curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 
LỜI GIẢI ĐỘC GIAN DỐI
CỦA NGÔ ĐÌNH THỤC TẠI ROMA
VỀ BIẾN CỐ PHẬT GIÁO 1963

Tháng Năm năm 1963, biến cố thảm sát Phật tử tại Đài Phát thanh Huế trong ngày Phật Đản đã đẩy chế độ Diệm vào thế bị động, phải bộc lộ một cách công khai và tàn bạo chính sách kỳ thị tôn giáo và thù ghét Phật giáo của gia đình họ Ngô tại miền Nam Việt Nam.

Tháng Sáu, Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu. Tháng Bảy, chính quyền huy động các công cụ tay sai như Thanh niên Cọng hòa, Phụ nữ Liên đới, Thương phế binh giả hiệu, Cổ Sơn môn bù nhìn, ... đánh phá Phật giáo. Tháng Tám, Ngô Đình Nhu phóng tay phát động chiến dịch “Nước Lũ” với tham vọng phá Chùa, bắt Thầy, tiêu diệt một lần cho xong Phật giáo Việt Nam.

Và tháng Chín năm 1963 đó, Ngô Đình Thục, kẻ mang tham vọng Công giáo hóa toàn thể miền Nam để dâng cho Vatican, lên đường để giải độc thế giới. Chặng đầu của cuộc hành trình nầy là La Mã.  Và bài nói chuyện đầu tiên là một bản tường trình gian dối, xuyên tạc sự thực và hạ nhục Phật giáo Việt Nam một cách thâm độc nhất.

Bài nói chuyện nầy có tên là: “Cuộc nói chuyện của Tổng Giám mục địa phận Huế về vụ Phật giáo và Giáo hội Thiên Chúa giáo tại Việt Nam (Causerie de l’Archevêque de Hue sur l’affaire Bouddhiste et l ‘Eglise Viet Nam)” và đã được phổ biến trong báo chí tại La Mã ngày 7/9/1963 bằng Pháp văn.  Sau đây là bản dịch sang Việt văn:

Tại sao có cuộc nói chuyện nầy ? Tôi có nhận được từ Âu châu, Á châu, Mỹ châu, những lời kêu gọi của các tín đồ Công giáo lo lắng băn khoăn hỏi rằng vì sao các người Công giáo trong 300 năm đã phải chịu đau đớn rất nhiều về các cuộc tàn sát tôn giáo, ngày nay lại có thể tàn sát các đồng bào Phật giáo như các thông tấn quốc tế loan tin.

Đứng trước sự ưu phiền khắc khoải của những người đầy thiện chí như thế, tôi nghĩ rằng bổn phận của tôi, với tư cách Tổng Giám mục, phải trình bày các sự kiện trung thực, để mỗi tâm hồn thiện chí được tự do phán đoán ai là kẻ áp bức, ai là kẻ vu cáo và ai là kẻ bị vu cáo.

Cần nói rỏ rằng tôi chỉ đề cập đến vấn đề riêng theo quan điểm Thiên Chúa giáo. Nếu có ai có những lối giải thích chính trị thì việc đó thuộc về trách nhiệm riêng của họ. Có thể là tôi đã có những sự ngộ nhận sai lầm trong việc đánh giá các sự kiện, nhưng đã làm người thì ai không có những sai lầm, ngộ nhận ? Với tất cả lòng biết ơn, tôi xin chấp nhận trước tất cả các sự đính chính về các sự sai lầm, nếu các sự đính chính ấy dựa vào những bằng chứng xác đáng.

Cũng cần phải nói rõ rằng cuộc nói chuyện của tôi chỉ có mục đích soi sáng dư luận bên Thiên Chúa giáo. Nếu vô tình cuộc nói chuyện nầy làm động lòng một vài đồng bào Phật giáo, tôi sẽ rất buồn phiền và xin lỗi trước các đồng bào nầy.

Theo thiển kiến, sau đây là nguyên ủy và tiến trình của vụ Phật giáo:

Cứ mỗi năm, ngày Phật Đản (năm nay nhằm ngày 8 tháng 5 năm1963) được làm lễ

trong ba ngày theo một chương trình do “Ủy ban tổ chức ngày lễ” soạn ra và có sự chấp thuận của các nhà chức trách trong tỉnh. Hai năm trước đây, đã hai lần chính phủ do nghị định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, đã quy định bắt buộc tất cả các tôn giáo phải dành chỗ danh dự hạng nhất cho Quốc kỳ, khi treo cờ trong các dịp lễ tôn giáo.

Hai ngày trước ngày Phật đản 8/5/1963, một điện tín của văn phòng Phủ Tổng thống nhắc lại các chỉ thị ấy một cách nghiêm chỉnh hơn nữa đối với tất cả các tôn giáo. Chúng tôi cũng cho cất đi các cờ của Tòa thánh Vatican trong lễ Cung hiến Thánh đường dòng Cứu thế ở Huế (Consécration de l’église Rédemptoristes à Huế) để tuân theo chỉ thị của Bộ Nội vụ. Vậy đây chỉ là một biện pháp chung cho tất cả các tôn giáo, đã quy định từ hai năm trước và chỉ được nhắc lại năm nay, hai ngày trước lễ Phật đản, nhưng cũng là hai tuần trước lễ Thăng thiên (của bên Thiên Chúa giáo).

Nhân viên công an đã yêu cầu tư nhân không theo Thiên Chúa giáo mà đã treo cờ trước cửa vườn thì phải tuân theo chỉ thị trên. Do đó, có sự phản đối của chư Tăng. Chính quyền trong tỉnh Huế đã nhượng bộ trước sự đòi hỏi ấy và ra lệnh cho cảnh sát viên không được làm phiền dân chúng. Như vậy, cờ Phật giáo vẫn được treo lên trong ba ngày lễ.

Do sự nhượng bộ nầy các nhà sư như được khuyến khích, yêu cầu chính quyền trong tương lai phải hủy bỏ các chỉ thị của Tổng thống (về vấn đề treo cờ).

Trong tinh thần yêu sách ấy, đáng lẽ phải làm lễ theo

chương trình đã được nhà chức trách chấp thuận, các nhà sư đã tổ chức một cuộc mít-tinh khổng lồ ở Đài Phát thanh và đòi truyền thanh lại các lời chống đối chính phủ có tính cách nhục mạ, thay vì truyền thanh chương trình đã được chấp thuận từ trước. Trong khi đó, đám đông các người biểu tình tràn vào sân Đài Phát thanh kêu hò các khẩu hiệu chống đối Chính phủ. Cảnh sát và một đội binh sĩ kéo tới với các vòi phun nước cứu hỏa và các bom cay để giữ trật tự.

Trong khi ông Tỉnh trưởng tới Đài Phát thanh và đang thương nghị với vị lãnh đạo bên Phật giáo thì một số người biểu tình, trong đó có lẫn một đám lêu lỗng, trèo lên bậc cửa Đài Phát thanh ném đá và đập phá cửa. Vừa lúc ấy, một tiếng nổ mà người ta cho rằng là tiếng nổ plastic, phát ra trên bậc cửa làm chết 7 người trong số ấy có 2 lễ sinh của bên Thiên Chúa giáo, 4 người khác là con các cảnh sát hay con các công chức. Nhân sự kiện bi đát nầy, các nhà sư đã quy trách nhiệm cho các nhà chức trách rồi làm lễ phong chức “Thánh tử vì đạo” cho các nạn nhân, mặc dầu gia đình họ phản kháng và chỉ có hai gia đình nạn nhân không chống lại việc nầy.

Sau đó, các nhà sư trình lên chính phủ 5 điều thỉnh

cầu, do đó bắt đầu phát sinh sự chống đối của Tổng Giáo hội Phật giáo Việt Nam đối với chính quyền trung ương. Năm điều thỉnh cầu tóm lược như sau:

Chính phủ phải thâu hồi dứt khoát công điện hạ cờ Phật giáo

Phật giáo phải được hưởng chế độ đặc biệt dành cho các nhà chung bên Thiên Chúa giáo

Chính phủ phải chấm dứt các vụ bắt bớ và đàn áp các tín đồ Phật giáo.

Các nhà sư và các tín đồ Phật giáo phải được tự do theo đạo và tự do truyền bá đạo Phật.

Chính phủ phải bồi thường hợp lẽ công bằng các nạn nhân bị giết chết oan uổng và phải trừng phạt theo luật những người đã âm mưu vụ nầy.

Từ đó, có sự thành lập Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo để thực hiện sự thỏa mãn thỉnh cầu nầy dưới các hình thức hòa bình như biểu tình trên các công lộ, tuyệt thực theo lối Phật giáo, và tự thiêu.

Để hiểu rõ các điểm trên tôi cần ghi thêm:

- Cuộc tranh đấu nầy do Tổng Giáo hội Phật giáo Việt Nam chỉ huy. Tổng hội mới được thành lập cách đây 5 năm. Đó là đoàn thể được tổ chức chặt chẽ nhất trong các môn phái Phật giáo. Tổng hội gồm có 1 triệu hội viên (theo lời các nhà sư) và là hội đông nhất. Dù như vậy, cũng còn thật xa tỷ lệ 85% dân chúng của miền Nam Việt Nam có 15 triệu người và hầu hết là tín đồ theo đạo ông bà như ở Trung quốc. Đối với các Phật tử, Phật giáo chỉ là lớp sơn dày hay mỏng tùy trường hợp, được phết lên trên cơ sở của đạo ông bà mà thôi.

- Do đó, thật ra chỉ có cuộc tranh đấu chống Chính phủ của một số nhà lãnh đạo trong Tổng Giáo hội Phật giáo chứ không phải của tất cả các hội viên. Trong cuộc tranh đấu ấy, cũng chỉ có vài giáo phái đứng chung với nhau chứ không phải tất cả các giáo phái cùng nhau nhập mặt trận tranh đấu.

Chính phủ chỉ định một Ủy ban Liên bộ do Phó Tổng

thống (vốn không phải là người theo đạo Thiên Chúa) làm chủ tịch để thương nghị với Ủy ban Liên Phái Bảo vệ Phật giáo với mục đích thỏa mãn tất cả những gì chính đáng trong 5 thỉnh cầu của Phật giáo.

Trước hết, thỉnh cầu của Phật giáo về vấn đề cờ được chấp nhận. Bên Phật giáo nhân đó yêu cầu cho các giáo phái khác không đứng trong hàng ngũ tranh đấu cũng được hưởng điều này. Điểm này cũng được chấp nhận.

Các thắng lợi này dường như đã khuyến khích Ủy ban Liên Phái tiến tới đòi hỏi chính phủ phải trừng phạt các viên chức đã ngược đãi các Phật tử trong quá khứ. Chính phủ đề nghị với Ủy ban Liên Phái tham dự một Ủy ban Hỗn hợp trong đó có một vài Bộ trưởng đảm nhận cuộc điều tra về các sự đàn áp. Cuộc điều tra sẽ có tính cách công khai và cho phép nhà báo dự kiến.

Ủy ban Liên Phái đặt ra điều kiện tiên quyết là Chính phủ phải tuyên bố nhận trách nhiệm trong vụ các nạn nhân bị chết ở Huế. Chính phủ trả lời rằng chính mục đích của Ủy ban Hỗn hợp là điều tra để tìm xem ai là người phải chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, Ủy ban Liên Phái nhất định đòi hỏi điều kiện tiên quyết nói trên. Cuộc thương lượng kéo dài chẳng khác nào như đã diễn ra giữa các người điếc !

Trong khi đó, các vụ tự thiêu bắt đầu. Các nhà sư hành động như sau: Họ chọn ba vị sư già và rút thăm xem vị nào phải tự thiêu rồi họ cho vị sư này uống thuốc cho hăng say rồi mới tưới xăng lên vị sư để thiêu sống.

Tại Huế, chúng tôi nghe tiếng kêu thảm thiết của vị sư sắp bị thiêu ở chùa Từ Đàm, trụ sở của Tổng Giáo hội Phật giáo, vì vị sư nầy không chịu để cho thiêu nên bị các nhà sư khác dùng búa đập chết, do đó có tiếng kêu khóc ghê sợ. Cũng ở Huế, một chú tiểu bị bệnh chết sau đó xác bị đem đi thiêu. Cũng như trong trường hợp nói trên, chính quyền muốn đem giảo nghiệm tử thi để biết rõ căn nguyên của cái chết nhưng các nhà sư đã từ chối ngăn cản. Chính quyền đã phải chịu nhượng bộ để khỏi mang tiếng khiêu khích những người cuồng tín như vậy.

Tại sao lại dùng danh từ nầy để chỉ những người đã mặc áo cà sa tu hành ?

Có hai hạng sư: Một hạng không lấy vợ và sống tập thể. Ngày xưa dân tộc Việt Nam có tính hay nhạo báng thường bảo rằng chỉ có những kẻ lười biếng và vô dụng mới làm sư để sống ăn bám vào tài sản của nhà chùa. Trừ trường hợp một vài người biết chữ, còn học vấn của các nhà sư  coi như không có. Họ học thuộc lòng các kinh bằng tiếng Phạn rồi tụng lại mà không hiểu ý nghĩa của nó cũng như trường hợp các Lễ sinh phụ giúp trong Lễ Mi-sa đọc kinh La tinh như vẹt.

Chiếc áo cà sa vàng phân biệt các sư với thường dân nhưng ai muốn vào hay ra khỏi đoàn thể  (Tăng Ni) đều được hoàn toàn tự do. Do đó nhà Chùa đã là nơi trú thân lý tưởng cho các người Cọng sản để thoát khỏi sự kiểm soát của các viên chức công an cảnh sát.

Hạng Tăng Ni thứ hai là các sư có lập gia đình, trụ trì các chùa nhỏ, rải rác trong các thôn xã. Vì sự chọn lựa các sư rất lỏng lẻo và không có sự kiểm soát nên đã có những người khoác áo cà sa tu hành mà không có đức độ làm xấu hổ lây cho các vị chân tu rất đáng kính trọng.

Việc Việt cọng xâm nhập các đoàn thể sư sãi là một việc rất có thể xảy ra vì Cọng sản đã xâm nhập cả vào trong đoàn quân của Đức Bà (Légion de Marie). Có một tên Cọng sản đã khéo léo giả dối đóng vai trò ngoan đạo đến nỗi được cử vào một địa vị then chốt trong tổ chức nầy tại địa phận Vĩnh Long.

Cọng sản lợi dụng nước đục thả câu, đã lên tiếng bênh vực Phật giáo công khai qua tiếng nói của chính quyền Cọng hòa Dân chủ Bắc Việt. Ơ nơi mà hầu hết các chùa đã bị phá hủy thì các nhà sư bị ám sát hay bị Cọng sản đày ải trong cảnh nô lệ.

Ủy ban Liên Phái Bảo vệ Phật giáo đã dùng những đường lối tránh sự kiểm soát của chính quyền để gửi những lời cầu cứu hoàn toàn vu cáo đến các tổ chức Phật giáo thế giới, yêu cầu vận động với chính phủ của các quốc gia Phật giáo như Tích Lan và Cao Miên. Các chính phủ nầy đã kêu gọi Liên Hiệp quốc. Phần đông các hãng thông tấn đều thi nhau nhắc lại lời vu cáo nầy.

Những kẽ phiêu lưu trên trường chính trị quốc tế, vì tức giận Tổng thống Diệm từ chối không nhắm mắt tuân lệnh họ, cũng đã nắm lấy cơ hội tốt nầy để xúi giục một cuộc đảo chánh, lấy cớ là binh vực Phật giáo nhưng thật ra chỉ tìm cách lập một chính phủ Việt Nam chư hầu tuân theo ý muốn của họ. Như vậy họ cũng đã theo đuổi một đường lối chính trị song hành với phe Cọng sản là địch thủ của họ.

Theo báo chí, cuộc đảo chánh ở Việt Nam đáng lẽ phải xảy ra vào giũa tháng Chín. Nhưng lệnh Thiết quân luật đã được tuyên bố kịp thời để phá vỡ được kế hoạch của những kẻ âm mưu phá rối trật tự.

Vì lẽ gì Giáo hội Thiên Chúa ở Việt Nam lại phải chịu trách nhiệm về những sự rối loạn nầy ? Không vì một lẽ nào cả.

Thực vậy, trong 5 điều thỉnh cầu, Phật giáo đã muốn ám chỉ Thiên Chúa giáo được hưởng một địa vị đặc biệt ở Việt Nam vì được treo cờ Thiên Chúa giáo (tức là cờ Tòa thánh Vatican) một cách tự do bất cứ ở đâu (điều nầy sai lầm) – và được hưởng một chế độ ưu đãi do Dụ số 10 của ông Cựu hoàng Bảo Đại quy định vì Dụ nầy hứa sẽ qui định một chế độ đặc biệt cho Thiên Chúa giáo (“đặc biệt” không bắt buộc có nghĩa là rộng rãi hơn chế độ được qui định cho các tôn giáo khác – dù sao lời hứa nầy cũng chưa được thực hiện) – nhưng Phật giáo không hề tố cáo Thiên Chúa giáo, vì đối với tín ngưỡng chân thật của bất cứ tôn giáo nào, Thiên Chúa giáo bao giờ cũng nhìn bằng đôi mắt cảm tình. Ta hãy giả thiết rằng chính phủ do ông Ngô Đình Diệm là người Thiên Chúa giaó lãnh đạo có trách nhiệm trong việc đàn áp các tín đồ Phật giáo (điều đó còn cần phải được chứng minh) thì Giáo hội Thiên Chúa giáo ở Hoa Kỳ không phải chịu trách nhiệm về các sự lầm lẫn của Tổng thống Kennedy trong vụ Cu ba, vì lẽ ông là Công giáo.

Vì lẽ gì Giáo hội Thiên Chúa giáo lại phải đảm nhận trách nhiệm của những chính phủ do các người theo đạo Thiên Chúa lãnh đạo như De Gaulle, Adenauer, Franco, Salazar. Nhưng khốn thay, các nhà sư, bằng một sự tuyên truyền bí mật trong dân chúng, tố cáo các người theo Thiên Chúa giáo là thủ phạm trong sự tàn sát ở Huế. Các người không theo đạo Thiên Chúa cả tin vào sự khẳng định của những nhà từ bi này, sửa soạn tàn sát các người theo đạo Thiên Chúa trong các tỉnh Huế và Quảng Trị thuộc địa phận Tổng Giám mục của tôi khi nào xảy ra cuộc đảo chính, nhưng may thay cuộc đảo chính đã bị bóp bẹp trong trứng.

Như vậy, ai là kẻ đàn áp tôn giáo ? Tùy quý vị phán xét. Vai trò thông tin của tôi đến đây đã hoàn tất. Xin cảm ơn các quý vị đã quan tâm nghe tôi trình bày.

(Tài liệu trích từ "Sáu Tháng Pháp Nạn  1963" của Giáo sư Vũ Văn Mẫu, in giới hạn bằng Ronéo tại Việt Nam năm 1984, và được Nhà Xuất bản Giao Điểm tái bản tại nước ngoài năm 2003)

flash-5sac.gif (367 bytes) Chứng từ của Nguyễn khắc Từ (huynh trưởng GĐPT) đêm 8.5.63

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........