curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 
BẢN TUYÊN NGÔN
CỦA TĂNG TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
NGÀY 10-5-1963

(và hai Bản Phụ Đính và Phụ Trương)

      Một bản tuyên ngôn của Tăng Tín đồ Phật giáo Việt Nam đã được phổ biến vào ngày 10/5/1963 trong một cuộc mít-tinh của Phật tử tại chùa Từ Đàm. Bản Tuyên ngôn nầy đã ghi rõ đường lối ôn hòa nhưng cương quyết của Phật giáo để bảo vệ các nguyên tắc bình đẵng tôn giáo và tự do tín ngưỡng.

Sau đây là nội dung Bản Tuyên ngôn lịch sử của Phật giáo do Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam và năm ban trị sự Phật giáo đồng ký:

Bản Tuyên ngôn của Tăng, tín đồ Phật giáo Việt Nam

     Đã nhiều ngàn năm, Tăng và tín đồ Phật giáo thế giới cũng như trong nước đã trung thành với tôn chỉ: Từ bi, vị tha và chân thật của Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni.

Do đó, Phật giáo đến đâu đều đem lại một không khí  an lành ở đó.  Điều ấy lịch sử đã chứng minh một cách rõ ràng....Vì vậy, từ nhiều năm nay, dù Phật giáo đồ đã bị đàn áp và khủng bố khắp nơi nhưng chúng tôi vẫn nhẩn nhục, đương nhiên không phải hèn yếu mà vì ý thức được những nổi khổ đau tang tóc của hoàn cảnh dân tộc ta hiện tại. 

Nhưng đau đớn thay, một số người đã lợi dụng quyền hành gây ra không biết bao nhiêu tang tóc cho Tăng và Tín đồ Phật giáo khắp nước, đối xử bất công với một tôn giáo có hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc.

Từ hành động này đến manh tâm khác, thậm chí đã chà đạp lên quyền lợi thiêng liêng nhất của Phật giáo đồ:  cờ Phật giáo quốc tế bị triệt hạ.  Quyết định này là trái với Hiến pháp và ngang nhiên vi phạm quyền tự do tín ngưỡng.  Trước những hành động bất công đó, Tăng và Tín đồ Phật giáo khắp cả nước bắt buộc phải đứng dậy đấu tranh cho lý tưởng của mình.

Sự kiện xảy ra ba ngày nay chính là phản ảnh tinh thần đó.  Máu đã chảy, tính mạng đã bị hy sinh.  Một lần nữa, chúng tôi cương quyết đệ đạt nguyện vọng này lên Chính phủ, yêu cầu thực thi các điểm sau đây:

1 – Yêu cầu Chính phủ Việt Nam Cộng hòa thu hồi vĩnh viễn công điện triệt hạ giáo kỳ của Phật giáo.

2 – Yêu cầu Phật giáo phải được hưỡng một chế độ đặc biệt như các Hội Truyền giáo Thiên Chúa giáo đã dược ghi trong Dụ số 10.

3 – Yêu cầu Chính phủ chấm dứt tình trạng bắt bớ, khủng bố Tín đồ Phật giáo.

4 – Yêu cầu choTăng,Tín đồ Phật giáo được tự do hành đạo và truyền đạo.

5 – Yêu cầu Chính phủ đền bồi một cách xứng đáng cho những kẻ bị giết oan vô tội, và kẻ chủ mưu giết hại, phải đền tội đúng mức.

Những điểm trên đây là những nguyện vọng tối thiểu và thiết tha nhất của toàn thể Tăng và Tín đồ Phật giáo trong nước. Chúng tôi sẵn sàng hy sinh cho đến lúc nào năm nguyện vọng hợp lý trên đây được thực hiện

Phật lịch 2507 - Huế, ngày 10 tháng 5 năm 1963
 
- Hội chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam
  Ký tên:  Hòa thượng Tường Vân
- Ban Tổng tri sự Giáo hội Tăng già Trung phần
  Ký tên: Thích Mật Nguyện                                            
- Ban trị sự Hội Phật giáo Việt Nam tại Trung phần
  Ký tên: Thích trí Quang
- Ban trị sự giáo hội Tăng già Thừa Thiên   
  Ký tên:  Thích Mật Hiển                                                                                    
- Ban trị sự Tỉnh Hội Phật giáoThừa Thiên
  Ký tên: Thích Thiện Siêu

ĐOẠN III

Các Phụ đính của Bản Tuyên ngôn

Bản Tuyên ngôn của Phật giáo Việt Nam đã được gửi đến Tổng thống Ngô Đình Diệm với một Bản Phụ đính và một Phụ trương vào Bản Phụ đính.

Bản Bhụ đính ngày 23/5/1963 giải thích rõ thêm ba mục:
Quan điểm của Phật giáo Việt Nam.
Nguyện vọng của Phật giáo qua Bản Tuyên ngôn.
Những nguyện vọng cấp bách của Phật giáo.

Bản Phụ trương ngày 25/5/1963 nêu rõ sự đóng góp của Phật giáo đồ Việt Nam vào ích lợi Quốc gia, và lý tưởng đấu tranh của Phật giáo cho tôn giáo bình đẵng trong khuôn khổ công bình xã hội.

Sau đây là nguyên văn của hai tài liệu quan trọng này phản ảnh  quan điểm của Phật giáo.

I- Bản Phụ đính ngày 23/5/1963

Bản Tuyên ngôn” của Phật giáo Việt Nam đã được đọc trong cuộc hội nghị của Phật tử tại chùa Từ Đàm Huế ngày 10/5/1963.  Trước khi trình bày nguyện vọng của Phật giáo đồ Việt Nam qua Bản Tuyên ngôn, chúng tôi thấy cần phải giải thích quan điểm của Phật giáo.

1. Quan điểm của Phật giáo Việt Nam

1.1  Đối với chính phủ, chúng tôi không chủ trương lật đổ, chúng tôi chỉ có nguyện vọng “cải thiện chính sách”. Chúng tôi không nói đến vấn đề người !  Người nào đứng ra phụ trách chính phủ mà chính sách không cải thiện thì nguyện vọng của chúng tôi cũng không thỏa mãn.  Vì lẽ đó, quan điểm chúng tôi là ước mong chính quyền có thiện chí và khả năng cải thiện chính sách mà nguyện vọng Phật giáo Việt Nam đã công khai bày tỏ.

Chúng tôi cũng tuyên ngôn minh bạch rằng chúng tôi không nhằm mục đích tranh thủ quyền hành.  Nói thế có nghĩa là chúng tôi đã và sẽ mãi mãi tranh đấu cho Phật giáo thuần túy, nhưng không phải vì vậy mà Phật giáo đồ không quan tâm đóng góp vào ích lợi Quốc gia theo nghĩa vụ công dân của mình. Trái lại, Phật giáo đồ đã tích cực đóng góp những nghĩa vụ công dân, lợi ích quốc gia để – về phương diện tín ngưỡng- làm cho Phật giáo của mình phát triển và phát triển một cách thuần túy.

1.2  Không coi ai là kẻ thù:  Dĩ nhiên sự động cập khó mà tránh khỏi, nhưng chúng tôi tuyên bố không coi ai là kẻ thù, nhất là đối với đạo Thiên Chúa. Nhưng chúng tôi tranh đấu là tranh đấu cho lý tưởng công bình (và vì thế động cập đến đạo Thiên Chúa) chứ không phải tranh đấu với tư cách một tôn giáo chống với một tôn giáo.  Lẽ thứ hai, về tín ngưỡng, tuy chúng tôi không thừa nhận tôn giáo khác, sống gần hậu diệp  thế kỷ 20, chúng tôi cho rằng, bất cứ ai, kể cả chúng tôi, nếu cho tôn giáo mình có giá trị tuyệt đối và chỉ có tôn giáo mình mới đáng tồn tại thì đây là quan niệm sai lầm nhất.

1.3 Chỉ tranh đấu cho lý tưởng tôn giáo bình đẳng. Thế nào gọi là tôn giáo bình đẳng theo quan niệm của chúng tôi?

a) Các tôn giáo phải được xác định lại.  Quốc gia phải quy định thế nào là một tôn giáo xứng đáng được hưởng những chế độ đặc biệt.  Như thế có nghĩa rằng chúng tôi không thể chấp nhận đồng bóng, phù thủy v.v.. là tôn giáo được quốc gia thừa nhận (cũng như danh từ “Công giáo” không được dùng để gọi đạo Thiên Chúa).

b) Các tôn giáo được xác định sẽ cùng hưởng một chế độ “bình đẳng”, có nghĩa cùng được quan niệm có tư cách tôn giáo như nhau.  Nhưng bình đẳng là “bình trong đồng đẳng” , vì lẽ giá trị các tôn giáo khác nhau.

Tôn giáo bình đẳng là một điểm nổi nhất, thiêng liêng nhất, trong lý tưởng công bình xã hội.

Với các quan niệm tôn giáo bình đẳng như vậy, đối chiếu với tình trạng hiện hữu, chúng tôi bất mãn sự thiên vị của Đạo dụ số 10, cùng lúc cảm thấy “ngày trước, những người Cộng sản lợi dụng danh nghĩa chống ngoại xâm để tiêu diệt các đãng phái quốc gia thì ngày nay cũng có cái vẻ người Thiên Chúa lũng đoạn công việc chống Cộng sản để lấn áp các tôn giáo khác, nhất là Phật giáo chúng tôi”.  Đó là nguy cơ cho Quốc gia và chia rẽ tôn giáo. Vì lẽ đó, Phật giáo đồ chúng tôi đã phải công khai bày tỏ rõ rệt nguyện vọng của mình.  Và như thế, không những lý do mà phạm vi chúng tôi tranh đấu, cũng đã được ấn định rõ ràng. Với danh nghĩa Phật giáo, chúng tôi đang làm một việc tranh đấu cho lý tưởng “tôn giáo bình đẵng trong khuôn khổ của lý tưởng công bình xã hội”.

1.4  Phương pháp tranh đấu mà chúng tôi áp dụng

Phương pháp ấy là “bất bạo động”.  Chúng tôi ý thức rằng chúng tôi đang ở trong hoàn cảnh chính trị và quân sự cực kỳ phức tạp.  Chúng tôi, hơn thế nữa, phải thể hiện tư tưởng của Phật giáo ngay trong công cuộc đấu tranh của chúng tôi.  Vì những lý do đó, chúng tôi chấp nhận một sự hy sinh đến cùng độ và lấy chính sự hy sinh ấy làm sức mạnh để rung chuyển chính sách mà thôi.  Ngay từ bây giờ, chúng tôi có thể tuyên bố minh bạch rằng người Tăng sĩ của Phật giáo “là người sẳn sàng noi gương Ghandi, vị thánh của sức mạnhbất bạo động” và sẽ tranh đấu trong pham vi hợp pháp được ngần nào tốt ngần đó.  Nhưng tinh thần và phương pháp “bất bạo động” không phải chỉ có thế, nên chúng tôi sẳn sàng hy sinh đến cùng theo phương pháp này.

1.5  Không chấp nhận mọi sự lợi dụng:

Như đã trình bày hết sức rõ ràng:  Mục tiêu tranh đấu của Phật giáo đồ chỉ nhằm vào lý tưởng tôn giáo bình đẳng trong khuôn khổ lý tưởng công bình xã hội, vì lẽ đó chúng tôi từ chối mọi sự lợi dụng không phù hợp với tôn chỉ chúng tôi, nhất là những người Cộng sản và những kẻ mưu toan chức vị chính quyền.

2. Nguyện vọng của Phật giáo qua bản Tuyên ngôn:

2.1 Nguyện vọng thứ nhất:

Yêu cầu chính phủ Việt Nam Cộng hòa thu hồi vĩnh viển công điện triệt hạ giáo kỳ của Phật giáo.”  Chúng tôi phải nói tiên quyết rằng:  Nguyện vọng này không chứa đựng sự phủ nhận Quốc kỳ.  Chúng tôi tuyên bố và thừa nhận Quốc kỳ.  Nhưng chúng tôi  chỉ phản đối sự hạn chế của Bộ Nội vụ vừa qua và của văn phòng Tổng thống vừa rồi đối với giáo kỳ của các tôn giáo mà Phật giáo phải chịu đầu tiên nhân ngày Phật đản.

Nguyện vọng của chúng tôi dựa trên quan niệm Quốc kỳ hết sức trọng đại nên các cơ quan tôn giáo và mọi tư gia đều phải và chỉ treo lên trong những ngày đại lễ của Quốc gia, còn giáo kỳ dù sao cũng chỉ là một tôn giáo nên chỉ được treo lên tại cơ quan tôn giáo và tư gia tín đồ sở quan, trong những ngày đại lễ của tôn giáo ấy.  Dĩ nhiên cái chổ treo lên nói trên đây là của chính các cơ quan, tôn giáo và tư gia.  Cùng một quan niệm đó, chúng tôi thiết nghĩ trong đòan kiệu rước của tôn giáo chỉ mang giáo kỳ, cũng như xe nhân vật quan trọng mà các tôn giáo tự ấn định, thì cũng chỉ được mang giáo kỳ.

 Nguyện vọng thứ hai:

“Yêu cầu Phật giáo phải được hưỡng một chế độ đặc biệt như các Hội truyền giáo Thiên Chúa đã được ghi trong đạo Dụ số 10”.  Điều này chúng tôi phải trình bày bằng ba mục tiêu như sau:  Trước hết chúng tôi nói chi tiết , kế nói đại thể, sau hết là nguyện vọng sửa đổi của chúng tôi.

 a) Nói về chi tiết đạo Dụ số 10 có những nét chính mà chúng tôi phản đối như sau:

- Qua điều số 1, đạo Dụ số 10 đó liệt kê các tôn giáo (trừ Thiên Chúa và Gia Tô) như tất cả các hiệp hội thường của tất cả các tầng lớp nhân dân:  tôn giáo được xem như (vàcó thể thua bởi điều 14 và tính chất gọi là “lợi ích chung” của Dụ ấy) những hội tiêu khiển, thể thao, bất kể đến nếp sống khác biệt cách nào của tôn giáo !

- Qua điều thứ 7, giấy phép của các hiệp hội tôn giáo “có quyền bác khước đi không cho phép lập hội mà không phải nói lý do, phép cho rồi có thể bãi đi vì trái điều lệ, hay vì lẽ trị an” là từ ngữ không giới hạn nào rõ rệt và đã bị lợi dụng quá đáng kể từ ngày người Pháp trở lại Việt Nam cho đến bây giờ. Ấy là chưa nói rằng, nếu thế gian này có cái gì được gọi là vĩnh viễn thì cái đó là tôn giáo, vậy mà tôn giáo lại bị ghép vào hiệp hội.  Với giấy phép cho và bãi một cách cực kỳ đơn giản như trên !

- Qua các điều 10, nhất là điều 12, tôn giáo bị kiểm soát một cách cực kỳ nghiêm khắc, và bởi bất cứ nhân viên nào của hành chánh và tư pháp.  Cũng may mà sự kiện này, các tôn giáo đã không bị thi hành một cách quá đáng, nếu bị, thì còn gì là tư cách và thể thống Quốc gia.

- Qua hai đoạn sau của điều 14 và điều 28, tài sản tôn giáo và tính chất cố hữu của nó là “lạc cúng” để thực hiện việc truyền đạo linh thiêng và vô cùng, thì trái lại, chỉ có được số tiền đóng góp phải định trong điều lệ và chỉ có quyền sỡ hữu chủ các bất động sản cần thiết, các bất động sản khác phải đem bán đấu giá. Gần đây, thậm chí quyền tạo mãi bất động sản và sự nhận lạc cúng bất động sản, dầu bé nhỏ đến đâu, cũng phải được sự cho phép của Tổng thống, do công văn số 166-TTP/TTK/1 ngày 23/9/1960 của Tòa Tổng thư ký của Phủ Tổng thống.

- Qua các điều 18,19 và nhất là 25, 26, và 27, Dụ số 10 trái ngược với tính chất căn bản của tôn giáo, dựa trên đức tính thuần chính và sự tiến bộ về đời sống tâm linh của tôn giáo.  Không phải, và không thể, do bầu cử mà người được bầu cử thành một tín đồ hay một tu sĩ.  Nhưng đạo Dụ số 10 đặt các tôn giáo và các căn bản hiệp hội là đại hội đồng bầu cử và quyết định mọi việc.

Với tính chất đặt các tôn giáo vào phạm vi  hiệp hội, đạo Dụ số 10 triệt hạ hết thảy tôn giáo. “May mắn” thay còn có điều 44 ghi rằng “Chế độ đặc biệt cho các Hội truyền giáo Thiên chúa và Gia tô”.  Nhưng cái may mắn ấy chứng tỏ một sự thiên vị cực kỳ vô lý  kể cả mọi phương diện, nhất về cái gọi là  giặc chia rẽ” mà chính phủ hiện tại đã và đang quyết liệt đã kích.

b) Bây giờ chúng tôi nói đến cái vô lý đại thể của đạo Dụ số 10:

- Trước tiên, đạo Dụ số 10 có từ năm 1950 dưới chế độ Quốc trưỡng.  Nếu chế độ chỉ được thay người mà không phải thay đổi bằng chế độ Tổng thống thì đạo Dụ số 10 được áp dụng, điều đó, chúng tôi không ngạc nhiên.  Hoặc giả nó được công nhận còn hữu hiệu mà áp dụng thì còn ngạc nhiên.   Đằng này một chế độ đã bị đánh đổ, một đạo luật của chế độ đó không còn minh thị công nhận, vậy mà vẫn còn chiếu chỉ áp dụng cho tất cả các tôn giáo, đó là căn bản pháp lý mà chúng tôi thấy cực kỳ mâu thuẩn.

- Theo điều 44 của Dụ số 10, sẽ có “chế độ đặc biệt cho các Hội truyền giáo Thiên chúa và Gia tô” nhưng từ năm 1950 cho đến bây giờ, vẫn chưa thấy quy định và ban hành. Như vậy, một mặt chứng tỏ tính chất dung túng và thiên vị các Hội truyền giáo này một cách vô lý, mặt khác, làm cho Thiên Chúa giáo và Gia Tô giáo ở mãi trong tình trạng, nếu không phải là căn bản pháp lý không có, thì phải gọi là tồn tại trên căn bản pháp lý của chính thực dân Pháp !

c) Do đó nguyện vọng của chúng tôi như sau:

- Hãy rút các tôn giáo, kể cả Thiên Chúa giáo và Gia tô giáo, ra khỏi phạm vi ràng buộc hay thiên vị của đạo Dụ số 10.

- Hãy ban hành một chế độ đặc biệt cho các tôn giáo trong đó có Phật giáo, Thiên Chúa giáo và Gia tô.

- Nếu ghi một “chế độ đặc biệt” với các ý thức trọng thị thì phải ghi “chế độ đặc biệt cho các tôn giáo trong đó có Phật giáo, Thiên chúa giáo và Gia tô!”

2.3 Nguyện vọng thứ ba:

“Yêu cầu chính phủ chấm dứt tình trạng bắt bớ, khủng bố tín đồ Phật giáo. 

2.4 Nguyện vọng thứ tư:

“Yêu cầu cho Tăng, Tín đồ Phật giáo dược tự do truyền đạo và hành đạo”.  Hai điểm này, trên minh văn giấy tờ hay chủ trương công khai của chính phủ thì dĩ nhiên không có sự khủng bố Phật giáo và không có trở ngại sự truyền đạo của Phật giáo, nhưng tình trạng sau đây thì thực là nặng nề: ấy là sự thi hành lệch lạc chính sách của Chính phủ !  Tình trạng ấy cục bộ nhưng đã xảy ra nhiều nơi,  có nhiều lúc đã tạo thành sự thực hiển nhiên là ngày nay ai cũng cảm thấy chứ không phải chỉ nhận thấy mà thôi, rằng “Phật giáo bị kỳ thị thật sự”.

Vì vậy nguyện vọng của chúng tôi là yêu cầu Tổng thống chỉ thị bằng minh lệnh cho tất cả các cấp bậc chính quyền hãy thi hành nghiêm chỉnh chính sách tự do tín ngưỡng và chính sách đoàn kết tôn giáo mà Chính phủ chủ trương. Nhất là Tổng thống đặc biệt lưu tâm kiểm tra sự chấp hành minh lệnh của Tổng thống, trừng trị xứng đáng những kẻ lợi dụng quyền hành để kỳ thị lấn áp kẻ khác, chấm dứt tình trạng tự động ở các địa phương núp sau chiêu bài chống Cộng để gây tang tóc cho dân chúng.  Nếu sự lệch lạc chính sách vẫn được dung túng thì cái tình trạng lợi dụng danh nghĩa chống Cộng sản để phát triển Thiên Chúa giáo và lấn áp Phật giáo, tạo ra một tình trạng chia rẽ ngày càng trầm trọng thì ngay bây giờ và mai hậu, chỉ người Cộng sản có lợi mà thôi.

Ở điểm này, chúng tôi yêu cầu Tổng thống lập ra một hệ thống thanh tra chính xác vô tư để tha ra những Phật tử đã bị bắt bớ chỉ vì lý do tín ngưỡng. Điển hình như những vụ ở Phú Yên, Quãng Ngãi, Bình Định v.v..mà hồ sơ liên hệ chúng tôi đã gỡi lên Tổng thống và Quốc hội đề ngày 20/2/1962, và chấm dứt tình trạng trả thù, bắt cóc, thủ tiêu. Trong trường hợp tội trạng nếu có thì phải được xử theo luật lệ minh bạch của Quốc gia.

2.5 Nguyện vọng thứ năm:

Yêu cầu Chính phủ bồi thường một cách xứng đáng cho những kẻ chết oan vô tội và kẻ chủ mưu giết hại phải đền bồi đúng mức. Điều này là chúng tôi nói đến những người thiệt mạng tại Đài phát thanh Huế.   Họ chết trong lòng cuộc đấu tranh công khai của Phật giáo nên họ được Phật giáo gọi là “Thánh tử vì Đạo” của mình.  Nhưng như thế chưa đủ.  Họ phải được đền bồi xứng đáng về phương diện vật chất, và kẻ chủ mưu giết hại phải bị truy tố (dầu cho chúng tôi đứng mặt nguyên cáo, chúng tôi xin Chính phủ tha tội cho họ) bởi vì chúng tôi quan niệm mọi việc xảy ra bất cứ ở đâu và dưới hình thức nào trong lãnh vực Việt Nam Cộng hòa, trách nhiệm vẫn ở Chính phủ: trách niệm giữ gìn an ninh cho Quốc gia và đồng bào.

Nói tổng quát, nguyện vọng của Phật giáo Việt Nam như đã nói là “cải thiện chính sách’ như sau:

- Đối với nguyện vọng 1 và 2 thì yêu cầu cải thiện bằng cách sửa đổi giấy tờ và thực thi nghiêm chỉnh.

- Đối với nguyện vọng 3 và 4 thì yêu cầu cải thiện bằng cách ra lệnh và lập hệ thống thanh tra để kiểm soát chặt chẻ sự thi hành mệnh lệnh cho các cấp chính quyền hạ tầng phải chấp hành nghiêm chỉnh chính sách tự do tín ngưỡng và chính sách đoàn kết tôn giáo của Chính phủ.

- Đối với nguyện vọng 5 thì truy tố thủ phạm gây ra chết chóc tại Đài Phát thanh Huế và làm thỏa mãn gia quyến các nạn nhân của vụ đó.

3. Những nguyện vọng cấp bách của Phật giáo Việt Nam:

Yêu cầu Tổng thống và Chính phủ cứu xét Bản Tuyên

ngôn và Bản Phụ đính của chúng tôi, và trong một thời gian càng sớm càng tốt, thỏa mãn nguyện vọng chính đáng của Phật giáo Việt Nam.  Sự thỏa mãn ấy là Chính phủ có minh văn và công bố trên những cơ quan chính thức.

Yêu cầu Tổng thống ra lệnh không bắt bớ, trả thù

quần chúng Phật giáo trong vụ công khai tranh đấu này bởi vì chỉ làm việc đạt đạo nguyện vọng của họ theo phương thức tranh đấu thường lệ.

3.3 Nếu những nguyện vọng ghi trên bản Tuyên ngôn và hai nguyện vong cấp bách trên đây được thỏa mãn, từ lý thuyết văn kiện cho đến thực thi, thì chính quần chúng Phật giáo Việt Nam sẽ công khai hoan hô Tổng thống và Chính phủ, như đã công khai tranh đấu cho nguyện vọng của họ vậy.

Chúng tôi quan niệm và tin tưởng Tổng thống là chức vụ “do dân, vì dân và cho dân”, cho nên chúng tôi không có ý nghĩ đạo đạt nguyện vọng của mình ra là yêu sách. Đối

lại, chúng tôi quan niệm rằng Tổng thống và Chính phủ thõa mản nguyện vọng của chúng tôi là “vì dân và cho dân” chứ không phải nhượng bộ.

Với tất cả ý niệm hợp lý và chân thành này, chúng tôi ước mong Tổng thống giải quyết thích đáng nguyện vọng của Phật giáo gồm có quãng đại quần chúng Việt Nam.

Huế ngày 23 tháng 5 năm 1963
 
Hội Chủ Tộng hội Phật giáo Việt Nam
Ký tên: TT Thích Tịnh Khiết
Trị sự trưởng Tri sự  Giáo hội Tăng Già Trung Phần 
Ký tên: TT Thích Mật Nguyên                                                                              
Hội trưởng Tổng trị sự Hội Phật giáo Việt Nam tại Trung Phần
Ký tên: TT Thích Trí Quang                                                                                                     
Trị sự Trưởng ban Trị sự  Giáo hội Tăng già Thừa Thiên    
Ký tên: TT Thích Mật Hiển                                                                          
Hội trưởng Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên
Ký tên: TT Thích Thiện Siêu                                                                     

II. Phụ trương “Bản Phụ đính về Bản Tuyên ngôn”  của Phật giáo Việt Nam.

Phụ trương này trước hết nói thêm về sự đóng góp của Phật giáo đồ Việt Nam vào ích lợi Quốc gia và lý tưởng đấu tranh của Phật giáo đồ liên hệ đến ích lợi của Quốc gia như thế nào.

Đất nước Việt Nam ta, kể từ thời đại lập quốc, tự chủ cho tới thể kỷ 18, Phật giáo đã đóng góp duy nhất và nhiều nhất – theo nghĩa vụ tôn giáo – vào lợi ích quốc gia kể cả phương diện văn hóa, nghệ thuật, chính trị, quân sự, kiến thiết, quốc sách và dân sinh.  Những vị danh tăng và cư sĩ ghi tên tuổi vào lịch sử của dân tộc là những tên tuổi bậc nhất và xứng đáng nhất.  Những nét tư tưởng thuần túy và cao cả của dân tộc biểu lộ qua tâm hồn, sinh hoạt và nhất là những phong dao tục ngữ, những văn hóa “Thiền khuynh” chiếm đến hơn một phần ba chương trình Văn học và Văn học sử đại học Việt Nam. Sau hết, những ngôi chùa làng đầy rẫy, những ngôi quốc tự đồ sộ, nhất là những kiến trúc danh tiếng và liên hệ đến công cuộc kháng chiến kiến quốc của một quốc gia suốt thời kỳ độc lập hùng cường còn sờ sờ ra đấy, một mặt chứng tỏ lòng sùng mộ của dân tộc, một mặt chứng tỏ địa vị của Phật giáo.  Nhưng một mặt nữa chứng tỏ sự đóng góp sâu rộng của Phật giáo đồ vào lợi ích Quốc gia, không phải một sớm một chiều như kẻ khác.

Gần đây có những kẻ cho rằng Phật giáo tiêu cực, thiếu đóng góp. Họ nói thế là vì họ không thấy bóng dáng tăng sĩ Phật giáo trong các bịnh viện, học đường, trong quân đội, trong công sở.  Nhưng họ biết đâu nếu đóng góp cách đó thì chỉ là khuynh loát và lợi dụng mà thôi ! Chúng tôi quan niệm tôn giáo có nghĩa vụ tôn giáo: tôn giáo phải đem tư tưởng của mình thấm nhuần vào con người rồi cùng con người thấm nhuần tư tưởng tôn giáo đó sẽ thực thi ra nơi hành động của họ. Nhờ vậy, họ sẽ đóng góp vào lợi ích quốc gia một cách tích cực và chân chính thiện chí, công tâm, nói tóm lại thể hiện tư tưởng tôn giáo mà họ thấm nhuần.  Như thế mới gọi là đóng góp của Phật giáo.

Còn trái lai, lấy của Quốc gia làm của mình , lấy công dân chúng làm công của mình, rồi cái công ấy gọi là công của tôn giáo mình thì đó là nguyên nhân sâu xa nhất mà nhân dân Việt Nam bất phục và không ích lợi gì cho dân tộc cũng như chính quyền cả.

Chúng tôi cần nói rõ ràng rằng, qua lịch sữ, Tăng sĩ của Phật giáo Việt Nam đã từng làm Tăng Thống, đã kinh luân mọi việc quân quốc trọng sự, vậy mà chẵng để lại một dấu vết oán than nào vì họ chẵng lợi dụng và khuynh loát chính quyền để tự phát triển tôn giáo mình và lấn áp ai.  Chúng tôi quan niệm rằng đó là truyền thống tốt đẹp, đáng mến và xứng đáng phong độ tôn giáo chân chính. Chúng tôi bất mãn và thấy rõ quần chúng oán ghét thật sự cái lối giáo quyền khuynh loát chính quyền.  Cho nên Tăng Già của Phật giáo Việt Nam chỉ và đã hướng dẫn Phật giáo đồ đóng góp gần như vô điều kiện cho lợi ích Quốc gia.

Không nói đâu xa, hãy nói tình trạng Quốc gia trong mấy năm gần đây. Ai là kẻ chết nhiều nhất cho chính nghĩa? Ai đã góp sức góp công, góp xương máu nhiều nhất cho công cuộc chống ngoại xâm và cách mạng cho dân tộc?   Ai đã chết ngoài mặt trận nhiều hơn là có quyền hành tại bàn giấy và trong thành phố?  Ai đã và đang làm sự đóng góp này nhiều nhất nhưng trái lại chẳng hề muốn  biết đến ngoại viện, chẵng mưu toan gì  chính quyền, lại bị ra mặt lấn áp về tín ngưỡng.  Ai, nếu không phải là Phật giáo đồ Việt nam?  Tuy nhiên, nếu Phật giáo Việt Nam chẵng hề ấm ức và ganh tị về ngoại viện và quyền vị.  Phật giáo Việt Nam chỉ  cần “tự lực hành đạo”“đóng góp theo tư tưởng tôn giáo chân chính”.  Nhưng sự đời chẵng để cho như ý nguyện! Phải chăng càng bị lấn áp, càng đóng góp thì càng bị lợi dụng, trong khi đó tín ngưỡng linh thiêng của Phật giáo đồ Việt Nam bị khinh thị ra mặt, thậm chí đã bị cưỡng bức bỏ Phật Giáo, đã không dám đàng hoàng tư xưng là “Phật tử.”

Đó là tình trạng nếu không được Phật giáo đồ đứng lên công khai tranh đấu để cải thiện thì nhân tâm ly tán, Quốc gia sụp đổ.

Do đó, lý tưởng tranh đấu của Phật giáo Việt Nam đã ghi minh bạch là “Tôn giáo bình đẵng trong khuôn khổ của lý tưởng công bình xã hội”.  Nói như thế là chúng tôi đã liên hệ lý tưởng của mình đến lý tưởng  của dân tộc, đến ích lợi chân chính của Quốc gia.

Một xã hội có thể sống được phải là một xã hội có những công bình  tối thiểu, ít nhất là phải có sự tín ngưỡng bình đẵng, công bình xã hội, cố nhiên là phải kể đủ thứ bình đẳng, bình đẳng văn hóa, chính trị kinh tế v.v..  Thế nhưng nói thế thì đã quá xa phạm vi tín ngưỡng và nhất là chẳng phải một giới quần chúng tranh đấu thực hiện, dầu cho giới đó chiếm hết 80% dân chúng như đã được công khai xác nhận.  Thế nên, nhân danh Phật giáo bây giờ, chúng tôi chỉ mới nói đến cái lý tưởng tôn giáo bình đẳng trong khuôn khổ của lý tưởng công bình xã hội.

Tôn giáo bình đẵng càng là một lý tưởng linh thiêng bao nhiêu thì lại càng chẳng mất mát của ai một chút quyền lợi, sứt mẻ của ai một chút chức vị.  Vậy mà lý tưởng ấy không được thực hiện thích đáng thì trong xã hội này, danh từ “công bình” và “tiến bộ” chỉ nên vĩnh viễn cất vào trong tự điển mà thôi.  Cho nên, tranh đấu cho lý tưởng công bình xã hội, và do đó, người ta phải thấy trước cuộc đấu tranh này rất quan trọng và đáng quan tâm.

Cũng chỉ vì ý thức ấy, nhưng là ý thức lợi ích Quốc gia, lý tưởng tôn giáo bình đẵng rất liên hệ đến lý tưởng công bình xã hội nên Phật giáo Việt Nam cực kỳ thận trọng trong công việc của mình.  Phật giáo Việt Nam ý thức mình ở trong tình trạng chính trị và quân sự cực kỳ phức tạp, bao kẻ lợi dụng xuyên tạc và thủ lợi không phải không có và có không ít.  Phương pháp bất bạo động được Phật giáo chấp nhận là xuất từ ý thức này.  Nhưng phương pháp bất bạo động chẳng phải chỉ một chiều, nên Phật giáo đồ Việt Nam – nhất là Tăng sĩ Phật giáo  - sẳn sàng hy sinh bản thân để thực hiện nguyện vọng của Phật giáo, ý thức rằng nguyện vọng ấy đã liên hệ sâu xa  với nguyện vọng của Dân tộc.

Huế, ngày 25 tháng 5 năm 1963
Văn phòng Đại diện 5 cấp Trị sự Phật giáo Toàn quốc, Trung Phần, Thừa Thiên.

Mark_03.gif (833 bytes) Về lại trang Nghiên cứu & đối thoại tháng 5-2003

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........
height="74">

© Giao Điểm Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net . ..........