truyền thống dối trá của chính phủ Mĩ có một lịch sử lâu đời, từ thời Mĩ tiến hành những chiến dịch tiêu diệt người thổ dân Mĩ, và cuộc chiến Tây Ban Nha – Mĩ, mà trước đó Mĩ tố cáo Tây Ban Nha đánh chìm tàu chiến (Maine) của Mĩ.  Cho đến thời chiến tranh lạnh, và vụ Vịnh Bắc bộ ở Việt Nam cũng toàn là những dối trá do chính phủ Mĩ bảo trợ.  

      Vào thập niên 70s, nhờ vào sự im lặng của giới truyền thông, Tổng thống Carter cung cấp vũ khí cho Nam Dương để cho chế độ của Suharto thẳng tay tàn sát người dân Đông Timor; và bí mật viện trợ cho nhóm du kích mujahedin, tiền thân của nhóm Taliban và al-Qaeda.  Vào thập niên 80s, chính phủ Mĩ sản xuất ra một sự vô lí: mối “đe dọa” đến nền an ninh nước Mĩ từ phong trào du kích Sandinistas ở một nước tí hon Nicaragua ở Trung Mĩ.  Qua mối “đe dọa” này, Tổng thống Reagan cung cấp vũ khí cho các nhóm khủng bố nổi tiếng như Contras, và hậu quả là gần 70,000 người bị giết.  Đến thời George W Bush, Mĩ thu nhận hàng trăm tội phạm chiến tranh từ châu Mĩ Latin và những tay cướp máy bay (khủng bố đúng nghĩa) chống lại Cuba của chế độ Castro vào định cư ở Mĩ.  Nhưng những sự thật này có bao giờ được báo chí Mĩ nhắc đến.  Người Mĩ cũng chẳng biết đến “Trung tâm huấn luyện” tại Fort Benning, bang Georgia, mà những người tốt nghiệp là niềm tự hào của Osama Bin Laden. 

      Người Mĩ, nói như Tạp chí Time, sống trong một “eternal present” – một hiện tại bất biến.  Nói cho đúng hơn, người Mĩ không có lựa chọn.  Cái gọi là hệ thống “truyền thông chính thống” ngày nay bị Rupert Murdoch thống trị qua hệ thống truyền hình Fox.  Đối với Fox, bất cứ chiến tranh nào cũng là một cuộc chiến tốt.  Ủy ban Thông tin Liên bang (Federal Communications Commission) do Michaal Powell, con trai của Colin Powell, cầm đầu đã quyết định cho phép Fox và 4 tập đoàn khác kiểm soát 90% hệ thống thông tin trên toàn nước Mĩ.  Hơn thế nữa, Fox, Disney, và AOL Time Warner kiểm soát 20 mạng internet hàng đầu trên thế giới.  Hai mươi mạng này thu hút khoảng 60% dân số dùng internet trên thế giới.

      Giám đốc Tạp chí Le Monde Diplomatique, Ignacio Ramonet, tóm gọn tình hình một cách chính xác: “Để biện minh cho một cuộc chiến phòng nga mà Liên hiệp quốc và thế giới không muốn có, một bộ máy tuyên truyền và la phỉnh dưới s điều khiển của nhóm tân bảo thủ đang vây quanh ông Bush, sản xuất ra những dối trá do nhà nước bảo trợ, một đặc điểm của các chế độ tồi tệ nhất thế gii trong thế kỉ 20.” 

      Phần lớn những dối trá được Văn phòng Thông tin Toàn cầu (Office of Global Communications) thuộc Tòa bạch ốc chuyển ngay cho Đường Downing (trụ sở của Chính phủ Anh).  Nhiều thông tin thực ra là sản phẩm của một cơ quan bí mật thuộc Ngũ giác đài, gọi là Văn phòng Kế họach Đặc biệt (Office of Special Plans).  Chính văn phòng này là tác giả của các bản tin tình báo được “sexed up” cho Tony Blair.  Cũng chính tại đây, những dối trá nổi tiếng về vũ khí tàn phá hàng loạt được chế tạo một cách thủ công.  Ngày 9 tháng 7, Donald Rumsfeld va cười va nói rằng Mĩ chẳng bao giờ có bằng chng gì mới [về vụ Saddam có vũ khí tàn phá hàng loạt], và Paul Wolfowitz cũng nói trước đó: “Vấn đề vũ khí tàn phá hàng loạt” chỉ được nêu lên như là một “lí do hành chính” mà thôi, “bởi vì đó là lí do duy nhất [để xâm chiếm Iraq] mà ai cũng đồng ý.” 

       Do đó, việc Blair tấn công đài BBC là một phần trong kế hoạch nói láo toàn cầu của chính phủ Anh.  Chúng (những dối trá) không chỉ cố tình lảng tránh sự liên kết tội phạm của Blair với nhóm ông Bush.  Quả đúng như Nhà bình luận truyền thông người Mĩ, Danny Schechter, chỉ ra một cách sắc bén rằng thu nhập của đài BBC tăng lên $5.6 tỉ Mĩ kim; có nhiều người Mĩ xem đài BBC ở Mĩ hơn là xem đài BBC1 ở Anh; và điều mà Murdoch và những tập đoàn TV khác mong muốn là kiềm chế, hay ít ra là phải tư hu hóa, đài BBC.  

      Cái trớ trêu ở đây, nói như Schechter, là đài BBC là đài chủ chiến, thường tuyên truyền cho chiến tranh.  Schechter trích dẫn nghiên cứu của nhóm Media Tenor, một viện nghiên cứu truyền thông độc lập mà ông ta là một sáng lập viên, cho thấy trong lúc cuộc chiến vừa qua, BBC ít khi nào tường trình những cuộc biểu tình phản đối chiến tranh trên khắp thế giới.  Một nghiên cứu khác của trường đại học Cardiff cũng phát hiện một khuynh hướng tương tự.  Thay vào đó, đài BBC thường phóng đại những dối trá do bộ máy chiến tranh ở Washington sản xuất ra, chẳng hạn như là tin Iraq tấn công Kuwait bằng tên lửa scuds (mà trong thực tế không xảy ra).  BBC còn là cái loa cho Andrew Marr đọc diễn văn ăn mừng chiến thắng ngay phía ngoài đường Downing: “[Tony Blair] nói chúng ta sẽ chiếm Baghdad không cần một giọt máu, và người dân Iraq sẽ vui mừng chào đón chúng ta.  Cả hai tiên đoán này đã được chứng minh một cách hùng hồn”. 

      Trong bài diễn văn đáng để đời đó, gần như mỗi chữ của Marr hoặc vô duyên, hoặc xuyên tạc.  Nhiều nghiên cứu cho thấy con số tử vong trong cuộc chiến vừa qua lên đến 10,000 thường dân và 20,000 binh lính Iraq.  Nếu đây không là đổ máu thì cuộc tàn sát 2,000 người trong hai tòa nhà ở New York có nghĩa là gì?

      Song, tôi cảm động và cảm thấy an lòng trước lời mô tả về sự anh dũng của Tiến sĩ David Kelly do chính gia đình của ông viết: “Sự nghiệp của David được thể hiện qua tính chính trực, danh dự, và tấm lòng kiên quyết đi tìm sự thật trong những tình huống hết sức khó khăn.  Thật khó mà hiểu hết cái tội ác dã man của bi kịch này.”  Không ai còn nghi ngờ gì nữa: Phần đông dân chúng Anh hiểu rằng David Kelly là một antithesis, một cái đinh đối với những kẻ đã tự chứng minh mình là những đặc công của sự nham hiểm, những thế lực hung hăn ngoại quốc.  Ngăn chặn mối đe dọa này là một hành động khẩn cấp, cho người dân Iraq và cho cả chúng ta.

(*)  Nguyễn Văn lược dịch từ bài viết “The war on truth” của John Pilger, New Statesman số ra ngày 4 tháng 8 năm 2003.

 

Mark_03.gif (833 bytes) Go to top page

 
half_under_water_sw.gif (3365 bytes)

Home  | Về trang mục lục


© Giao Điểm.  Bài đã đánh vi tính, xin gởi attachment về email: hopthu@giaodiem.net