curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

Diễn đàn mở rộng của nhóm chủ trương Giao Điểm

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

..........

      03_gd10.GIF (962 bytes)

    Tôn giáo: vấn đề của thời đại:
Mark_03.gif (833 bytes) Trở lại vấn đề: A. de Rhodes và chữ quốc ngữ Charlie Nguyễn
Mark_03.gif (833 bytes) Phật & Giêsu  Trần Chung Ngọc
Mark_03.gif (833 bytes) Những lời châu ngọc về Thánh kinh (TCN dịch) Robert G. Ingersoll
Mark_03.gif (833 bytes) Thùa sai Công giáo Pháp và chính sách đế quốc tại VN  (II) Patrick Tuck
Mark_03.gif (833 bytes) Vài nhận xét về “Thư góp ý Pháp lệnh tôn giáo” của ông PĐD Charlie N
Mark_03.gif (833 bytes) Vài nét Phật học trong tư tưởng Kant Thái Kim Lan
Mark_03.gif (833 bytes) Tạp ghi tháng Mười  Nguyễn văn Hóa
 
    PG 63 - 40 năm nhìn lại:
Mark_03.gif (833 bytes) Giới thiệu “Tuyển tập 1963-2003: 40 năm nhìn lại” của nhiều tác giả
 
  Hồ sơ đàn áp PG trước năm 1963:
Mark_03.gif (833 bytes) phần I: Lời giới thiệu | Sa môn T. Mãn Giác
Mark_03.gif (833 bytes) phần II: Dẫn nhập
Mark_03.gif (833 bytes) phần III: hồ sơ đàn áp Tỉnh hội PG Phú Yên
Mark_03.gif (833 bytes) phần IV: hồ sơ đàn áp Tỉnh hội PG Bình Định
Mark_03.gif (833 bytes) phần V: hồ sơ đàn áp Tỉnh hội PG Quảng  Ngãi
 
   Đặc biệt của CĐ. : “Lược sử Ngô Đình Diệm”
Mark_03.gif (833 bytes) phần I: Diệm với Nhật, Pháp và Việt Minh
Mark_03.gif (833 bytes) phần II: Diệm - Bảo Đại: “thành phần thứ ba”
Mark_03.gif (833 bytes) phần III: Thủ tướng toàn quyền (1954-1955)
 
     Văn học – sáng tác:
Mark_03.gif (833 bytes) Hiệp hội Tương tế Bắc Việt nghĩa trang Trần Vũ
Mark_03.gif (833 bytes) Đọc “Phồn Hoa Kinh’ của Hoàng Nguyên Nhuận  Nguyễn Văn
Mark_03.gif (833 bytes) Nguyễn Đình Thi trong tôi... ngoài tôi Hoàng Cầm
Mark_03.gif (833 bytes) Hoa Sứ chùa Già Lam Thái Kim Lan
 
   Câu chuyện thời sự tháng Mười:
Mark_03.gif (833 bytes) Tin ngắn Giao Điểm
Mark_03.gif (833 bytes) Chính quyền Bush thất bại mọi mặt Hoài Việt
Mark_03.gif (833 bytes) Vi khuẩn Jihad tấn công Pentagon (Pep Escobar) NV
Mark_03.gif (833 bytes) Chiến tranh trên sự thật (John Pilger)
Mark_03.gif (833 bytes) Hồ sơ cá nhân (Ignacio Ramonet)
Mark_03.gif (833 bytes) Ổ diều hâu ở Bộ ngoại giao (Jim Lobe)
08_gdmau.jpg (3664 bytes)
bar_design_sets_blast_clr.gif (2526 bytes)
whiteball.gif (923 bytes)  Trang nghiên cứu đối thoại quý bốn tháng 10-2003 whiteball.gif (923 bytes)

PHẬT  & GIÊ-SU

Trần Chung Ngọc

     Trước hết tôi cần phải minh định một điều:  Tuy đầu đề là “Phật & Giê-su” nhưng bài viết này không có mục đích so sánh cá nhân Đức Phật với cá nhân Giê-su, cũng như so sánh giáo lý của Đức Phật với giáo lý, nếu có, của Giê-su.  Bài viết này chỉ có mục đích đưa ra phần nào một số ngộ nhận về Đức Phật và Giê-su vì có một số học giả, hay lãnh đạo tôn giáo, Tây Phương cũng như Đông phương, nêu lên một cách rất phiến diện những điểm có vẻ giống nhau giữa cuộc đời và giáo lý của Đức Phật và cuộc đời và giáo lý của Giê-su, và đi tới kết luận là hai nhân vật trên đều là những bậc Thầy tôn giáo xuất chúng của nhân loại.  Chúng ta không thể phủ nhận sự kiện Đức Phật và Giê-su là hai khuôn mặt tôn giáo được biết tới nhiều nhất trên thế giới, nhưng còn về vấn đề tương đồng giữa cuộc đời và giáo lý của hai nhân vật trên thì cần phải xét lại.

     Trước hết, chúng ta hãy tìm hiểu nguyên nhân đưa đến xu hướng đánh đồng một số tư tưởng trong giáo lý của Giê-su, nếu có, với một số tư tưởng trong giáo lý của Đức Phật.  Cách đây vài thế kỷ, làm tiền phong cho, hoặc song hành với, các thế lực thực dân Âu Mỹ, Ki Tô Giáo đã truyền bá trên khắp thế giới.  Đi đến đâu, Ki Tô Giáo cũng tự cho mình là một tôn giáo thiên khải, văn minh, tiến bộ nhất v..v.., có nhiệm vụ Ki Tô hóa những dân tộc mọi rợ tối tăm lạc hậu, và cho mọi tôn giáo dân gian địa phương là sản phẩm của ma quỷ.  Cái tâm cảnh cuồng tín kiêu căng vô trí này ngày nay vẫn còn sót lại trong một số tổ chức truyền giáo của Ki Tô Giáo, Công giáo cũng như Tin Lành, ở một số quốc gia như Ấn Độ, Thái Lan v..v.. qua những văn phẩm bài xích Ấn Độ Giáo và Phật Giáo của họ, và ngay cả ở trên Internet của một số “đầy tớ Chúa” tân tòng.

     Tuy nhiên, khi tiếp xúc với các tôn giáo Đông phương, và trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại, trước những công cuộc khảo cứu về chính Ki Tô Giáo của nhiều học giả Tây phương, ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô, một số không nhỏ các bậc trí thức trong Ki Tô Giáo mới nhận ra sự quá thấp kém của Ki Tô Giáo so với các tôn giáo Đông phương như Thích, Nho, Lão, vì cốt tủy của Ki Tô Giáo, qua những nghiên cứu nghiêm chỉnh nhất về Ki Tô Giáo, chẳng qua chỉ là những sự mê tín cổ xưa của dân Do Thái, dựa trên những huyền thoại và truyền thuyết đã lỗi thời, những sự mê tín mà ngày nay đã không còn mấy giá trị trong các xã hội Tây phương, ít ra là trong giới hiểu biết, ở trong cũng như ở ngoài Ki Tô Giáo.  Vì vậy cho nên, Ki Tô Giáo đã dần dần mất đi những quyền lực thế tục cũng như tinh thần đã một thời thống trị Tây phương, và ngày nay, trong những xã hội văn minh tiến bộ nhất ở Âu Mỹ, Ki Tô Giáo càng ngày càng suy thoái.  Hiện tượng này đã quá rõ rệt trừ khi chúng ta chỉ biết nhắm mắt cầm cuốn Thánh Kinh và cầu nguyện nhưng không bao giờ đọc nó.

    Trong một thế giới đa nguyên, đa tôn giáo ngày nay, Ki Tô Giáo không còn giữ được địa vị độc tôn như trước cho nên sách lược truyền giáo của Ki Tô Giáo cũng phải thay đổi.  Suy thoái ở Âu Mỹ, Ki Tô Giáo tìm cách bành trướng sang các nước kém mở mang về kinh tế, ở những nơi đây, người dân chưa được mở mang trí tuệ đúng mức và nhiều khi còn bị áp bức bởi những chính quyền độc tài toàn trị.  Không ai có thể phủ nhận Ki Tô Giáo vẫn là tôn giáo chính, dù chỉ có tính cách truyền thống, trong các nước văn minh tiến bộ giầu có Âu Mỹ.  Và đây chính là vũ khí cải đạo hữu hiệu nhất của Ki Tô Giáo để truyền đạo trong các nước kém mở mang, nếu họ được tự do sử dụng quyền “tự do truyền đạo bất kể thủ đoạn”, với hậu thuẫn của các cường quốc kinh tế.  Ở Nga, A Phú Hãn, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam v..v.. hiện tượng các nhà truyền giáo Tin Lành đi mua tín đồ không phải là không có.  Đây là sách lược cải đạo của Ki Tô Giáo đối với đám dân nghèo, ít học hay vô học.

     Đối với giới có đôi chút hiểu biết, hoặc có học, sách lược truyền giáo của Ki Tô Giáo có khác.  Chúng ta đã biết, một trong những sách lược này là lấy những điều hay trong các tôn giáo khác, diễn giải lệch lạc đi rồi, hoặc đánh đồng với những quan niệm tôn giáo của mình, hoặc nhận vơ vào làm của mình. Nền “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Á Châu” đã tận dụng sách lược này như tôi đã trình bày trước đây trong loạt bài “Công Giáo, Tin Lành Và Sách Lược Cải Đạo Á Châu”, đăng trên trang nhà Giao Điểm..

     Một số học giả Ki Tô Giáo, kể cả những nhà Thần học Ki Tô, trước những giáo lý nhân bản, hòa bình, từ bi v..v.. và những triết thuyết cao siêu vượt trội của Phật Giáo, càng ngày càng được biết đến nhiều hơn ở Tây phương, đã tìm đọc kinh điển Phật Giáo.  Và họ đã thấy trong Kinh điển Phật Giáo có những câu có vẻ giống như những câu Giê-su nói trong Thánh Kinh. Vì chưa thoát ra khỏi ý thức hệ Ki Tô Giáo, vì không hiểu Phật Giáo một cách sâu đậm, và với tâm cảnh của một tín đồ Ki Tô Giáo, họ chỉ có thể so sánh một cách phiến diện, hời hợt, trên mặt thuần túy văn tự, và nhất là dùng những câu vụn vặt, ngoài toàn bộ vấn đề (out of context) trong Thánh Kinh để chứng minh sự tương đồng giữa giáo lý của Đức Phật và giáo lý, nếu có, của Giê-su.  Những công việc so sánh này bắt nguồn từ một mặc cảm tự ty, và nhiều khi thiếu lương thiện trí thức, chứ không từ một tinh thần nghiên cứu khoa học chính xác và đầy đủ. 

     Mặt khác, một số rất nhỏ nhân vật trong các tôn giáo Đông phương, điển hình là Phật Giáo, có lẽ vì thấy Ki Tô Giáo là một tôn giáo lớn trên thế giới với số tín đồ chiếm khoảng ân số thế giới, có nhiều thế lực trên thế giới, cũng tìm cách tương đồng hóa một số quan niệm, ý tưởng Phật Giáo với những quan niệm, ý tưởng Ki Tô Giáo, tính chuyện đội đá vá trời, hòa đồng tôn giáo một chiều.  Những nhân vật này, hoặc không nghiên cứu về lịch sử, bản chất Ki Tô Giáo, hoặc diễn giải Ki Tô Giáo theo cái hiểu của mình về Phật Giáo, nên đã gượng ép đánh đồng một số quan niệm trong Phật Giáo với một số quan niệm trong Ki Tô Giáo mà không thấy rằng Phật Giáo và Ki Tô Giáo là hai con đường ngược chiều song song, không bao giờ có thể gặp nhau ở bất cứ điểm nào: Giáo Chủ, Giáo Lý, và Phương Pháp tu tập hành trì.

     Thật ra nếu muốn, chúng ta có thể kiếm ra một số lời của Giê-su hay của Đức Phật, trên mặt văn tự, tương đồng với những tư tưởng đã có trong dân gian, trong các nền văn hóa khác nhau.  Nhưng điều này không nói lên điều gì vì đó chỉ là một sự tương đồng biểu kiến (apparent analogy).  Chúng ta hãy lấy vài thí dụ.  Giê-su nói: “Hãy yêu người hàng xóm như chính mình”  Chúng ta hãy bỏ qua sự kiện là nếu người hàng xóm không tin Giê-su thì Giê-su sẽ đối xử với họ ra sao, sẽ đầy đọa họ xuống hỏa ngục vĩnh viễn hay sẽ nguyền rủa họ là đồ rắn rết như trong Tân Ước đã viết rõ, và các tông đồ của Giê-su có yêu họ không, hay phải giết họ như Cựu Ước đã dạy?  Nhưng có gì đặc biệt và độc đáo ở câu này?   Việt Nam cũng có câu “Thương người như thể thương thân” và không hề có điều kiện tín ngưỡng tôn giáo ở đây.  Một thí dụ khác.  Giê-su nói: “Phải hiếu kính với cha mẹ”.  Chúng ta hãy bỏ qua những hành động của Giê-su đối với cha mẹ trái ngược hẳn với lời trên, như được viết rõ trong Tân Ước, nhưng có gì đặc biệt và độc đáo ở câu nói này?  Có xã hội nào dạy con cái phải bất hiếu với cha mẹ không, trừ Ki Tô Giáo với những giáo lý chỉ được thờ một thần Gia vê và giáo lý đầy đọa hỏa ngục những ai không tin Giê-su?  Câu trên có sánh bằng Nhị Thập Tứ Hiếu của Trung Hoa không?  Có cùng ở mức độ cao vời như “Công Cha như núi Thái Sơn, Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra” của Việt Nam không?.

     Cho nên, chúng ta không thể trích dẫn một số lời của Giê-su có vẻ giống một số lời của Đức Phật và đi đến kết luận là hai giáo lý có nhiều điểm giống nhau một cách kỳ diệu.  Đây là cách so sánh và kết luận rất hời hợt, phiến diện như tôi sẽ chứng minh trong những đoạn sau.

     Muốn làm công việc so sánh và đối chiếu những tư tưởng trong Thánh Kinh với những tư tưởng trong Kinh Phật, chúng ta cần phải xét đế toàn bộ Thánh Kinh cũng như toàn bộ Kinh Phật, chứ không thể chỉ trích dẫn vài câu giống nhau.  Đặc biệt, chúng ta cần hiểu rõ bản chất và cốt tủy của mỗi tôn giáo.  Như trên đã nói, đạo Giê-su và đạo Phật  là hai con đường ngược chiều và song song, không thể gặp nhau ở bất cứ điểm nào.  Thật vậy, chúng ta hãy xét đến căn bản của hai con đường này, con đường trí tuệ, tự tu tự chứng của Phật Giáo, và con đường đức tin, không cần biết không cần hiểu của Ki Tô Giáo.  Trong đạo Phật cũng có tín hạnh, nhưng không phải là mù lòa tin bướng tin càn, mà là sự tin tưởng do sự hiểu biết, do sự thực chứng bản thân.  Muốn chứng minh sự khác biệt bất khả tương hợp của đạo Phật với đạo Giê-su, chúng ta hãy xét đến căn bản “đức tin” trong Ki Tô Giáo và căn bản “đức tin” trong Phật Giáo.  Căn bản đức tin của Ki Tô Giáo là Kinh Tin Kính, còn căn bản đức tin của Phật Giáo là Kinh Nền Tảng Đức Tin thường được biết là Kinh Phật thuyết cho người dân Kalama.

     Trước hết, chúng ta hãy đọc "Kinh Nền Tảng Đức Tin" của Phật Giáo, (Tỳ Kheo Thích Nhật Từ, Kinh Tụng Hằng Ngày, Đạo Phật Ngày Nay, Phật Lịch 2546, trang 98-99):

   ...Này các thiện nam tín nữ Ka-la-ma, nhân đây Như Lai sẽ giảng giải về 10 nền tảng của đức tin chân chánh:

-          Một là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó là truyền thuyết.

-          Hai là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc về truyền thống.

-          Ba là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được nhiều người nhắc đến hay tuyên truyền.

-          Bốn là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong kinh điển hay sách vở.

-          Năm là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc lý luận siêu hình.

-          Sáu là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó phù hợp với lập trường của mình.

-          Bảy là, chớ vội tin một điều gì, khi mà điều đó được căn cứ trên những dữ kiện hời hợt.

-          Tám là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy phù hợp với định kiến của mình.

-          Chín là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được sức mạnh và quyền uy ủng hộ.

-          Mười là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được các nhà truyền giáo hay đạo sư của mình tuyên thuyết.

     Này các thiện nam tín nữ, khi nghe một điều gì, vác vị phải quán sát, suy tư và thể nghiệm, chỉ khi nào, sau khi kiểm nghiệm, quý vị thực sự nhận thấy: "Lời dạy này tốt lành, đạo đức, hướng thiện, chói sáng và được người trí tán thán, nếu sống và thực hiện lời dạy này sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc ngay hiện tại và về lâu, về dài" thì lúc ấy quý vị hãy đặt niềm tin bất động và thực hành theo.

      Với Kinh Nền Tảng Đức Tin này, người đời bảo rằng Phật Giáo là đạo của trí tuệ quả nhiên không sai. Vì đây mới chính là nền tảng đức tin mà theo tôi, tuyệt vời nhất trong mọi nền tảng đức tin khác, vì nền tảng này đã tôn trọng phẩm giá và trí tuệ của con người đúng nghĩa là một con người.  Kinh Nền Tảng Đức Tin, rất hợp với tinh thần khoa học và trình độ hiểu biết của nhân loại ngày nay, cho nên đã gây một cú “sốc” nặng trong giới trí thức Tây phương.  Và Tây phương đã tỉnh thức qua sự phát triển mạnh mẽ của Phật Giáo trong thế giới Tây phương, một sự phát triển tự nhiên, không cần đến bất cứ thủ đoạn nào để vơ vét tín đồ.

      Bây giờ chúng ta hãy sang Kinh Tin Kính của Ki Tô Giáo.  Căn bản những niềm tin chính trong Ki-Tô Giáo, đặc biệt là Ca Tô Giáo, được gói ghém trong bản Kinh Tin Kính của các Tông ĐoࠨApostle's Creed) thường gọi tắt là Kinh Tin Kính, đặt ra khoảng năm 150.  Trong thời đại đế Constantine, qua công đồng Nicene năm 325, kinh này được thêm vào vài đoạn nâng Giêsu Kitô (Chúa Con) lên cùng hàng với Chúa Cha với những lời có tính cách huênh hoang mơ hồ, trống rỗng vô nghĩa như "Thần của Thần, ánh sáng của ánh sáng" (God of God, light of light) v..v..  Kinh này đưa đến một sự mâu thuẫn, bất đồng ý kiến giữa giáo hội miền Đông và giáo hội miền Tây.  Đến thế kỷ thứ 7, kinh này lại được thay đổi và thêm vào thuyết Chúa Ba Ngôi và nhiều điều hoang đường nữa, dài hơn kinh Tông đồ và kinh Nicene nhiều.  Kinh này có tên là Kinh Tin Kính Athanasius.  Vì kinh này dài và lủng củng nên chẳng có mấy ai đọc nó.  Anh Giáo thường dùng kinh Nicene làm căn bản và Ca-Tô Giáo dùng kinh Tông đồ làm căn bản.  Trong sách Giáo Lý Công Giáo của Việt Nam chỉ có kinh Tin Kính của Tông đồ chứ không có những kinh Nicene hay Athanasius.

     Nguyên văn bản kinh như sau, chúng ta nên để ý rằng bản kinh bằng tiếng Việt (Sách Giáo Lý Công Giáo, nxb Zieleks, Texas, 1991, trg. 14) có vài chỗ không đúng với bản kinh bằng tiếng Anh.

Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng
dựng nên trời đất.
Tôi tin kính Đức Chúa Giêsu KiTô
là con một Đức Chúa Cha cũng là Chúa chúng tôi,
bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai,
sinh bởi bà Maria đồng trinh,
chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô,
chịu đóng đanh trên cây thánh giá, chết và táng xác,
xuống ngục tổ tông,
ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại,
lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng;
ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết.
Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần.
Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này,
Các Thánh thông công.
Tôi tin phép tha tội.
Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.
Tôi tin hằng sống vậy.  Amen.

     Có vẻ như Kinh Tin Kính tiếng Việt ở trên pha trộn hai bản văn khác nhau, cũ và mới.  Để cho vấn đề được rõ ràng và dễ bề so sánh, tôi xin đăng nguyên 2 văn bản tiếng Anh như sau.  Những phần để trong dấu ngoặc cong (..) là thuộc bản văn mới trong cuốn Catechism of the Catholic Church, xuất bản năm 1994, hoặc để thay một từ cũ (có gạch dưới), hoặc mới thêm vào.  Còn những phần trong dấu ngoặc thẳng [..] là trong bản văn cũ được bỏ đi:

I believe in God the Father Almighty,
maker (creator) of heaven and earth
And in Jesus Christ, his only Son, our Lord
who (He) was conceived by (the power of) the Holy Spirit,
(and) born of the Virgin Mary;
(Jesus Christ) suffered under Pontitus Pilate,
was crucified, dead (died), and (was) burried;
he descended into hell
(on) the third day he rose again [from the dead];
he ascended into heaven
and sitteth (is seated) on (at) the right hand of
[God] the Father [Almighty]
from thence he shall (will) come (again)
to judge the living and the dead.
I believe in the Holy Spirit,
(I believe in) the holy catholic church,
[the communion of saints]
(I believe in) the forgiveness of sins,
(I believe in) the resurrection of the body,
(I believe in) [and the] life everlasting, Amen.

      Bản kinh trên rõ ràng là sản phẩm của một số người ở vài thế kỷ đầu, không hiểu gì về vũ trụ học, sinh học, di truyền học, sinh hóa học, cổ sinh vật học, địa chất học, vật lý học hiện đại v...v..., những môn học mới phát triển trong những thế kỷ gần đây.  Ngoài ra, bản kinh này còn chứa nhiều điều mâu thuẫn, phi lý, hoang đường, chỉ hợp với những tín đồ đã bị điều kiện hóa, không có khả năng tự mình suy nghĩ.  Cho nên những người ngày nay còn tin vào những điều trên thì niềm tin đó đúng là mù lòa tin bướng tin càn.

     Thật vậy, chính Giám Mục Tin Lành John Shelby Spong đã viết một cuốn khảo luận nhan đề Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Hoặc Chết  trong đó ông đưa ra một nhận định tổng quát về Kinh Tin Kính:

     Những lời trong Kinh Tin Kính của các Tông đồ, và sau đó được khai triển thành Kinh Tin Kính Nicene, được nặn ra trong một thế giới quan mà ngày nay không còn hiện hữu.  Thật vậy, thế giới quan này thật là xa lạ đối với thế giới mà tôi đang sống trong đó.  Cách nhận thức thực tại khi những Kinh Tin Kính của Ki Tô Giáo được đề ra thì nay đã bị xóa sạch bởi sự phát triển hiểu biết của con người.

     (John Shelby Spong, Why Christianity Must Change or Die, p. 4: The words of the Apostles' Creed, and its later expansion known as the Nicene Creed, were fashioned inside a worldview that no longer exists.  Indeed, it is quite alien to the world in which I live.  The way reality was perceived when the Christian creeds were formulated has been obliterated by the expansion of knowledge..)

    Nhưng vấn đề chính ở đây không phải là Kinh Tin Kính, và do đó những niềm tin của Ki Tô Giáo, đã lỗi thời và không còn giá trị, mà Kinh đó đã chứng tỏ Ki Tô Giáo là tôn giáo của “đức tin”, một đức tin lạc hậu bất kể đến những tiến bộ trí thức của nhân loại.  Như vậy, thì nói đến giáo lý của Giê-su và so sánh với giáo lý của Đức Phật là một điều vô ích, vì giáo lý của Giê-su, nếu có, không giúp ích gì được cho tín đồ.  Then chốt của đạo Giê-su là tin Giê-su thì sẽ được cứu rỗi, không tin thì sẽ bị đầy đọa hỏa ngục như John 3: 16 trong Tân ước đã khẳng định: ““Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban Con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.”.  Câu này đã loại bỏ mọi sự cần thiết áp dụng giáo lý của Giê-su, nếu có, để có cuộc sống đời đời. 

     Đi sâu vào vấn đề, chúng ta cần đặt câu hỏi:  Thật ra thì Giê-su có một giáo lý nào không?   Câu trả lời quyết định là “không”.  Tại sao?  Bởi vì Giê-su là ông “cứu rỗi” chứ không phải là ông Thầy dạy giáo lý để cho các tín đồ thăng tiến về mặt tu tập và thăng tiến trí tuệ. Để thấy rõ vấn đề, chúng ta hãy đọc nhận định của Tiến Sĩ George Dennis O'Brien, Giáo sư Triết,   Viện Trưởng Viện Đại Học Rochester, trong cuốn "Thượng đế Và Đường Xe Lửa ở New Haven.  Và Tại Sao Cả Hai Đều Chẳng Mấy Thành Công" ("God and The New Haven Railway.  And Why Neither One Is Doing Very Well", Beacon Press, Boston, MA., 1986, trg. 108):

     “Một tôn giáo "giác ngộ" tăng tiến trí tuệ tâm linh hoặc đạo đức của chúng ta bằng một giáo pháp nào đó.  Một tôn giáo "cứu rỗi" cải đổi đời sống của chúng ta bằng cách dẫn chúng ta sống đời sống của chúng ta trong một người khác. [Tín đồ Ki Tô thường nói: Chúa ở trong tôi hay Chúa ở cùng tôi]

   ...Khi bậc Thầy xuất chúng qua đời, giáo pháp của ông ta có thể tiếp tục sống.. Ông ta có thể có một giáo pháp như Tám Thánh Đạo (Bát Chánh Đạo. TCN) khiến cho cái trí tuệ chuyên biệt của ông ta tồn tại vĩnh viễn.  Ngay cả khi bậc Thầy không để lại một giáo pháp nào mà chỉ là mẫu mực của một trí tuệ tìm tòi và lý tưởng về tính Thiện, như Socrates, cái gương sáng của ông Thầy tồn tại và làm tiêu chỉ cố gắng cho những đệ tử sau này.   Tất cả những phương tiện trên để tiếp nối "đời sống của Sư Phụ"  đều có ý thức cao và được áp dụng rộng rãi...Nhưng cái khung truyện đó không phải là chủ trương của Tân Ước.  Không phải là giáo pháp của ông Thầy tồn tại, mà là chính "ông Thầy".  Mà dù như vậy đi chăng nữa thì cũng không có "ông Thầy" mà chỉ có "ông cứu thế". 

   ...Trong một tôn giáo cứu rỗi, ta không thể đạt được một trình độ tâm linh cao bằng cách học hỏi về một chân lý nào đó, một sự kiện nào đó, một con người nào đó.  Tất cả những điều trên đều có tính cách giáo dục và cao quý, nhưng đó không thuộc một truyện phim thuộc loại cứu rỗi.  Trong câu chuyện về tội lỗi và cứu rỗi, con người tới một trạng thái mới bằng cách sống với một người khác.

   Giêsu có hội đủ những tiêu chuẩn của những bậc Thầy xuất chúng về tâm linh không?  Không đâu.  Cái tiêu chỉ của sự siêu quần về tâm linh là con người phải là một bậc Thầy xuất chúng về tỉnh thức, về trí tuệ tâm linh, hoặc một tâm bình lặng.  Giêsu không phải là một ông Thầy, mà là một ông cứu thế.

   Chúng ta hãy coi một bậc Thầy xuất chúng.  Socrates là một thí dụ tốt.  Socrates là một đại sư về tỉnh thức tâm linh.  Ông ta cho rằng ông không biết gì cả, chỉ đặt cho học trò vài câu hỏi có tính cách mưu mẹo, thách đố.  Socrates muốn chắc rằng học trò bám vào chân lý chứ không bám vào Socrates.

   Đức Phật là một thí dụ về một bậc Thầy "tôn giáo" xuất chúng cũng có cùng giáo pháp tự chứng như Socrates.

   Đức Phật không phải là một đấng cứu rỗi, Người là Đấng Giác Ngộ.   Người đã chứng được những chân lý về nhân sinh, và Người đã đưa ra Tám Thánh Đạo để hướng dẫn con người đạt tới cùng sự giác ngộ như Người và do đó thoát khỏi khổ đau..

   Tương phản với những bậc Thầy xuất chúng kể trên, chúng ta phải nói rằng Giêsu hiển nhiên hiểu lầm về vai trò   của một giáo pháp.  Giêsu không có học trò (hay đệ tử) mà chỉ có môn đồ (hay tông đồ).   Và điều này không phải là ngẫu nhiên.  Giêsu nói: "Kẻ nào "tin vào" Ta thì sẽ được sống đời đời."  Không phải là tin vào giáo pháp của ta mà tin vào chính TA. Cái mà Giêsu "biết" không phải là sự giác ngộ, Giêsu chỉ   biết Chúa Cha: "Chỉ có con mới biết Cha", "Kẻ nào biết TA sẽ biết Cha", "Chỉ có thể đến với Cha ta qua TA".

   Bất cứ Ki-Tô Giáo có thể là cái gì khác, có vẻ như là ở ngoài mặt rõ ràng đó là một tôn giáo thuyết giáo về sự cứu rỗi và một đấng cứu rỗi.  Trước khi chúng ta cảm thấy chán ngấy với ý tưởng này, điều quan trọng là chúng ta phải nhớ rằng hầu hết những chủ lực tinh thần lớn khác, không những là không thuyết giáo về sự cứu rỗi mà trong vài trường hợp, còn thực sự khinh ghét ý tưởng này.  Hồi Giáo là một trường hợp điển hình... Người theo Hồi Giáo thấy rằng cái khái niệm Ki-Tô về một đấng cứu rỗi đã làm hạ phẩm giá của cả đấng cứu rỗi lẫn người được cứu rỗi.   

     Để  sống  đạo  hạnh  và tiến  tới  Giác Ngộ,   con  người  cần những bậc Thầy chứ không cần tới các đấng cứu rỗi.  Sự khác biệt thật là quan trọng.  Xét về toàn diện, những tôn giáo đạo đức hay giác ngộ thì hợp với xu hướng của người Mỹ ngày nay hơn.   Những tôn giáo này có hai lợi thế rõ rệt so với những tôn giáo dựa theo Thánh Kinh.  Trước hết là những tôn giáo này có vẻ như là những con đường tâm linh tự lực  Điều này hợp với tinh thần độc lập và tự tin của người Mỹ.  Tuy rằng các bậc Thầy xuất chúng rất là đáng quý trong các tôn giáo này, nhưng họ cũng có thể được để qua một bên, và con người có thể tự học lấy.  Người ta không thể tự cứu rỗi trong tôn giáo dựa vào Thánh Kinh.  Lợi thế thứ nhì của các tôn giáo giác ngộ và đạo đức là những tôn giáo này có thể dẹp bỏ phần lớn cái mưu toan thần học.  Nếu thực sự có các Thần - và trong Phật Giáo có vẻ như là không hề có - thì vai trò của các Thần là những bậc Thầy hữu ích (nhưng có thể bỏ qua), hoặc là những lý tưởng hay những nhân vật gương mẫu.   Chân lý nằm trong giáo pháp chứ không nằm trong ông "Thầy - Cứu rỗi."”

     (A religion of enlightenment improves our spiritual wisdom or our moral behavior by some teaching.  A salvational religion converts our life by leading us to live our lives in another.

... When the great teacher dies, his teaching may well live on... He may have a teaching like the Noble Eightfold Path, which perpetuates his special wisdom.   Even if the teacher leaves no teaching but only the example of an inquisitive mind and the ideal of the Good, like Socrates, the example of the teacher remains to be emulated by later students.  All of those means of continuing "the life of the teacher" are eminently sensible and as broadly practiced as the planet is covered with talkers.  But that scenario is not the New Testament line. It isn't the teacher's teaching that lives on, it is the "teacher".  But if that how it is, it is no "teacher" but "savior".

     ...Salvational religion depends, then, on "conversion", "resurrection", "radical change" on the basis of a life lived with another.

     ...In a salvational religion, one does not attain spiritual 10 by learning about some truth, fact, or person.   All that is teacherly and noble, but it is not part of a salvational scenario.  In a sin and salvation story, one comes to a new state by living with another.

...Does Jesus conform to the pattern of the great spiritual masters?   He does not.  The norm for spiritual masterhood is that one be a great teacher of enlightenment, spiritual wisdom, or the tranquil mind.  Jesus is not a teacher, he is a savior.

     Consider a great teacher.  Socrates is a good example.  Socrates is a master of spiritual enlightenment...He claims to know nothing; he only asks a few tricky questions...Socrates wants to make sure that the pupil is attached to the truth, not to Socrates.

     Buddha is an examplar of a great "religious" teacher under the same Socratic self discipline.

     Buddha is not a savior, He is the Enlightened One.  He has seen the truths of human life, and he offers the Noble Eightfold Path as a guide to similar enlightenment and release from suffering..

     In contrast to these great teachers, one would have to say that Jesus evidently misunderstands how teaching is played out.  Jesus doesn't have students, he has disciples.  And not accidentally.  Jesus says, "he who believes in ME shall never die."  Not who believes in my teaching, but who believes in ME.  What Jesus "knows" is not enlightenment; he knows the Father.  "Only the Son knows the Father.  He who knows ME knows the Father.  Only through ME can one come to the Father.

      Whatever else Christianity may be, it seems on its face clearly to be a religion which preaches salvation and a savior.  Before one becomes instantly bored with that idea, it is important to note that most other significanr spiritual contenders not only don't preach salvation, in some cases they positively dislike it.  Islam is a case in point.   Muslims find the Christian notion of a savior demeaning both to the saver and the saved.

      ... For enlightenment and morality one needs teachers, not saviors.  The distinction is crucial.  On the whole, religions of morality or enlightenment are much more palatable to contemporary American taste.  They have two distinct advantages over the Biblical tradition.  In the first place they appear to be do-it-yourself spiritualities.  This conforms to an American taste for independence and self-reliance.  Although great teachers are valuable in these traditions, they are also dispensable, and one can be self-taught.  One cannot be self-saved in the Biblical story.  The second advantage of religions of enlightenment and morality is that they can dispense of most theological machinery.  If there are Gods at all - and in Buddhism there appear to be none - then their role is either as helpful (but dispensable) teachers or as ideals and examplars.  The truth is in the teaching, not in the teacher-savior.)

     Nếu Giê-su không phải là một ông Thầy dạy giáo lý mà chỉ là ông “cứu rỗi” thì nói đến chuyện giáo lý của Giê-su là nói đến chuyện lông rùa, sừng thỏ.  Do đó, trên thực tế, cái mà các tín đồ Ki Tô Giáo mong ước là sự cứu rỗi của Giê-su chứ không phải giáo lý của Giê-su, nếu có.  Đi sâu thêm vào vấn đề nghiên cứu thì chúng ta lại thấy Giê-su chẳng có một giáo lý độc đáo nào do chính mình đề ra cả.  Nhận định sau đây của Joseph L. Daleiden, một học giả Ca Tô, trong cuốn The Final Superstition, trg. 174, về cái gọi là giáo lý của Giê-su có thể giúp chúng ta nhìn rõ vấn đề một cách tổng quát:

     Có rất ít, nếu có, điều sáng tác độc đáo trong giáo lý mà người ta cho là của Giêsu.  Giống như chính huyền thoại về Giêsu, những quan điểm mà Giêsu diễn đạt chỉ là một mớ hổ lốn những ngụ ngôn và luân lý mà chúng ta có thể thấy trong những đạo cổ xưa của Ai Cập, Babylon, Ba Tư, Hi Lạp, Phật, Khổng, Ấn Độ...  Một điều rõ ràng:  Ki Tô Giáo, một tôn giáo sinh sau đẻ muộn trong lịch sử các tôn giáo, chỉ cóp nhặt (đạo văn) những quan điểm, ý kiến của Do Thái Giáo và các tôn giáo gọi là dân gian.  Trong cuốn "Nguồn Gốc Luân Lý Trong các Phúc Âm", Joseph McCabe (Một Linh Mục Ca Tô. TCN) đã trích dẫn những quan điểm luân lý trong Phúc Âm mà người ta cho là của Giêsu song song với những quan điểm luân lý tương đương và y  hệt của các tác giả Do Thái và dân gian.    

     (There is very little, if anything, that is original in the teaching attributed to Jesus.  Like the myth of Jesus itself, the sentiments he expresses are a hodgepodge of aphorisms and moral convictions that can be found in the ancient Egyptian, Babylonian, Persian, Greek, Buddhist, Confucian, and Hindu religions...  But one thing is certain:  Christianity, a late-comer in the history of religion, merely plagiarized sentiments from Judaism and the so called pagan religions.  In his book Sources of Morality in the Gospels, Joseph McCabe quoted the moral views attributed to Jesus in the gospels and in parallel columns gave exact moral equivalents from Jewish and pagan writers.)

     Thật vậy, đọc Thánh Kinh và với một chút kiến thức về triết học và tôn giáo, chúng ta có thể thấy rõ là nhận định của Daleiden không phải là sai.  Nếu Giê-su không có một giáo lý độc đáo nào, tất cả chỉ là cóp nhặt từ những nơi khác, thì mang vài tư tưởng của Giê-su trong Tân Ước so sánh với vài tư tưởng trong Kinh Phật không thể đi tới bất cứ một kết luận nào về cá nhân Đức Phật cũng như về cá nhân Giê-su, về giáo lý của Đức Phật cũng như cái gọi là “giáo lý” của Giê-su.  Phật Giáo không nên bị mê hoặc bởi những đánh đồng quá gượng ép này.

     Có một số Phật tử ủng hộ thuyết Giê-su đã đến Ấn Độ học Phật với các Tăng sĩ Phật Giáo và trở về Do Thái như một Bồ Tát Do Thái, tưởng rằng như vậy là vinh danh Đức Phật hay hãnh diện vì cho rằng đạo Phật cao hơn và là Thầy của đạo Giê-su v..v.. Quan niệm sai lầm này trên thực tế đã quá hạ thấp Phật Giáo và Đức Phật.  Tại sao?  Vì họ không hề đọc Thánh Kinh, không thấy con người thực của Giê su, không biết đến những lời nguyền rủa độc ác của Giê-su trong Thánh Kinh, không biết đến giáo thuyết man rợ bán khai của Giê-su về sự đầy đọa hỏa ngục những người không tin Giê su.  Một Bồ Tát, theo quan niệm của Phật Giáo,  có thể như vậy được chăng?  Lẽ dĩ nhiên, khi nêu lên những điểm tương đồng trong Tân Ước với Kinh Phật, các tác giả không bao giờ nêu lên những câu nói và hành động ác độc của Giê-su trong Tân ước và đặt câu hỏi:   Đức Phật có bao giờ nói lên những lời và có những hành động tương đương hay không.?

     Một trong những tác giả Tây Phương đã cố công tìm ra những điểm tương đồng trong “giáo lý” của Giê-su với giáo lý của Đức Phật là Marcus Borg, một nhà Thần học Ki Tô Giáo.  Marcus Borg là tác giả cuốn “Giê-su và Phật: Những Lời Nói Giống Nhau” (Jesus and Buddha: The Parallel Sayings), nxb Ulysses Press, Berkeley, California, 1997.  Trong cuốn sách này, tác giả Marcus Borg đã trình bày song song và trên hai trang sách đối diện nhau, theo từng chủ đề, những lời nói của Đức Phật và của Giê-su mà ông cho là tương đồng, nghĩa là có cùng một ý tưởng, cùng một triết lý, cùng phát xuất từ một trí tuệ giống nhau.  Tuy nhiên, khi đọc những lời nói song song mà tác giả trích dẫn, chúng ta thấy rõ là tác giả đã trích dẫn một cách vụn vặt, ngoài toàn bộ vấn đề (out of context), nhiều khi sai lời sai ý, do đó sự so sánh trở nên rất hời hợt và phiến diện, chứng tỏ kiến thức của tác giả về Phật Giáo vô cùng hạn hẹp và lệch lạc.  Muốn chứng minh điều này, chúng ta phải đi ngay vào những câu tác giả trích dẫn từ Thánh Kinh và từ Kinh Phật và cho rằng chúng hầu như y hệt nhau để xem xem có thật là những giáo lý của Giê-su, nếu có, và của Đức Phật hầu như y hệt nhau không, và y hệt ở điểm nào? 

     Sau đây chúng ta hãy kể vài thí dụ điển hình: 

     Trang 56-57:

     Jesus, Luke: 6: 20:  “Blessed are you who are poor, for yours is the kingdom of God” (Phúc cho các con đang nghèo khổ, vì Nước Thiên Đường thuộc về các con.)

     Buddha, Dhammapada, 5. 4: “Let us live most happily, possessing nothing; let us feed on joy, like the radian gods.”   “Vui thay chúng ta sống, không gì gọi của ta, ta sẽ hưởng hỉ lạc, như chư thiên Quang Âm” (Bản dịch Kinh Lời Vàng (KinhPháp Cú) của Thích Minh Châu).

     Có gì là hầu như y hệt nhau ở đây? 

     Câu của Giê-su là để an ủi những người nghèo, khuyên họ nên an phận và hứa hẹn với họ một nước thiên đường giả tưởng, trên đó có tràn đầy sữa và mật.  Các học giả ngày nay đều đồng thuận ở điểm:  Quan niệm nước Thiên đường của Giê-su chỉ là một Jerusalem mới trong đó người dân Do Thái sống dưới luật của Thần của người Do Thái.  Đây là một cái bánh vẽ trên trời để an ủi những người Do Thái nghèo khổ ngu dốt, hi vọng ở một đời sau sung sướng hơn.  Chỉ cần nghèo khổ là trong đời sau sẽ ô-tô-ma-tic lên thiên đường, không cần đạo đức, không cần luân lý, không cần tu tập, không cần phát triển trí tuệ, không cần phải cố gắng để thoát ra khỏi cảnh nghèo khổ.  Câu này nằm trong Bài Giảng Trên Núi, hay ở dưới đồng bằng, tùy theo ta đọc ở đâu trong Tân Ước, mà các tín đồ Ki Tô Giáo cho là tuyệt vời, trong khi nhiều học giả đã phân tích bài giảng này và cho nó thuộc loại không tưởng [Xin đọc phần phân tích Bài Giảng Trên Núi trong cuốn Chúa Giê-su Là Ai?  Giảng Dạy Những Gì? của Trần Chung Ngọc, Giao Điểm xuất bản, 2002]

     Còn câu của Đức Phật là dạy về vô chấp (non attachment).   “Không gì gọi của ta” có nghĩa rất rộng, không  chỉ nói về của cải vật dụng dùng để đánh giá giầu nghèo của con người , mà còn uẩn hàm thuyết “Vô Ngã” và “Vô Thường” của nhà Phật, sự không vướng mắc vào một cái gì có thể làm ngăn ngại,  do đó tuyệt đối không có nghĩa là “possessing nothing = không có của cải gì” như tác giả đã viết. 

      Trong cuốn Sacred Writings, Buddhism: The Dhammapada, John Ross Carter và Mahinda Palihawadana dịch đúng hơn nhiều:  “Ah, so pleasantly we live, for whom there is nothing at all our own, we shall become partakers of joy, even as the Radian Devas.” 

     Chư thiên Quang Âm, theo  Phật Giáo, là những bậc luôn luôn sống trong hỉ lạc, và nếu chúng ta không chấp vào một cái gì, tâm không bị ngăn ngại thì chúng ta cũng có thể luôn luôn sống trong hỉ lạc.  Vậy tâm hỉ lạc là kết quả của một quá trình tu tập trong Phật Giáo.  Còn nghèo khổ là một tình trạng xã hội.

     Vừa dịch sai Kinh Phật, vừa không hiểu ý nghĩa sâu xa của Đức Phật nói, vậy mà dám kết luận là hai câu trên hàm chứa giáo lý y hệt nhau, khả năng của nhà thần học Ki Tô Giáo Marcus Borg chỉ có vậy thôi.

 Trang 112-113:  

     Jesus, John 8: 32: “You will know the truth, and the truth will make you free.”  (Các ngươi sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ngươi)

     Buddha, Dhammapada 13.2:  One who acts on truth is happy in this world and beyond.  (Người hành động trên sự thật thì vui sướng trong thế giới này và thế giới sau)

     Ở đây chúng ta thấy rõ tác giả Marcus Borg đã trích dẫn vụn vặt ngoài toàn bộ vấn đề và sai lạc để so sánh.  Trước hết, ngay trong câu John 8: 32, tác giả đã bỏ đi một chữ quan trọng ở đầu: chữ “And”.  Toàn câu John 8: 32 là: “And you will know the truth, and the truth will make you free.”  Chữ “and” ở đầu câu cho chúng ta biết đó là câu tiếp nối với câu trước đó, từ đó chúng ta mới có thể hiểu “sự thật” mà Giê-su muốn nói là “sự thật” như thế nào, có gì giống với “sự thật” trong Kinh Pháp Cú hay không?

     Chúng ta hãy đọc John 8: 31-32:  “Then Jesus said to those Jews who believed Him, “If you abide in My word, you are My disciples indeed; And you will know the truth, and the truth will make you free.” (Rồi Giê-su nói với những người Do Thái tin ông ta: “Nếu các ngươi theo lời của Ta, các ngươi đúng là đệ tử của ta; Và các ngươi sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng  các ngươi”)

     Ở đây, Giê-su muốn nói đến cái mà ông ta cho là “sự thật” với những người Do Thái tin ông ta mà thôi, không phải là sự thật phổ quát (universal truth), đúng khắp mọi nơi.  Đọc tiếp John 8: 33-36 chúng ta mới thấy rằng “sự thật” mà Giê-su muốn nói là quyền năng “giải phóng” của Giê-su cho những người tội lỗi. (I say to you, whoever commits sin is a slave of sin... If the Son makes you free, you shall be free indeed).

     Bây giờ chúng ta hãy sang câu trong Kinh Pháp Cú mà tác giả đã trích dẫn để so sánh với câu lạc lõng trong Tân Ước, Dhammapada 13. 2.

     Câu Pháp Cú 13.2 được Tỳ Kheo Thích Minh Châu dịch như sau: “Coi chừng, chớ buông lung, hãy sống theo chánh hạnh, kẻ chánh hạnh hưởng lạc, cả đời này đời sau”  Bản dịch ra tiếng Anh của John Ross Carter và Mahinda Palihawadana như sau: “One should stand up, not be neglected, Follow Dhamma, which is good conduct.  One who lives dhamma, sleeps at ease in this world and also in the next.”

      Câu 13.2 này nằm trong Phẩm Thế Gian, Kinh Pháp Cú, gồm những lời dạy của Đức Phật về các hạnh tu tập trong đời.  Cả hai bản dịch đều hoàn toàn khác với câu trích dẫn của Marcus Borg ở trên: “Người hành động trên sự thật thì vui sướng trong thế giới này và thế giới sau”  

     Một thí dụ khác về cách trích dẫn những điểm tương đồng trong “giáo lý” của Giê-su và giáo lý của Đức Phật, trang 78-79:

     Jesus, Mark 8: 35: “Those who want to save their life will lose it, and those who lose their life for my sake [and the Gospel’s] will save it.”  Thánh Kinh tiếng Việt dịch: “Ai tham sống sợ chết sẽ mất mạng, nhưng ai vì Ta và vì Phúc Âm mà chết sẽ được sống”

     Buddha, Majjhima Nikaya 72.15:  “With the relinquishing of all thought and egotism, the enlightened one is liberated through not clinging” (Với sự vứt bỏ mọi tư tưởng và tính ích kỷ, người giác ngộ được giải thoát  vì không bám vào cái gì)

     Thứ nhất, khi trích dẫn Mark 8:35,  Marcus Borg đã bỏ đi mấy từ tôi để trong dấu ngoặc [and the Gospel’s].  Câu này đã là nguồn gốc cuồng tín của những thánh tử đạo trong Ki Tô Giáo, sẵn sàng hi sinh mạng sống cho niềm tin vào Giê-su và vào Phúc Âm.  Nó cho thấy cái ngã của Giê-su quá lớn qua những lời nói huênh hoang như trên mà chưa có ai chứng thực được.  Những người chết cho Giê-su và Phúc Âm bây giờ sống ở đâu?  Bao nhiêu tín đồ Ca Tô Việt Nam không chịu bước qua cây thập giá bị nhà Nguyễn chặt đầu, bây giờ sống ở đâu? sống như thế nào?

     Nhưng vấn đề là câu trên chẳng ăn nhằm gì đến câu Borg trích dẫn vừa thiếu sót, vừa sai trong Trung Bộ Kinh.  Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya) 72.15 không chỉ có vậy.  Trung Bộ Kinh phẩm 72 là một loạt những câu hỏi mà người tu sĩ ngoại đạo Vacchagotta đặt cho Đức Phật, và Trung Bộ Kinh 72.15 đầy đủ như sau, Tỳ Kheo Thích Minh Châu dịch:

     Vacchagotta hỏi:  “Nhưng Tôn Giả Gotama có tà kiến nào không?”  Và Đức Phật trả lời:

     “Này Vaccha, tà kiến đã được Như Lai đoạn trừ.   Nhưng này Vaccha, đây là điều Như Lai đã thấy: “Đây là sắc, đây là sắc tập, đây là sắc diệt; đây là thọ, đây là thọ tập, đây là thọ diệt; đây là tưởng, đây là tưởng tập, đây là tưởng diệt; đây là hành, đây là hành tập, đây là hành diệt; đây là thức, đây là thức tập, đây là thức diệt.”  Do vậy ta nói rằng, với sự đoạn trừ, ly tham, đoạn diệt, xả bỏ, vứt bỏ tất cả ảo tưởng, tất cả hôn mê, tất cả ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tùy miên, mà Như Lai được giải thoát, không còn chấp thủ.”

     Đoạn Kinh văn trên cho thấy Đức Phật đã thấy rõ sự hiện hữu của ngũ uẩn, ngũ uẩn từ đâu mà ra, và con đường đi đến đoạn diệt sự chấp vào ngũ uẩn.  Không còn chấp thủ vào bất cứ ảo tưởng nào, Như Lai đã được giải thoát.   Tôi không thấy đoạn Kinh văn trên mà Marcus Borg đã trích dẫn thiếu sót và sai lầm giống câu trong Tân Ước ở điểm nào, từ cũng như ý.

Để thấy rõ hơn, tôi xin trích sau đây bản dịch sang tiếng Anh của đoạn Kinh văn trên cho các giới trẻ đọc:

     -  Then does Master Gotama hold any speculative view at all?

     -  “Vaccha, ‘speculative view’ is something that the Tathagata has put away.  For the Tathagata, Vaccha, has seen this: “Such is material form, such its origin, such its disappearance; such is feeling, such its origin, such its disappearance; such is perception, such its origin, such its disappearance; such are formations, such their origin, such their disappearance; such is consciousness, such its origin, such its disappearance.”  Therefore, I say, with the destruction fading away. cessation, giving up, and relinquishing of all conceivings, all excogitations, all I-making, all mine-making, and the underlying tendency to conceit, the Tathagata is liberated through not clinging.”

     Nếu Marcus Borg, với xảo thuật trích dẫn như trên, cho rằng câu trong Tân Ước 8:35 và một câu lạc lõng trong Trung Bộ Kinh 72.15 giống nhau thì chúng ta thử xét xem ảnh hưởng của những câu trên như thế nào?

     Nghe xong Mark 8:35, những người nghe theo lời dạy của Giê-su chắc hẳn sẽ sẵn sàng đâm đầu đi chết cho Giê-su và cho Phúc Âm để được sống.

     Còn Vaccha nghe xong những câu trả lời của Đức Phật thì sao?  Chúng ta hãy đọc đoạn cuối của Trung Bộ Kinh 7, tức 7.22:

     “Magnificient, Master Gotama!  Magnificient, Master Gotama!  Master Gotama has made the Dhamma clear in my ways, as though he were turning upright what had been overthrown, revealing what was hidden, showing the way to one who was lost, or holding up a lamp in the dark for those with eyesight to see forms.  I go to Master Gotama for refuge and to the Dhamma and to the Sangha of Bhikkhus.  From today let Master Gotama remember me as a lay follower who has gone to him for refuge for life.”

     (Thật vi diệu thay, Tôn Giả Gotama!  Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!  Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện giải thích.  Con xin quy y Tôn giả, quy y Pháp và quy y Tăng.  Mong tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.)

     Trên đây tôi đã đưa ra vài thí dụ để chứng minh sự vô giá trị trong những luận điểm so sánh của Marcus Borg để chứng tỏ có sự tương đồng giữa Đức Phật và Giê-su, về nhân cách và giáo lý.   Một câu hỏi được đặt ra là: Tại sao một nhà thần học cỡ Marcus Borg, được một số người ca tụng, lại có thể cho ra một tác phẩm quá thấp kém như vậy?  Thật là dễ hiểu khi chúng ta đọc tác giả thú nhận  trong phần Lời Nói Đầu (Preface) của cuốn sách:

     “Tuy nhiên, trong sự hiểu và  tán thưởng Đức Phật của tôi, tôi chỉ là một tài tử.  Tôi không biết đến học thuật  chung quanh Đức Phật như là tôi biết về Giê-su.

     Như là một tín đồ Ki Tô Giáo, tôi lớn lên với Giê-su và đã sống với ông ta suốt cuộc đời tôi.  Tôi không có sống với Đức Phật.  Cũng vậy, công cuộc của tôi trong cuốn sách này là từ lợi thế của một học giả về Giê-su.  Nhưng kinh nghiệm của tôi đã đưa tôi đến kết luận là những giáo lý của Đức Phật và của Giê-su về “đạo lý” hầu như y hệt nhau và cùng với nhau Đức Phật và Giê-su là hai khuôn mặt tôn giáo đặc biệt nhất từ xưa tới nay”

     (In my understanding and appreciation of the Buddha, however, I am an amateur.   I do not know scholarship surrounding the Buddha as I do about Jesus.

     As a Christian, I grew up with Jesus and have lived with him all my life.  I have not lived with Buddha.  Similarly, my work on this book was from the vantage point of a Jesus scholar.  But my experience has led me to the conclusion that their teachings about “the way” are virtually identical and that together they are the two most remarkable religious figures who ever lived.)

    Nếu không biết về học thuật Phật Giáo, không sống với Đức Phật, thì tác giả có những kinh nghiệm gì về Phật Giáo, và những kinh nghiệm sống với Giê-su suốt đời của tác giả thì có giá trị gì để đưa ra những nhận định so sánh hời hợt như trên?  Và lẽ dĩ nhiên, Marcus Borg không bao giờ trích dẫn những lời cũng như những hành động của Giê-su không hợp với luân lý đạo đức mà con người ngày nay hiểu.

KẾT LUẬN:  Theo sự hiểu biết của tôi, đạo Phật là đạo Phật, đạo Giê-su là đạo Giê-su, và như trên đã nói, hai đạo này là hai con đường song song ngược chiều, không thể gặp nhau ở bất cứ điểm nào: Giáo chủ, Giáo lý, và Phương pháp hành trì.  Người theo đạo Phật có thể gặp người theo đạo Giê-su, lý do đơn giản chỉ vì họ đều là con người.  Con người có thể gặp nhau mà không cần để ý đến những quan điểm khác nhau về tôn giáo.  Nhưng về phương diện học thuật thì không có cách nào chúng ta có thể đánh đồng Đức Phật với Giê-su, hay đánh đồng giáo lý của Giê-su, nếu có, với giáo lý của Đức Phật.

     Tôi  xin lấy một thí dụ.  Quan niệm về thiên đường trong Ki Tô Giáo đã phải thay đổi rất nhiều với nhiều diễn giải khác nhau trong khi quan niệm về Niết Bàn của Phật Giáo trước sau như một.  Gần đây, chúng ta thấy xuất hiện luận cứ như: “Cái mà Giê-su gọi là Thiên đường thì Đức Phật gọi là Niết Bàn”   Luận cứ này đặt trên tình cảm hòa hợp tôn giáo chứ không đặt trên sự hiểu biết về quan niệm về Thiên đường của Ki Tô Giáo và quan niệm về Niết Bàn của Phật Giáo.

     Nếu chúng ta cứ cố tự cưỡng ép để đi đến một kết luận như của Marcus Borg: “Đức Phật và Giê-su là hai khuôn mặt tôn giáo đặc biệt nhất từ xưa tới nay” qua một số trích dẫn sai lầm và lạc đề của Borg thì sau đây tôi bắt buộc phải làm một công việc mà tôi chưa bao giờ từng làm và không bao giờ muốn làm: lướt qua vài điểm so sánh:

1.  Về Giáo chủ:

     Chúng ta hãy xét về vấn đề đạo đức và trí tuệ của Giê-su.   Có lẽ không một người nào trong giới trí thức quan tâm đến vấn đề tôn giáo không biết đến nhận định của Bertrand Russell, một triết gia và khoa học gia nổi tiếng trên thế giới trong thế kỷ 20:

   Riêng tôi, tôi thấy trong cả hai lãnh vực trí tuệ và đạo đức, Chúa KiTô không thể đứng ngang hàng với những vĩ nhân khác của lịch sử.  Tôi cho Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Socrate đứng cao hơn Ngài trong hai lãnh vực này.

     (Russel, Bertrand, Why I Am Not A Christian, p. 19:  I cannot myself feel that either in the matter of wisdom or in the manner of virtue Christ stands quite as high as some other people known to history.  I think I should put Buddha and Socrates above Him in those respects.)

   Và, không phải chỉ có mình Bertrand Russell nhận định như trên mà chính giám mục Tin Lành John Shelby Spong cũng đưa ra một nhận định tương tự như sau:

     Có những đoạn trong 4 Phúc Âm mô tả Giê-su ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả.

     (Spong, John Shelby, Rescuing The Bible From Fundamentalism, p. 21:  There are passages in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrow-minded, vindictive, and even hypocritical.)

     Tại sao một ông Giám mục Tin Lành lại có thể đưa ra một nhận đinh như trên?  Vì ông ta đã đọc kỹ Tân Ước và có những nhận xét về một vài trong số nhiều hành động của Giê-su được mô tả trong Tân Ước, từ đó giám mục Spong đưa ra ý kiến:

    Chúng ta có thấy hấp dẫn đối với một Chúa (Giê-su) phải giết cả một bày heo (vào khoảng 2000 con. TCN) để đuổi một con quỷ ra khỏi thân người hay không?  Chúng ta có nên khâm phục và kính trọng người mà chúng ta gọi là Chúa đã nguyền rủa một cây sung khi nó không ra trái lúc trái mùa không?..

   Cuốn Thánh Kinh đã làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị.  Nó đưa đến cho tôi một vị Thần mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng

     (Spong, John Shelby, Ibid., pp. 21,24:   Are we drawn to a Lord who would destroy a herd of pigs in order to exorcise a demon?  Are we impressed when the one we call Lord curses a fig tree because it did not bear fruit out of season?... A literal Bible presents me with far more problems than assets.   It offers me a God I cannot respect, much less worship.)

     Với tất cả sự lương thiện trí thức, chúng ta hãy tự hỏi, một khuôn mặt như vậy có thể sánh ngang hàng với Đức Phật được không.  Chúng ta có thể không tin theo những giáo lý của Đức Phật vì căn trí giới hạn của chúng ta, nhưng chúng ta không thể phủ nhận là, trong rừng Kinh điển Phật Giáo, chúng ta không thể tìm thấy một lời nói hay một hành động nào của Đức Phật mà chúng ta có thể chê trách, theo tiêu chuẩn luân lý đạo đức của mọi xã hội, xưa cũng như nay.  Nói đến Đức Phật là chúng ta nói đến từ bi, từ bi không chỉ đối với con người mà còn đối với tất cả chúng sinh.

2. Về Giáo Lý:

     Chúng ta đã biết, Giê-su không hề có một giáo lý nào mà tất cả những quan điểm mà Giêsu diễn đạt chỉ là một mớ hổ lốn những mà chúng ta có thể thấy trong những đạo cổ xưa của Ai Cập, Babylon, Ba Tư, Hi Lạp, Phật, Khổng, Ấn Độ... như học giả Ca Tô Joseph L. Daleiden đã nghiên cứu và khẳng định.  Vậy làm sao chúng ta có thể so sánh một rừng giáo lý của Đức Phật với một mớ hổ lốn những ngụ ngôn và luân lý  cóp nhặt trong dân gian. 

     Nếu hai giáo lý, theo như Marcus Borg, hầu như y hệt nhau, thì chúng ta không thể không đặt ra một câu hỏi:  “Giáo lý của mỗi tôn giáo là để làm gì, nếu không phải là để cho tín đồ theo đó mà ăn ở hay tu tập.  Nhưng tại sao, lịch sử đạo Phật, lâu đời hơn đạo Giê-su hơn 500 năm, lại không hề vấy một giọt máu, trong khi lịch sử đạo Giê-su lại là một lịch sử ô nhục đẫm máu nhất trên thế gian, mang trên bờ vai trên dưới 200 triệu sinh mạng vô tội gồm già trẻ lớn bé?  Người Tây phương vẫn tự nhận là văn minh tiến bộ nhất, mang Ki Tô Giáo đi khắp thế giới, đặc biệt là Á Châu, để Ki Tô hóa những dân tộc mọi rợ theo các đạo dân gian, đặc biệt là Phật Giáo.  Nhưng họ giải thích làm sao cho sự kiện là chính Ki Tô Giáo đã phạm quá nhiều tội ác đối với nhân loại trong khi Phật Giáo luôn luôn phát triển trên thế giới bằng phương tiện hòa bình, không gây ra chiến tranh, không cưỡng ép bất cứ một ai. “