curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 
63_klan.JPG (56683 bytes)
(Đoạn hồi ký trích từ  Phượng trên trời, Hải đường dưới đất)

Lời người viết : 1963 đã đánh dấu một chặng đường tuổi trẻ làm nền cho thao thức dấn thân của cả đời người, cho nên 1963 khó quên... hay không thể quên ! Những ngày tháng ấy từ đó là hành trang dấu trong túi-áo-bên-tim mang theo trên đường đi 40 năm. Phong ba đã lắm, gian truân cũng nhiều cho tất cả những ai thời ấy. “Mày ngài chìm đắm trong cát bụi”  [i] dặm trường, bạn bè kẻ còn người mất. Rốt cùng chỉ còn lại hai chữ “vô thường”...  Hồi ký này cố gắng ghi lại những ngày tháng ấy một cách trung thực, nhưng thời gian như cơn nước cuốn, có thể lực bất tòng tâm, trong vài trường hợp vì tôn trọng sự cẩn mật cá nhân nên tên đưọc viết tắt, nhưng tính cách và sự kiện vẫn không thay đổi. Vì đoạn hồi ký này chỉ là một phần trích dẫn, nên các tiểu mục có thể thay đổi khi in thành sách. TKL.

   Gia nhập Đoàn Sinh Viên Phật Tử

1. Thời khóa biểu một ngày...

      Tôi đã vào Đoàn Sinh Viên Phật tử Huế cũng ngẫu nhiên như con chuồn chuồn kim đang bay tình cờ đáp lại trên một lá sen trong muôn vàn lá sen lao xao trong hồ Tịnh.

Một ngày Huế muà đông, trời không mưa, lạnh se với một chút nắng len qua cửa sổ.   Một ngày chủ nhật êm ả – thời gian chậm rãi trải ra mơ hồ như những sợi tơ nắng la đà đùa nhau với bóng lá cây mẫn cầu trong sân trong.

Một ngày chủ nhật rất thường như  trăm ngày mùa đông khác, có một chút buồn nhẹ trên ngọn cây bàng trước ngõ, nhưng không đìu hiu... và thời gian đi rất chậm như hòa với không gian yên tĩnh của Huế còn rất xưa cũ... Khi nhớ về thời khóa biểu của một ngày thuở ấy, tưởng như  đang xem một cuốn phim quay chậm, mỗi động tác của nhân vật như  được tháo ra từng mảnh để nhìn, thật rõ... và ngạc nhiên mà nhận ra mỗi cử động đều có một chút tĩnh lặng uể oải sầu đông.  Nói theo kiểu ngày nay - pha lẫn vị “thiền”... Nhớ  buổi sáng hôm ấy được mẹ nấu nước gột đầu bằng chùm kết và hoa mộc, rồi vừa ngồi nơi cửa sổ hong tóc trong nắng (thuở ấy máy sấy tóc là một hiếm hoi, nên ánh nắng còn là ân sủng mùa đông ở Huế) vừa học ôn bài vở cho ngày thứ hai. Buổi trưa ăn cơm – lúc nào cũng ngon vì mẹ nấu  trong không khí nhẹ nhàng ít lời, sau giấc nghỉ trưa lại cắm cúi ở bàn viết... Hình như  “HỌC” và đọc sách đã là một nghề riêng tây của tôi trong gia đình mà mẹ tôi là người sùng thượng công việc ấy như chính lý tưởng của mình.

Vào buổi xế trưa, tình cờ ngẩng đầu lên nhìn ra sân, bỗng thấy tiếc chút nắng cuối cùng nhợt nhạt trên hàng cột trong nhà ‘vỏ cua’, và nghiệm ra mình đã ngồi khá lâu nơi bàn viết... chợt thèm một lời trao đổi vu vơ với một đứa bạn gái, tôi đứng lên xếp sách, mặc áo xin mẹ đi dạo.

Thuở ấy bạn bè muốn gặp nhau thường hay tự thân đến tận nhà, không thể báo trước bằng điện thoại như ngày nay, cứ đi gặp may, có đứa bạn ở nhà là kéo đi, rồi hai thành ba, ba thành bốn, một lũ con gái chơi với nhau chí thiết, ít kiểu cách rườm rà...

Nắng còn chuốt mượt mà trên bến sông  Bạch Đằng khi tôi dắt chiếc xe vê-lô xô-lếch (vélo solex) ra khỏi nhà. Dạo ấy con gái đi vê-lô là một dạng “lên lớp” từ học trò lên đến sinh viên, từ xe đạp lên xe gắn máy, dấu hiệu tân tiến nơi chốn cố đô bảo thủ một thời. Ngày tôi vào dự bị Đại học, mẹ và chị thưởng cho tôi chiếc xe gắn máy thay chiếc xe đạp lọc cọc của thời học sinh. Tôi chỉ thích chiếc xe vì nó đã đưa tôi đi lang thang qua nhiều ngõ đường của Huế ít tốn thì giờ hơn đi xe đạp hay đi bộ.  Với nó, tôi có thể chạy “đạp thanh” các con đường ưa thích trong một hay hai tiếng đồng hồ và tha hồ ngắm nhìn phong cảnh thỏa thích.

Ngồi lên xe rồ máy, gác hai chân lên thành xe, tôi thả rong để chiếc xe... đưa đi mặc tình gió cuốn... Lối đi dạo kiểu Huế thời ấy là thế! Người đi hầu như không chủ động ý của mình cũng như con đường mình đi, mà cỏ cây, đá sỏi, ánh nắng, gió, mây, hương thơm, bóng núi, tiếng chim, lối rẻ vào ngõ sâu, hay khúc quanh của dòng sông mời gọi cuốn hút người đi, cứ đi... đi vu vơ mà chẳng bao giờ cần đến...

 Cho nên mặc dù tôi định đến rủ TM ở đường Chi Lăng, chiếc xe đã rẽ vào hẻm cầu Đông Ba, đáng lẽ rẻ chếch tay mặt đến đường Ngự Viên, bỗng nhiên ngoặc lên dốc cầu, lọc tọc qua chiếc cầu sắt đen mỏng mảnh, xuống dốc đi vào Thành Nội. Xuân-hạ-thu-đông, Đại Nội vẫn là nơi tôi hay đến, khi buồn cũng như khi vui, lắm khi chỉ để xem sen trong hồ trước điện Thái Hòa đã nở hay đã tàn, hay chỉ để lượm vài bông sứ rơi trên những lối đi “xe ngựa hồn thu thảo”, hoặc đứng yên bên hồ lắng nghe nỗi im lặng thâm u của thành quách lâu đài thiên cổ. Thuở ấy xe có thể đi thẳng vào cửa Ngọ Môn hay cửa Hiển Nhơn mà không bị ngăn cản như dạo sau này.

Sau khi Cựu hoàng Bảo Đại bị chính đình thần của ông là Ngô Đình Diệm truất phế, bà Từ Cung (mẹ Cựu hoàng) ra ở cung An Định, Đại Nội trở nên một di tích thắng cảnh Cố Đô cho mọi người.

Hôm ấy, tôi lấy chiếc vélo lượn một vòng Đại Nội như một lễ nghi bắt đầu mỗi cuộc đi dạo... rồi chạy qua cửa Thượng Tứ, rẽ trái về phía cầu Trường Tiền, xe qua cầu gió vi vút lạnh.  Dưới chân là Đại học Văn khoa - trước đây là khu Morin của đại phú gia Nguyễn Văn Yến (một nạn nhân của Ngô triều vì tội giàu có của ông) sừng sững trước mặt, tôi cho xe quẹo từ từ xuống đường Lê Lợi rồi rẽ vào phía nhà thuốc Lê Đình Phòng để đi đến con đường mà lũ con gái chúng tôi thời ấy gọi là đường của những kẻ tình nhân.  Tiếng Tây nôm na là “promenade des amoureux”, gọi là có vẻ “Tây” với nhau một chút cho đỡ buồn hay cho đúng “mốt” thời thượng chuộng tây của dân trí thức thời ấy. Con đường rộng thoáng, vẻ hoang vu  man dã với hai hàng đoát cao vút bơ sờ, chải gió bốn mùa trống trải. Xe tôi chầm chậm lướt qua, chẳng thấy có cặp tình nhân nào dẫn nhau đi... Tôi nghĩ, “đứa mô  sáng kiến đặt tên ni chắc óc tưởng tượng mơ mộng kiểu Valse dans l’ ombre hơi nhiều !”.

Phóng xe loanh quanh đến đụng cầu Bến Ngự, tôi rẻ xuống đường bên kia cầu, định tạt qua rủ B.Diễm cùng đi nốt mấy con đường, nhưng B.Diễm không có nhà, quày xe lên dốc Nam Giao định đến rừng thông Đàn Nam Giao nghe gió thổi... Gió đang mát lạnh trên mái tóc bay bay... tôi ngưỡng mặt hứng cơn gió lạnh, thấy mình... phóng khoáng... và... hiện hữu “ở đây và bây giờ” quá! - nói theo kiểu Heidegger và Sartre, hai triết gia khai sinh chủ thuyết hiện sinh đang sôi nổi thời ấy, mà tôi đang “cày”  trong chương trình Triết của tôi và ít nhiều trong tư tưởng cũng bị ảnh hưởng. Dạo ấy phải nói rằng tuổi trẻ chúng tôi đang theo phong trào Tây phương, muốn bỏ mốt cũ theo mốt mới, sẵn sàng làm những thứ mà bà cô Thượng của chúng tôi thường chê trách là thiếu thẩm mỹ và mọi rợ như cắt tóc uốn quăn như lá “đu đủ úp lên đầu” (chữ của bà cô); con gái mà đi xe đạp, xe gắn máy là hư  v.v. và v.v.   Chúng tôi thích nghe các giọng hát của F. Hardy, Sylvie Vartan hơn là hát bội, thích đi cinê nhiều hơn đến chùa, thích nghe nhạc mới hơn ca Huế, Cải lương... Hình như lúc ấy, tôi đang tập nhìn đời bằng nửa con mắt, đang xem mơ mộng giá trị gấp trăm lần thực tế, thích cô đơn hơn đám đông và ưa “lập dị” với một chút ngược đời lãng mạn như ... ngẩng mặt hóng gió trời hơn là thêu thùa vá may... và bay trên xe... như  tôi đang lái chiếc xe vê-lô đang trên đà lên dốc...

Vừa lên quá dốc, từ xa đã thấy ngọn cây Bồ Đề với lá xanh tươi nhân hậu của chùa Từ Đàm, xe vừa chạy chưa qua khỏi chùa, tôi sực nhớ “thôi chết rồi, cái giấy mời đi họp!”.

2. Vào đoàn

 Mấy hôm trước đó, trong lúc tôi đang ngồi nghe Linh mục Trần Thái Đỉnh vừa dịch từ tiếng Pháp vừa giảng đầy khó nhọc một chương trong “Phê bình lý trí thuần túy” (Critique de la raison pure) của triết gia người Đức Immanuel Kant, thấy có ai chuyền đến một bì thư mềm trong có tờ giấy pơ-luya mỏng, mực nhòe. Thư viết: “mời chị Kim Lan đến chùa Từ Đàm lúc 2 giờ rưỡi chiều, họp buổi thành lập Đoàn Sinh Viên Phật Tử Huế”.  Tôi xem qua, kẹp tờ giấy mời trong cuốn sách, rồi quên khuấy. Hôm qua cũng có người chạy qua nhắn, hình như là Phan Chánh Đông, nhà ở đối diện bên kia sông Bạch Đằng, rằng “Kim Lan đừng quên đi họp ngày mai!”  Vậy mà tôi đã quên, vì quả tình tôi - như đã nói, đang lập dị, đang thích cô đơn hơn là hội hè đình đám.

Trong bụng còn ngần ngừ : “có nên vào hay không? e họ đã họp xong rồi?”... nhưng tôi chợt nhớ đến thầy Văn Đình Hy, người viết giấy mời, là thầy dạy văn năm đệ nhất - chồng của chị Tịnh Nhơn, cô giáo dạy văn ở trung học, là những người rất thương tôi... “nếu không đi họp lần sau gặp Thầy răng cũng bị bố một trận!”, nghĩ tới đó, tôi quyết định liều mạng vác cái mặt “chuyên môn đi trể“ đã nổi tiếng từ thời trung học của tôi vào phòng họp.

Phòng họp nằm sát tầng cấp lên chùa phía tay phải, nhỏ bé, ẩm thấp, trang trí đơn sơ, thuộc vào gian nhà mới xây thêm của chùa dùng để cho gia đình Phật tử và cư sĩ Phật Tử sinh hoạt. Mọi người đang ngồi quanh chiếc bàn dài “ồ” lên một tiếng khi tôi bước vào. Tôi nghe chừng như trong tiếng “ồ” ấy mang nhiều giọng nhấn khác nhau, vừa trách vừa chế diễu cái tội đi trể nhưng cũng đầy tha thứ mừng vui chào người mới đến. Lúng túng chưa kịp vuốt mái tóc còn say gió rối tung, tôi vừa ngồi xuống ghế, thì đã nghe anh Hy nối lời: “Kim Lan đến trể nhưng cũng còn kịp, anh em đang bầu ban chấp hành”. Tôi nhìn quanh, thấy có các bộ mặt thân - sơ trên Đại học : anh Văn Đình Hy ngồi chủ tọa, anh Hoàng Văn Giàu, giảng viên Triết học bên cạnh anh Hy - anh V.V. Thơ, giảng viên toán của trường – P.Đ. Bính, sinh viên y khoa – P.C. Đông, sinh viên trường Quốc gia Hành chánh – V. Kha, sinh viên văn khoa – V. Tùng, sinh viên văn khoa, vài anh sinh viên y khoa lạ mặt khác (?) - chị Dung, chị Tuyết sư phạm, và một số người nữa tôi đã quên tên, tất cả chừng 15 đến 20 người.

“Anh em đã bầu Ban chấp hành, anh Giàu là chủ tịch, anh Thơ làm phó chủ tịch. Bính, tổng thư ký. Đông, phó tổng thư ký. Chừ còn thiếu một “nữ” phó chủ tịch, anh đề nghị Kim Lan giữ chức này!” Anh Hy nói tiếp. 

Tôi lật đật đứng lên “Dạ thưa mấy anh mấy chị, Kim Lan không làm được mô!”   Lúc ấy toàn thể mọi người đều nhao lên “Kim Lan làm là đúng rồi, không được từ chối, mình biểu quyết đi!” Tôi cãi lại: “Thiệt là không được mô!”

Chẳng một ai chịu nghe. Mọi người biểu quyết và anh Hy ghi vào biên bản rồi đọc to “Phó chủ tịch thứ hai là Thái Kim Lan”.

Tôi đứng lên nhất định không chịu và nói “Dạ thưa chi lạ rứa. Kim Lan đã nói không mà anh chị cứ bắt Kim Lan vô Ban chấp hành là răng ? Rứa ai bầu thì mượt, Kim Lan không biết tới mô nghe.  Chỉ xin làm hội viên thôi!”

Mọi người hình như chẳng xem lời dọa của tôi là thật, cười nói rân rang và kết thúc đứng lên. Ở Huế năm giờ chiều trời đã tối đen, mọi người từ giã nhau. Tôi còn nói vói lời cuối “Nì nói thiệt, Kim Lan không nhận lời là không nhận đó nghe, rứa là coi như không có nữ Đoàn phó mô nghe!”.

Tôi ra về. Trong hơn năm tháng tiếp theo quả thật tôi đã quên mình có lần “bị” hay “được” bầu làm Phó Đoàn Trưởng ĐSVPT đầu tiên tại Huế.

Trong thời gian từ cuối đông 1962 đến Phật Đản 1963 tôi đã phụng phịu dỗi cái buổi bầu bán “anh chị em một nhà”, “khi không” bị bầu làm phó chủ tịch, nên nhất định không thèm bén mảng đến sinh hoạt của Đoàn. Tôi không biết trong khoảng thời gian ấy Đoàn đã hoạt động ra sao.

Vả chăng đam mê duy nhất của tôi thời đó là “Học” và “Đọc”, nên tôi chỉ biết “chúi mũi” vào chuyện chuẩn bị thi hai chứng chỉ trong một niên khoá để sớm lấy bằng cử nhân, ngoài ra không để ý đến những chuyện khác. 

3. Hoàn cảnh

      Hơn thế nữa, từ trước cho đến ngày gia nhập đoàn SVPT, tôi chưa sinh hoạt trong một hội đoàn  như gia đình Phật tử hay Hướng đạo hoặc một tổ chức đảng phái nào.

Ngày nay thật khó có thể hiểu được khi nghe một người thanh niên trưởng thành thú nhận đã không biết rõ về tình hình chính trị hiện tại của đất nước như chính tôi ở thời điểm trước mùa Pháp nạn.

       Thật sự dạo ấy tôi chẳng hiểu chi về chính trị và tình hình đất nước và cũng không hề bận tâm, thiết tha đến những vấn đề chính trị nhạt nhẽo, mặc dù trong trường tôi nổi tiếng là kẻ làu làu kinh sử,  thuộc lịch sử Việt Nam như “cháo lòng”! Chúng tôi không có báo hàng ngày để đọc, phần nhiều truyền miệng nhau các tin đồn, không phải nhà nào cũng có radio, dạo ấy chưa có tivi. Khi có tin gì quan trọng, chúng tôi thường đến đài phát thanh nghe tin tức và tìm gặp nhau để bàn tán và trao đổi. Trong một hoàn cảnh thiếu thông tin như thế, sinh ra lắm “tin vịt” cũng như tin tức rất dễ bị bóp méo sự thật, trở thành những bản “tin chính thức” cho người cả tin. 

Những biến cố chính trị của đất nước như hiệp định Genève năm 1954, ông Ngô Đình Diệm được Hoàng đế Bảo Đại giao chức Thủ tướng. Sau đó dưới áp lực của Mỹ-Pháp, Hoàng đế Bảo Đại phải thoái vị, 1955 suy tôn Ngô Đình Diệm lên làm Tổng Thống, tôi được thông tin và chứng kiến qua các cuộc biểu tình do nhà trường tổ chức theo chỉ thị của cấp trên.

Tôi còn nhớ năm còn học đệ thất, buổi sáng đến trường, trống đánh vào lớp, chưa kịp trật tự ngồi xuống, thầy Giám thị mặt mày nghiêm trọng đi vào với Thầy phụ trách giờ, tờ giấy chỉ thị trên tay, cao giọng bảo : “hôm nay các em đưọc nghỉ học…” Bọn chúng tôi nhao lên, xếp nhanh sách vở, “nhưng…”, thầy nói tiếp “không được về mà ra sân sắp hàng đợi lệnh!” Cả bọn ồ lên như ong vỡ tổ lục tục kéo nhau ra sân. Nửa giờ sau một loạt biểu ngữ được đem tới phân phát cho các lớp với nội dung: “Đả đảo Bảo Đại”, “Bảo Đại hại dân”,  ”Toàn dân yêu cầu hôn quân Bảo Đại thoái vị”, “Toàn dân suy tôn Ngô Tổng Thống” .... Chúng tôi được sắp hàng bốn hay hàng năm để đi biểu tình khắp trên các đường phố trước khi tập hợp tại Phu Văn Lâu dự buổi mét-tinh (meeting).

Không ý thức được tầm quan trọng của những biến cố đất nước, phần đông cả bọn học sinh trẻ hớn hở vì không phải trả bài, nộp bài, có dịp đi riễu phố với nhau, chòng ghẹo nhau, chuyện trò cười đùa huyên thuyên, lâu lâu người toán trưởng dơ tay lên hô “Đả đảo Bảo Đại!”, chúng tôi đồng thanh nhại lại vừa dơ tay lên trời. Cứ thế cả đoàn học sinh biểu tình kéo nhau đi khắp nẻo đường của thành phố Huế như một đoàn rắn ngoằn nghèo, vui nhộn và vô tư, không biết vận mệnh đất nước đang đổi thay, một thể chế đang cáo chung, một quyền lực mới đang bắt đầu, miền Nam đang đổi ngôi thay chủ.

Suốt cả tuần học sinh chúng tôi được phép biểu tình để bày tỏ nguyện vọng của toàn dân được sắp đặt như thế. Những cuộc biểu tình kế tiếp càng lúc càng nóng bỏng hăng say hơn trong việc truất phế Hoàng đế Bảo Đại. Ban tổ chức biểu tình còn làm hình nộm vua Bảo Đại đem đốt trước Phu Văn Lâu, hư cấu dàn cảnh những tệ hại của vua như mê gái, ham tiền, qụy lụy mẫu quốc Pháp đi khắp nơi v.v...   Tôi còn nhớ mấy hôm sau trong đoàn biểu tình của trường chúng tôi, đầu đám rước là một chiếc xe kéo, trên xe là hình nộm của vua Bảo Đại ngồi với một hình nộm đàn bà, đàng trước là một cái cần câu treo lủng lẳng một gói tiền và một hình nộm đàn bà khác. Hình nộm vừa ôm gái vừa vươn cổ tới gói tiền đã gây ấn tượng tâm lý “bất thường” của biết bao người dân thiếu ý thức chính trị đối với vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn, như tôi.

      Trong buổi cơm trưa, vừa ăn tôi vừa kể cho Bà và Mẹ những điều trông thấy trong cuộc biểu tình, bỗng thấy cả Bà lẫn Mẹ đều kêu lên “tội nghiệp nhà vua! vua có tội tình chi!” Tôi đã không hiểu nhưng cũng sợ Mẹ buồn nên không dám hỏi. Khi nghe vua Bảo Đại lên lầu Ngọ Môn tuyên bố thoái vị, trong nhà bỗng như có đám tang, tôi thấy ôn Ngoại tôi, một vị Tổng lãnh binh về hưu, thuộc hoàng phái, nét mặt tái hẳn nghẹn ngào, Mệ Ngoại chùi nước mắt, bác trai con bà Cô Thượng, nguyên Án sát tỉnh Quảng Bình ngồi gục đầu một lát, bỗng đứng lên hướng về phía Ngọ Môn lạy ba lạy. Mệ Nội tôi, một vị phu nhân trong hoàng tộc, bỏ ăn mấy ngày vì thương tiếc nhà vua, mấy thím mấy cô chúi nhau trong buồng thầm thì than vãn.

Tôi đã ghi nhận những cảnh ấy với một chút lạ lùng trong lòng. Mãi về sau mới biết rằng lòng người lúc ấy, nhất là ở Huế, vẫn còn hướng về vương triều nhà Nguyễn rất sâu đậm.

Tuổi trẻ đã không để ai dừng lâu nơi những thắc mắc hoài nghi. Hôm sau đến trường vào lớp, chúng tôi phải đứng dậy suy tôn Ngô Tổng thống và ảnh Ngô Đình Diệm đã được treo lên trong mỗi lớp học….

Nếp sống bình thường trở lại trên đất Thần kinh lặng lờ chậm rãi như con sông Hương đang chảy trước bến Phu Văn Lâu. Có một nỗi chiều chiều trước bến tiếc thương ai ? Tuổi trẻ vẫn thờ ơ không biết đến… Giữa hai nhịp đập của quả lắc treo trên tường, tuổi trẻ không dừng lại một giây cho nuối tiếc quá khứ nào chen vào giữa.

Đối với tôi, cảnh nhà vẫn êm đềm theo nhịp điệu ngày ngày đi học, đêm đêm cặm cụi với sách đèn…

 Gia đình tôi theo Đạo Phật truyền đời. Tôi lớn lên trong tiếng chuông chùa Linh Mụ và tiếng tụng kinh của bà Nội hàng đêm. Nhà Thờ bên Nội, nơi tôi cùng đại gia đình trải qua tuổi ấu thời, nằm giữa chùa Từ Ân, chùa Ông Nghệ và chùa Linh Mụ. Mỗi buổi chiều, sau buổi cơm tối của đại gia đình, chúng tôi, một lũ anh em con bác con cô con chú, hầu như cùng lứa tuổi, tụ nhau trong sân chính của vườn nhà, trước thềm nhà thờ tổ tiên, chơi “rồng rắn”, “ma rà”, “trốn tìm” hay nhóm lá khô trong vườn nổi lửa tay bụm lại đập vào miệng kêu “và và” gọi ve ve đến. Sau trò chơi, Bà Cô Thượng hai – chúng tôi gọi “Bà Cô hai” vì bà là vợ hầu của cụ Thượng Nguyễn Trừng, em ruột của Bà Cô Thượng, vợ chính của cụ – thường gọi chúng tôi lại, xếp hàng nhỏ trước lớn sau, bắt chúng tôi chắp tay trước ngực, đi vòng quanh sân, vừa đi vừa niệm Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam Mô A Di Đà Phật.  Đi ba vòng thì đứng lại cúi đầu để Bà bắt ấn và hô “úm ma ni bát mê hồng” ba lần, rồi giải tán đi ngủ.

Ngày rằm và mùng một bà dạy chúng tôi tụng kinh Sám Hối, kinh Đại Từ Bi. Tôi hay theo bà Nội hay bà Cô lên chùa. Chùa Linh Mụ cách nhà chúng tôi 500 thước, là “vườn trẻ” thứ hai của anh em chúng tôi. Những ngày đẹp trời anh em chúng tôi, sau khi chơi  chán trong vườn bà nội, đứa lớn dẫn đứa bé lúc thúc chạy lên chùa, đến cỡi rùa trong tháp hay trốn vào trong chiếc hồng chung lớn, hoặc chạy vòng quanh bảy từng tháp  đến rờ rẫm tai mắt của các tượng Phật nơi mỗi từng như những búp bê thân quen, hoặc đi qua cửa tam quan có ông Thiện ông Ác trông rất dễ sợ,  vào sâu trong chùa qua điện Phước Duyên, đến Quan Âm Các và vườn hoa sứ huyền bí sau lưng chùa (nay là vườn thông và tháp Ôn Linh Mụ).

Không gian tĩnh mặc, rộng lớn, vừa quảng đại vừa thanh thoát, vừa huyền nhiệm vừa nên thơ của ngôi chùa cổ kính này hình như đã đi sâu vào vô thức của một đứa bé từ năm lên hai lên ba. Có một bài học không lời của núi sông, mây nước, cỏ cây gắn liền với nụ cười hiền nơi gương mặt Phật ở ngọn đồi thiêng liêng của đất Phú Xuân đã âm vang trong trái tim non trẻ, mà tôi đã mang theo trong suốt cả cuộc đời.

Khác với mấy anh chị con các bác tôi không được mẹ tôi cho vào Gia Đình Phật tử.   Có lẽ mẹ tôi đã không nghĩ đến điều ấy, vì bận rộn tần tảo buôn bán suốt ngày để nuôi chúng tôi ăn học, sau khi cha tôi với chức vụ Huyện trưởng bị Việt Minh ám sát. Gia đình chới với trong nỗi cô quả. May sao đại gia đình đã đưa tay đón đỡ và chúng tôi không phải bơ vơ. Rời huyện đường ở phố Bao Vinh chúng tôi về ở nhà bà Cô Thượng Nguyễn Trừng ở bến Bạch Đằng, nay là khu phố cổ của Huế. Bà nổi tiếng là người độ lượng trong nhiều công tác xã hội thời bấy giờ và nhất là công việc Phật sự. Chúng tôi sống trong sự tương trợ tinh thần và ảnh hưởng giáo dục của đại gia đình. Tôi thường theo bà Nội tôi, một phụ nữ khuê các hiếm có được theo Nho học thời ấy, để được nghe bà kể chuyện cổ tích, ngâm thơ Kiều và Lục Vân Tiên mà bà thuộc nằm lòng, và nhất là giữa những câu chuyện, để nguôi nỗi nhớ thương cha tôi. Bà lại kể cho tôi nghe về cha tôi, người con trai út đĩnh ngộ, rất hiếu thảo và đầy lòng thương người mà Bà rất yêu qúi. (Theo lời bà và mẹ, cha tôi đã cứu Thầy Đôn Hậu ra khỏi tay người Pháp khi Thầy chưa thí phát). Tuy chẳng theo một phương pháp giáo dục nào cả, nhưng hình như tôi đã thấm nhuần nơi bà, những người đàn bà Việt Nam được sinh ra để chịu đựng, nhiều tình thương hơn là oán trách bất cứ ai. Trong tâm tư của một một đứa trẻ, cha tôi trở nên hình ảnh tâm linh qúi giá, thân thương và gần gũi nhất mà tôi có được qua bà.

Mẹ tôi suốt ngày đầu tắt mặt tối lo cơm gạo nên thật sự không có thì giờ chăm nom đời sống tinh thần cho bốn đứa con, ngoài những việc thường thức nhất bắt buộc như qui y tại chùa Từ Ân cho anh em chúng tôi, và đi chùa lạy Phật vào ngày rằm hay ngày mồng một. Suốt một đời tận tụy vất vả vì con, mẹ tôi đã không có thì giờ để giảng cho chúng tôi nghe một bài học lý thuyết nào cả. Nhưng sự im lặng không than van, không oán hờn, không hận thù hằn học với kẻ đã gây tang tóc đau thương cho gia đình cùng với sức nhẫn nại chịu đựng gian khổ và sẵn sàng ghé vai gánh hết mọi lầm than cho “con ngồi bên ráo mẹ ngồi bên ướt” đã là bài học TÂM truyền TÂM vô lượng vô biên cho chúng tôi.

Chúng tôi bốn anh em thường tự dìu dắt lấy nhau trong việc học. Nhờ thế chúng tôi đã được hưởng tự do tư tưởng trong quãng thời gian trưởng thành, tự quyết định lấy việc học của mình, không như những gia đình khác được người cha hướng dẫn và nhiều khi quyết định một cách thiết thực tương lai của con cái. Tôi nghĩ rằng, nếu tôi có cha thì có lẽ người sẽ không cho tôi đi học Triết mà phải đi học Y khoa hay Luật là những môn thiết thực mang cơm gạo và bảo đảm đời sống cũng như địa vị trong xã hội.

Và biết đâu tôi đã gia nhập vào Gia đình Phật tử hay vào trong đoàn Hướng đạo sinh hay trong một Hội chính trị nào đó như đảng Đại Việt...,  nhất là vào đảng Cần lao Nhân vị của ông Ngô Đình Nhu hay phong trào Phụ nữ Liên đới của bà Ngô đình Nhu, mà mọi công chức và con cái họ thời ấy đều ít nhiều bị bắt buộc phải gia nhập?

Có mâu thuẫn không khi nói rằng tất cả những điều trên đã tạo nên sự tình cờ này : Đoàn SVPT Huế phải là mối tình đầu đoàn thể của tôi!

Và là một mối tình thật là trắc trở như mọi mối tình của người Huế với nhau. Mới gặp mà chưa chi đã giận lẫy nhau rồi !

Ghi chú:


[i]  Nga mi tiều tuỵ một Hồ sa”, thơ Lý Bạch nhắc lại sự tích nàng Chiêu Quân biệt xứ sang đất Hồ.

 

flash-5sac.gif (367 bytes)  Hồi ký TKL (tiếp theo): Phật đản 1963 tại Huế

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........