curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 

   BẢN THÔNG CÁO CHUNG NGÀY 16/6/1963

(Trích từ “Mùa Pháp Nạn 1963” của cố giáo sư
Minh Không Vũ Văn Mẫu – Giao Điểm xuất bản 2003)

      Ngọn Lửa Bồ Tát Thích Quảng Đức đã có hiệu lực mãnh liệt xoay đổi chính sách của Ngô Đình Diệm đối với cuộc đấu tranh cho tự do và bình đẳng tôn giáo trong mùa hè năm 1963..

Rất lo âu trước các biến chuyển dồn dập xẩy ra từ đầu tháng để đưa đến sự hy sinh cao cả của cố Hòa thượng Thích Quảng Đức, kẻ viết những dòng này, vào khoảng gần trưa ngày 11/6/1963, đã gọi điện thoại để hỏi Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần tại Phủ Tổng thống về phản ứng của Tổng thống Ngô Đình Diệm sau khi ngọn lửa Bồ Tát đã bùng cháy làm toàn dân xúc động. Ông Nguyễn Đnh Thuần cho biết: “Chẳng thấy có phản ứng gì. Ông Cụ ngồi lì trong văn phòng”. Tôi trả lời: “Lì như thế không thể được. Anh phải khuyên ông Cụ nên có lời hiệu triệu quốc dân để cho các Phật tử nói riêng, quốc dân nói chung, được yên lòng và tránh những biến cố khác quan trọng hơn”. Ông Thuần nói rằng “Anh vào mà khuyên.   Không ai dám vào phòng ông Cụ lúc nầy”.

Tôi vội bàn cùng Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ và cùng vào Dinh Gia Long đề cập tới vấn đề cần phải có lời hiệu triệu trấn an dân chúng.

Tổng thống Diệm đã tiếp chúng tôi rất hòa nhã. Vẻ mặt đượm buồn, ông nói với chúng tôi những lời chí tình mà suốt từ năm 1955 tôi chưa hề nghe thấy: “Toàn dân bầu tôi làm Tổng Thống. Tôi đâu phải chỉ có là Tổng thống của các người Công giáo. Lúc còn nhỏ, mẹ tôi vẫn dẫn tôi đến chùa Diệu Đế…”. Ngọn lửa Bồ Tát quả có hiệu lực soi sáng tâm hồn Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Sau đó, để giải quyết các nguyện vọng của Phật giáo, Tổng thống Diệm đã chỉ thị cho Ủy ban Liên Bộ vốn được thành lập trước đó it lâu tiếp xúc với một phái đoàn đại diện Ủy ban Liên Phái của Phật Giáo.

Ủy Ban Liên Bộ gồm có:

- Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ
- Nguyễn Đình Thuần, Bộ trưởng tại Phủ Tổng thống.
- Bùi Văn Lượng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

Về phía Ủy ban Liên Phái, phái đoàn đại diện gồm có:

- Thượng tọa Thích Diệu Minh, Trưởng Phái đoàn
- Thượng tọa Thích Tâm Châu, Đoàn viên
- Thượng tọa Thích Huyền Quang, Thư Ký.
- Đại Đức Thích Đức Ngiệp, Phó Thư ký.

Hai phái đoàn đã họp liên tiếp từ ngày thứ sáu 14/6/1963 đến 1 giờ 30 sáng chủ nhật 16/6/1963 mới thỏa thuận ký kết bản Thông Cáo Chung giải quyết năm nguyện vọng của Phật Giáo.

Lẽ dĩ nhiên, sau mỗi phiên họp, Ủy ban Liên Bộ phải về trình Tổng thống Diệm những diễn tiến của cuộc thảo luận và để xin chỉ thị, vì sự thực Ủy ban Liên Bộ chỉ có quyền gặp mặt thương thuyết và dò hiểu quan điểm của Ủy Ban Liên Phái nhưng không có quyền quyết định gì cả. Nói cách khác, tất cả các điểm được ghi trong bản Thông Cáo chung ngày 16/6/1963 đã được sự chấp thuận minh thị của Tống thống Ngô Đình Diệm.

Tuy nhiên, đến 1 giờ 30 sáng ngày 16/6/1963, sau khi bản Thông Cáo chung được ký kết, vì đã lấy chữ ký của Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam, Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ đem ngay vào Dinh Gia Long để lấy chữ ký của Tổng thống Ngô Đình Diệm thì một khó khăn bất ngờ khiến ông Nguyễn Ngọc Thơ phải thất vọng.

Đọc đi đọc lại bản Thông Cáo mà chính ông trước đây đã chấp thuận từng điểm trong mỗi giai đoạn thương thuyết, ông Diệm, chẳng hiểu chuyện gì đã xảy ra trong thâm tâm, bổng không chịu ký nữa.

Đến 5 giờ sáng, ông Diệm nói với ông Nguyễn Ngọc Thơ cứ để hồ sơ lại rồi về nhà nghỉ.

Sau khi ông Thơ ra về, trong Dinh Gia Long đã có một “Hội Đồng gia đình” bàn về vấn đề này gồm có ông Diệm và hai vợ chồng ông Nhu.

Cuối cùng, sau khi cả gia đình suy tính kỹ, bà Nhu đã khuyên ông Tổng thống: “Không ký ngang hàng với Hòa thượng Thích Tịnh Khiết mà ký ngay ở trên góc trái, ngay trang đầu của bản Thông Cáo chung và thêm vào một câu trên chữ ký: “Những điều được ghi trong Thông Cáo chung này thì đã được tôi chấp thuận nguyên tắc ngay từ đầu.” Ông Diệm đã nghe theo lời khuyên này và ký ở trang đầu của bản Thông Cáo với câu ghi trên.

Tại sao bà Ngô Đình Nhu lại có quyết định như vậy. Theo ý kiến của bà Nhu, ký ở trên đầu trang là tỏ rằng Tổng thống Diệm ở trên hết.  Còn câu ghi trên đây có hai ý nghĩa: theo nghĩa đen, câu đó tỏ rằng các nguyện vọng của Phật giáo không có chủ đích, vì đều đã được Tổng thống chấp nhận nguyên tắc ngay từ đầu; nhưng theo nghĩa bóng, thì bản Thông Cáo chung sẽ không được thực thi vì Tổng Thống chỉ chấp nhận nguyên tắc mà thôi.

Hậu ý phá hoại việc thi hành bản Thông Cáo chung ngày 16/6/1963 đã nẩy ra trong thâm tâm vợ chồng Ngô Đình Nhu ngay từ lúc chữ ký của Tổng thống Diệm trên bản Thông Cáo chung còn chưa ráo mực.

Đến 7giờ sáng ngày 16/6/1963, sau khi được một người thân tín trong Phủ Tổng thống mật báo cho tôi biết rằng Thông Cáo chung đã được Tổng thống Ngô Đình Diệm ký, tôi bèn gọi điện thoại mừng ông Nguyễn Ngọc Thơ đã thành công trong việc thương thuyết.  Ông Thơ chưa biết chuyện này, đã trả lời tôi rằng “ Hãy khoan mừng anh ơi! Ông Cụ chưa chịu ký. Tôi ngồi đến 5 giờ sáng mới về mà bản Thông áo vẫn chưa được ký, tuy ông ụ đọc đi đọc lại đến 10 lần”.

Tôi liền báo cho ông Thơ biết ông Cụ vừa mới ký xong sau khi có cuộc họp “Hội đồng gia đình” sáng nay.

Nội dung bản Thông Cáo chung ngày 16/6/1963:

THÔNG CÁO CHUNG

Để giải quyết ổn thỏa 5 nguyện vọng do Tổng hội Phật giáo Việt Nam đưa ra,  Ủy Ban Liên Bộ gồm có:

- Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ
- Nguyễn Đình Thuần, Bộ trưởng tại Phủ Tổng thống
- Bùi văn Lượng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ

và Phái đoàn Phật giáo gồm có:

- Thượng tọa Thích Thiện Minh, Trưởng phái đoàn
- Thượng Tọa Thích Tâm Châu, Đoàn viên
- Thượng Tọa Thích Huyền Quang, Thư Ký
- Đại Đức Thích Đức Nghiệp, Phó Thư Ký

(Do thư giới thiệu số 24 ngày 14/6/1963 của Hòa thượng Hội chủ Thích Tịnh Khiết) đã họp tại hội trường Diên Hồng:

Ngày thứ sáu, 14 tháng 6 năm 1963

- Sáng từ 9 giờ 00 đến 12 giờ 00
- Chiều từ 15 giờ 00 đến 18 giờ 00

Ngày thú bẩy, 15 tháng 6 năm 1963

- Sáng từ 9 giờ 00 đến 11 giờ 00
- Chiều từ 14 giờ 30 đến 17 giờ 00
- Đêm từ 21 giờ 00 đến 24 giờ 00

và ngày chủ nhật, 16 tháng 6 năm 1963

- Sáng từ  00 giờ đến 1 giờ 30

Sau khi thảo luận, Ủy ban Liên Bộ và Phái đoàn Phật giáo đã thỏa thuận các điểm sau đây:

1- QUỐC KỲ – ĐẠO KỲ

Quốc Kỳ tượng trương cho linh hồn dân tộc, phải được luôn luôn tôn trọng và phải được đặt đúng vị trí.

A- Lễ Quốc gia : chi treo cờ Quốc gia
B- Lễ Phật giáo :

    1-Tại chùa:

- Huyền môn cổng chùa: Cờ Quốc gia bên trái
- Cột cờ giữa sân chùa: cờ Phật giáo bên trái nhỏ hơn (2/3)
- Mặt tiền chùa: cờ Phật giáo mà thôi
- Sân chùa (để trang hoàng) mắc trên giây: toàn cờ Phật giáo bằng giấy cỡ nhỏ.
-Trong chùa: chỉ treo cờ Phật giáo

    2- Lễ Đài:

- Cờ Quốc gia bên phải
- Chân Đài và chung quanh: Cờ Phật giáo bên trái nhỏ hơn (2/3)
- Trên đài (có thể coi như là trong chùa): treo cờ Phật giáo

  3- Đám rước:

- Đi trước: nếu chỉ một người đi trước, cầm hai cờ: Quốc gia bên phải, Phật giáo bên trái, nhỏ hơn (2/3). Nếu có hai người đi trước: mỗi người cầm một lá cờ (cũng theo thể thức nói trên)
- Phía sau: Tín đồ chỉ cầm cờ Phật gíao cỡ nhỏ.

  4- Xe Nhân vật Phật giáo:

Không treo cờ gì cả

  5- Tư Gia: (Phật giáo)

- Trước nhà: 2 cờ như trước chùa
- Trong nhà: chi treo cờ Phật giáo

Để áp dụng đúng đắn các khoản trên đây, cần quy định:

- Cờ treo bên phải: “phải” là từ ngoài lộ trông vô chùa
- Cờ nhỏ hơn: “nhỏ” là bằng 2/3 cờ Quốc gia. (Các cán bộ không nên quá khắt khe về kích thước)

II- DỤ SỐ 10:

Tách Hiệp hội có tính cách tôn giáo ra khỏi Dụ số 10 và lập một quy chế hợp với tính cách đặc biệt về nhu cầu sinh hoạt của những Hiệp hội tôn giáo ấy. Quy chế đó sẽ là một đạo luật do Quốc Hội sọan thảo với sự tham khảo trực tiếp ý kiến tôn giáo liên hệ.

Quốc Hội sẽ biểu quyết đạo luật này, chậm là cuối năm 1963 hoặc đầu năm 1964.

Trong khi chờ đợi ban hành đạo luật mới, Ủy ban Liên Bộ đồng ý sẽ có những chỉ thị cần thiết để Dụ số 10 không áp dụng quá khắt khe đối với các Hội Phật giáo, Phật Học. Phái đoàn Phật giáo cam kết chỉ thị cho các Tăng Ni chấp hành nghiêm chỉnh luật pháp Quốc gia và thi hành mọi biện pháp kỷ luật nội bộ đối với những hành động lệch lạc.

III- VẤN ĐỀ BẮT BỚ VÀ GIAM GIỮ PHẬT GIÁO ĐỒ

Chính phủ lập một Ủy Ban điều tra để xét lại các hồ sơ khiếu nại của Phật giáo.

Tất cả những ai có liên quan đến cuộc vận động thực hiện 5 nguyện vọng của Tổng hội Phật giáo đề ra, bất luận ở đâu, cũng được Tổng thống  khoan hồng.

Chính phủ sẽ xác nhận lệnh sửa sai đã ban ra cho các cán bộ để thực thi chính sách bình đẳng tôn giáo của Chính phủ.

IV- TỰ DO TRUYỀN GIÁO VÀ HÀNH ĐẠO

1/ Những sinh hoạt thuần túy tôn giáo và thường xuyên như ngày 14, rằm, ba mươi, mồng một, cầu siêu, cầu an hay các ngày vía đều làm trong phạm vi nhà chùa hay trụ sở Hội, thì khỏi phải xin phép. Các sinh hoạt bất thường và ngoài phạm vi nhà chùa hay trụ sở Hội đều phải xin phép.

2/ Về vấn đề các chùa làng có tính cách thuần túy địa phương, trung ương cần phải có thì giờ gom đủ hồ sơ liên hệ. Vì thế trong khi chờ đợi, chỉ có thể cho bầu lại ban Quản trị mới của các chùa làng nếu xét thấy cần bầu, để cho giới Phật tử được tham gia quyền quản trị các chùa này.

3/ Xác nhận Thông tư số 166-TTP/TTK ngày 23 tháng 9 năm 1960 không áp dụng cho việc tiếp nhận cũng như tạo mãi động sản và bất động sản của Phật giáo.

4/ Dành mọi sự dễ dàng cho các sự kiểm duyệt Phật Giáo theo thể lệ hiện hành.

5/ Dành mọi sự dễ dàng cho các sự xây cất (Chùa, trường học và cơ sở từ thiện)

V- TRÁCH NHIỆM VÀ TRỢ GIÚP

Những  cán bộ có trách nhiệm về các vụ xẩy ra ngày 8 tháng 5 năm 1963, bất kỳ thuộc thành phần nào, cũng sẽ bị nghiêm trị, nếu cuộc điều tra đang tiến hành chứng tỏ lỗi của họ.
Sự cứu trợ gia đình nạn nhân đang là một mối lo âu của các cơ quan xã hội và của chính quyền.
Các gia đình nạn nhân Huế đã được giúp đỡ kịp thời và có thể được giúp đỡ thêm tùy theo gia cảnh từng người.
Ủy ban Liên Bộ sẽ phụ trách theo dõi việc thi hành các điều khoản trên, nhất là tại các địa phương.
Nếu có sự lệch lạc, Tổng hội Phật giáo sẽ kịp thời báo tin cho Ủy ban Liên Bộ.

Lập thành 2 bản chính tại Sài Gòn

Ngày 16 tháng 6 năm 1963

Phái đoàn Phật giáo                                                         Ủy ban Liên Bộ

Ký Tên                                                                                     Ký tên

Thượng tọa Thích Thiện Minh                                Nguyễn Ngọc Thơ
Thượng tọa Thích Tâm Châu                                  Nguyễn Đình Thuần
Thượng tọa Thích Thiện Hoa                                  Bùi Văn Lượng

KHÁN:

Hòa thượng Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam

Ký tên: Hòa thượng Thích Tinh Khiết

Như đã ghi ở trên, Tổng thống Ngô Đình Diệm ký ở góc lề trang đầu của bản Thông Cáo chung, sau khi thêm các dòng chữ sau đây: “Những điều được ghi trong thông cáo chung này đã được tôi chấp nhận nguyên tắc ngay từ đầu

Như vậy, bản Thông Cáo chung ngày 16/6/1963 tuy được ký kết nhưng đã phản chiếu ngay từ dòng đầu ý định của Chính quyền không chịu thực thi các kết quả của cuộc thương lượng.

Chính sách đàn áp Phật giáo vẫn tiếp tục, và sự khủng bố còn tàn bạo hơn với ý đồ của vợ chồng Ngô Đình Nhu quyết tâm diệt trừ Phật giáo.

flash-5sac.gif (367 bytes)  Thông cáo số 4 của Phong trào TNCH của Ngô đình Nhu

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao ĐiểmThư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........