curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 

PHẬT ĐẢN 1963 tại HUẾ

Thái Kim Lan

1. Biến cố tại Đài Phát Thanh Huế :

        Tôi đã hăm không tới sinh hoạt với Đoàn và đã giữ lời hứa gần năm tháng trời.

Như mọi năm ngày Phật Đản là ngày vui trọn vẹn nhất trong năm. Niềm vui đến tự nhiên như hoa phượng tháng năm nở rộ trên khắp các nẻo đường, như hoa sen bừng dậy trong hồ một buổi sáng sương còn long lanh trên lá, như hoa ngọc lan thơm ngát các khu vườn “mát quá xanh như ngọc”. Trong khu phố tôi ở, nhà nhà đã chuẩn bị làm đèn lồng các kiểu từ tuần trước, nghe bên nhà bác Xuân năm ni sẽ trưng bày trước cửa đến 10 đèn hoa sen cở lớn và đã nặn tượng Phật Đản Sanh, nhà ông Út thợ may may cờ Phật giáo không hở tay. Bên kia nhà bác Phương mấy chị Phật tử trong phường đến kết hoa thành hình những con nai trong vườn Lộc uyển và những giây treo bằng hoa tươi, thơm ngát. Không một lệnh truyền từ trên đưa xuống mà tất cả mọi người đều hớn hở nảy ra những sáng kiến mỹ thuật khi nghĩ về ngày Phật Đản Sanh. Cả thành phố không ai bảo ai đua nhau chuẩn bị ngày lễ lớn với một tấm lòng chan hòa rộng mở đi đến với nhau.  Niềm vui cứ chuyền nhau nhà qua nhà như những gợn sóng trên sông Hương tiếp nối không dứt. Mỗi năm khu phố tôi ở hình như càng lúc càng “leo thang” trong việc trưng bày ngày Phật Đản, có nhà tân thời treo đèn màu chớp chớp làm hào quang chung quanh tượng Phật đứng trên bàn thờ bày trước cửa, mội dịp cho bọn trẻ chúng tôi kéo nhau trong đêm rằm 14 đi thưởng ngoạn và chấm điểm. Nhất là năm nay nghe nói sẽ có xe hoa đi cung thỉnh Phật từ chùa Diệu Đế lên chùa Từ Đàm.

Hôm ấy cờ đèn trong phố đã treo lên lúc trời còn chưa tối. Bỗng nghe có tiếng anh Pháp cảnh sát ghé đến mỗi nhà bảo có lệnh không được treo cờ và chỉ cho treo đèn hạn chế một cái thôi.  Anh cũng là Phật tử nên vừa nói mà mặt anh dàu dàu. Mọi người tiu nghỉu, càu nhàu phản đối, nhưng không dám cưỡng lệnh đành phải đi hạ cờ và đèn xuống.

Trong nhà tôi chỉ thoáng nghĩ vẩn vơ “sao tự nhiên lại có lệnh kỳ cục như thế, khác với mọi năm!”, “bỗng dưng cấm treo cờ?”, nhưng không nghĩ tiếp những gì sẽ có thể đến với cái lệnh bất ngờ này. Chỉ nghĩ “rứa là năm ni Phật Đản buồn thiu, thôi thì ngồi học bài khỏi tiếc!”.

Sáng 14 tháng Tư Âm lịch (07.5.1963) trước ngày lễ chính một ngày, là ngày chủ nhật, tôi theo mẹ lên các chùa lễ Phật rồi về nhà. Tôi “trốn” anh em nên không lên chùa Từ Đàm. Dạo ấy đúng mùa thi, tôi phải chuẩn bị thi hai chứng chỉ Siêu Hình học với cha Đỉnh, Tâm Lý học với cha Nghiêm. Chứng chỉ Tâm Lý học gồm hai phần, phần lý thuyết Tâm lý và phần Tâm Bệnh học, phần sau sẽ thi vấn đáp với giáo sư E. Wulff, một bác sĩ  người Đức khoa Thần kinh tâm lý học - đang giảng tại trường Đại học Y khoa Huế, bằng tiếng Pháp nên phải “gạo” đến nơi đến chốn. Tôi vùi đầu để học bài. Thế giới bên ngoài lúc ấy không còn hiện hữu đối với tôi, đến nỗi biến cố xảy ra trong đêm Phật Đản tại Đài Phát thanh tôi không hề hay biết. Đến ngày hôm sau tôi chỉ nghe loáng thoáng trong Đài Phát thanh bảo có Việt Cọng đột kích phá rối trị an trước đài phát Thanh Huế, bắn chết người. Chẳng thấy có anh em nào trong Đoàn chạy qua như thường lệ để báo tin cho tôi cả. Hình như mọi người cũng nghĩ là tôi đã biết và đã có mặt trong đêm ấy tại Đài phát thanh. Hình như ai cũng kinh hoảng chưa hoàn hồn vì sự việc xảy ra ngoài sức tưởng tượng. Người chứng kiến tận mắt thì bị cuốn theo dòng, người không biết thì nghĩ tôi đã biết. Tôi cứ đinh ninh, nếu không ai đến báo cho mình thì chuyện lộn xộn ở Đài Phát Thanh chắc cũng chẳng có chi đáng quan tâm. Và cứ thế mà yên chí bình chân như vại chôn mình vào trong sách.

2. Thầy Thích Thiện Minh

Trưa thứ tư, một ngày rưỡi sau Phật Đản, tôi đang ngồi học bài ở bàn trường kỷ trong gian nhà giữa, bỗng thấy một người khách đi vào. Khách đã bước sâu vào quá nửa nhà trước, trong khung cửa nửa tối nửa sáng, tôi chỉ thấy dáng người cao dong dãy, áo tràng dài màu sẫm, nón cất xuống khoát sau lưng, khoan thai, dáng điệu không ngỡ ngàng, từ tốn tiến sâu vào nhà và cất tiếng gọi “có Kim Lan ở nhà không?”  Tôi bật người đứng dậy chạy vội ra - người khách đến thật bất ngờ hơn tất cả những người mà tôi chờ đợi, vì người đến là Thầy Thiện Minh.

Nghe tiếng chào mời, Thầy cười, nụ cười của Thầy đặc biệt hiền hoà trên gương mặt trái xoan với nước da trắng, nửa thư sinh nửa mộc mạc của một nhà tu.  Giọng Thầy ấm và nhu hoà - khi giảng đạo cũng như khi tụng kinh, rõ ràng, êm tai, dễ thuyết phục lòng người, rất thích hợp cho vai trò thương thuyết mà Thầy đảm nhiệm trong những tháng kế tiếp. Thái độ điềm đạm, kín đáo nhưng đầy thiện cảm, Thầy ngồi xuống ghế và nói ngay : “Thầy muốn nhắn anh em sinh viên mà không liên lạc được, nên xuống thẳng nhà gặp Kim Lan. Nhờ con nhắn với anh em chuẩn bị đại diện đi đưa đám các em bị xe tăng cán chết. Còn Kim Lan thì đi chừ với Thầy đến thăm và an ủi các gia đình có con em bị chết. Tội nghiệp lắm!”

Có lẽ Thầy nghĩ tôi đã biết hết  sự việc nên nói rất vắn tắt. Tôi đang ngạc nhiên với nhiều câu hỏi trong đầu thì Thầy đã đứng lên. Thầy đến vội vàng như thế mà như chẳng có chi vội, mỗi cử động của Thầy có một chút chi chắc quyết vĩnh hằng.  Ngày đầu tiên hôm ấy cũng như lần cuối cùng tôi gặp Thầy năm 1977, đứng trong khu vườn chùa Già Lam, vẫn dáng bình tĩnh trong những lúc tai nạn gần kề, trong những lúc ruột rối như tơ vò, làm cho người bên cạnh trong thoáng chốc cảm thấy an tâm. Sự bình tĩnh có lẽ đến từ lòng tự tin  vào trí tuệ và tài ngoại giao hoạt bác của chính mình. Trong bốn vị sư lót đầu chữ “TRÍ”: Trí Thủ, Trí Quang, Trí Nghiễm, Trí Đức, thì Thầy Trí Nghiễm (Thiện Minh) vẫn được xem là “tài hoa” và “khéo léo mềm dẻo” hơn những vị khác. Thầy nổi tiếng thông minh, quán triệt sự việc gọn gẫy, ứng đối biện bác nhanh nhẹn, không bao giờ nỗi nóng, luôn luôn sẵn sàng lắng nghe người đối thoại và rất “hòa bình”, một đức tính có thừa của những vị sư, sẵn sàng bỏ mọi thủ chấp để tìm một giải pháp, nhưng không thỏa hiệp dễ dãi những yêu sách phi lý của người đối thoại.

Vào thời điểm ấy, Thầy được qúi Ôn đặc cách lo về Thanh niên Sinh viên Phật tử và Thầy đã “theo kịp” – xin cúi bái Thầy mà thưa như thế. Chúng tôi, những đứa sinh viên trẻ, tưởng mình tân tiến trong tư duy, nhiệt tình nhưng hay nỗi “chướng” bất thình lình, những đứa con mới trong cọng đồng Phật tử, sinh sau để muộn như những con ngựa bất kham hay dở chứng. Trong tư thế của một nhà sư, Thầy luôn luôn biết tính từng đứa để nói một câu ý nhị khi gặp mặt. Trong những ngày đồng cam cọng khổ, hình như cả Đoàn Sinh viên Phật tử nổi tiếng cứng đầu đã “chấp nhận” sự cố vấn lãnh đạo của vị sư này trong nhiều năm tháng.

Hôm ấy tôi theo Thầy đi thăm các gia đình có thân nhân của những nạn nhân. Trước khi đến các gia đình, Thầy muốn ghé qua nhà thương lớn thăm các nạn nhân. Đến nhà xác, lẽ thường không được vào, nhưng người ta để cho Thầy vào. Tôi nhát gan nên sợ quá “thưa Thầy cho con đứng ngoài chờ Thầy, con hay sợ ma, không dám vô mô!”. Thấy tôi quá hãi sợ nên Thầy thương hại không ép. Khi Thầy trở ra, mặt Thầy tái mét và đầy vẻ thương tâm. Thầy chép miệng nhắc đi nhắc lại mãi “Mô Phật! tội quá con ơi, mấy em nhỏ, chết không toàn thân, tàn nhẫn quá!”.  Khi ấy tôi mới biết sự thật của vụ ở Đài phát thanh đêm Phật Đản, không phải là Việt Cọng nổ súng mà bị xe tăng của thiếu tá Đặng Sĩ cán chết và lựu đạn gây tử thương.

Tôi không phải là nhân chứng của đêm ấy, nhưng sau này đã biết tận tường qua lời kể của Thầy Trí Quang [i] và của Giáo sư E. Wulff  [ii] - hai nhân chứng mà tôi cho là trung thực nhất.

63_drwulff.JPG (56026 bytes) Bác sĩ Wulff là người khách ngoại quốc tình cờ đã chứng kiến cảnh bên ngoài đài Phát thanh, khi 5 chiếc xe thiết giáp xuất hiện và những phát đạn được bắn ra từ chiếc xe thiết giáp. Ông đã vào nhà thương và thấy tận mắt hình ảnh của những nạn nhân: ‘bảy thây người dính đầy máu me được đặt trên bàn khám nghiệm bằng đá. Từ chân đến ngực thân thể của họ còn nguyên vẹn. Nhưng năm cái xác - tất cả đều là trẻ em, thì không còn đầu...’ (Những Năm Dạy Học Tại Việt Nam, E. Wulff, tài liệu của Khuông Việt)

       Suốt cả buổi chiều chúng tôi đi thăm các gia đình nạn nhân bị tử nạn. Sự đau khổ trên nét mặt của những người này đã làm cho tôi sửng sờ. Tôi biết chẳng có lời nào trên cõi đời này có thễ an ủi được nỗi đau đớn mất đứa con thân yêu một cách oan khuất tàn nhẫn như trong hoàn cảnh của họ. Tôi chỉ biết cúi đầu lúng túng với vai trò đi “an ủi” không làm tròn này, không nói với nhau chi được ngoài sự nghẹn ngào và ánh mắt thông cảm . Tôi lặng yên nghe Thầy hỏi thăm hoàn cảnh của mỗi gia đình. Họ đều là những Phật tử thuần thành, có con đi gia dình Phật tử, những con chim oanh vũ, sơn ca ngây thơ hồn nhiên chết oan trong đêm Phật Đản, đầu một nơi mình một chỗ! Ai nói các em là Việt Cọng trá hình? Tôi nghe lòng mình dấy lên sự phẩn nộ và bất nhẫn những ai có thể đang tâm vu khống chà đạp linh hồn trong trắng của những người thảm tử!  Thầy an ủi và nói rất hiền: “Các con hãy niệm Phật, cầu Phật gia hộ cho vong linh siêu thoát ! Các Thầy sẽ cố gắng hết sức mình để đòi bồi thường cho gia đình các con. Các con hãy kiên nhẫn nghe!”. Chúng tôi thắp hương ở bàn thờ và ra về.

Tôi thầm nghĩ có cái chi trên đời này có thể bồi thường được nỗi đau này ! Nhưng sự bồi thường phải có, như một cử chỉ đầu tiên sám hối lỗi lầm!

Trước khi về chùa Thầy bảo với tôi, hiện nay bản Tuyên ngôn năm điểm đã được đệ đạt lên chính quyền . Hy vọng trong hai tuần nữa mọi việc sẽ được giải quyết ổn thỏa... [iii]

Hôm ấy tôi ra về, vẫn còn xúc động bởi những giọt nước mắt lặng lẽ tức tủi của những người cha người mẹ, nhưng lại tin rằng mọi việc sẽ được giải quyết ổn thỏa, các nạn nhân sẽ được bồi thường là điều hiển nhiên. Vào thời điểm ấy, tôi, và có lẽ phần đông Phật tử ở Huế chưa đánh giáđược tầm quan trọng của sự kiện vừa xảy ra. Tôi nghĩ rằng, - đúng là một kẻ sống xa thực tế chỉ biết sách vở – thay đổi “dụ số 10” dễ hơn môn toán luận mà tôi đang học với thầy Trần Văn Toàn, và việc bồi thường cho gia đình các nạn nhân lại càng quá dễ như một lý đương nhiên, mà không những bồi thường vật chất, người trách nhiệm còn phải tỏ ra ăn năn và quan tâm đến những gia đình nạn nhân này, gọi là đền bù trong muôn một. Tôi tin rằng những điểm trong bản yêu cầu sẽ được thực thi nhanh chóng, vì những yêu sách đơn giản quá!   Chắc chắn Thầy Thiện Minh sẽ thành công với chức vụ Đại diện PG Huế  trong cuộc thương thuyết đòi bồi thường.

Trong lúc chờ đợi tôi lại trở về với công việc chuẩn bị thi cử. Mùa hè năm ấy trời nóng hực như lửa đổ trên đường phố, chúng tôi ngồi viết bài thi như lên cơn sốt. Sau kỳ thi viết hai tuần, môn cuối trả nợ sách đèn khóa học là môn Tâm bệnh học.

Sáng sớm 30.5.1963 tôi vào thi vấn đáp với Giáo sư Bác sĩ E. Wulff.

Ở trong thành phố nhỏ bé xưa rích như  Huế thời ấy, mỗi sự kiện nào hay nhân vật mới nào đến cư ngụ nơi đây không cần quá một ngày là mọi người đều được thông tin. Từ năm 1962 Bác sĩ Wulff và những người bạn đồng nghiệp của ông là những vị giáo sư  đầu tiên của Đại Học Freiburg nằm trong chương trình trao đổi Hàn Lâm giữa CHLB Tây Đức và Nam Việt Nam đến giảng dạy tại trường Y khoa và Đại học Huế . Lần đầu tiên tôi thấy người giáo sư  này vào một buổi sáng mùa tựu trường, một người Đức chưa đến tam tuần, đang đứng lớ ngớ như người đi lạc ở đầu đường Lê Lợi nơi góc cầu Trường Tiền đổ xuống. Dáng điệu ngộ nghĩnh của ông đã làm lũ nữ sinh viên chúng tôi chú ý và nực cười. Người ốm, cao lênh khênh (đối với chúng tôi), chiếc cằm và cái mũi nhọn của ông như cứ dài ra theo từng tà áo trắng đang bay phấp phới trước mặt trong ánh nắng còn ướt sương mai trên vòm cây muối hai bên đường, hai cánh tay của ông thòng ra đàng trước, chới với theo từng làn sóng nườm nượp dập dìu của đoàn xe đạp các nữ sinh Đồng Khánh lũ lượt đến trường. Cả người ông hình như không còn tự chủ để đứng vững trên hai chân mà chỉ chực trôi theo với màu áo trắng bồng bềnh dàn trải ra trước mắt, với màu tóc đen mượt mà xỏa bờ vai và tiếng cười khúc khích như tiếng khánh của đốm nắng lấp lánh chạm nhẹ trên vòm cây. Huế đẹp nhất - là con đường Lê Lợi, vào buổi sáng mai khi nữ sinh Đồng Khánh đến trường trong tà áo trắng. Cả thành phố rực sáng xôn xao trong màu trắng trinh nguyên như cảnh tượng một đoàn bướm vừa thoát xác tung bay và ai tình cờ lạc bước vào khung cảnh ấy chắc chắn sẽ cũng như người giáo sư ngoại quốc kia, bỗng bàng hoàng không biết đó là thực hay mộng và mình là Hồ Điệp hay là Trang Sinh.

Từ hôm đó, người ta thường thấy “ông giáo sư người ngoại quốc” sáng sáng hay đứng ngẩn ngơ, ngơ ngẩn… trước đàn bướm trắng học trò…

Buổi thi vấn đáp trái với chờ đợi của tôi không có chi khó khăn, hình như ông giáo sư này có đôi chút lơ đểnh và vội vàng, tôi đã nghĩ chắc ông còn phải chấm thi ở trường Y khoa. Không ngờ lại gặp ông trên chùa Từ Đàm mấy tiếng đồng hồ sau và ông trở nên ân nhân số một của cuộc vận động Phật giáo Huế 1963.

      Rời phòng thi, tôi trở ra định lấy xe đi về nhà để nghỉ ngơi sau một đêm thức khuya gạo bài đến phờ phạc cả người. Đang lúi húi mở khóa xe, bỗng nghe có người gọi sau lưng, tôi quay ra, thấy Xuân Dung cũng ở trong Đoàn SVPT đang nghiêng xe đạp chống chân xuống đất, không cười mà nghiêm bảo: “Răng chừ Kim Lan còn ở đây ? nghe nói anh em sinh viên Phật tử ở trên Từ Đàm đang tuyệt thực rần rần nơi tề, mi là Đoàn Phó mà răng còn  cà lơ phất phơ dưới ni rứa?”

Tôi giật nẩy người khi nghe hai chữ TUYỆT THỰC, hỏi dồn lại một cách ngu ngốc kiểu Huế:  “Tuyệt thực há ? Răng không ai nói cho mình biết cả ?” Cô bạn lắc đầu, nhún vai, không trả lời, cắm đầu đạp xe đi thẳng. Không một phút chần chờ thêm, tôi cũng phóc lên xe vê-lô mở khoá, rù xe chạy tuốt lên Từ Đàm.

Ghi chú:


[i] Thầy Trí Quang kể lại : “Theo lệ Phật Đản hàng năm, nghi lễ chính thức buổi trưa được thu thanh tại chỗ, buổi tối phát trên đài phát thanh Huế. Năm nay sau vụ cấm treo cờ dĩ nhiên là bất thường. Quãng 3 giờ chiều, một người trên dưới 50 đến Từ Đàm yêu cầu gặp tôi và nói tối nay quanh đài Phát thanh được bố trí rất  kỹ, “lính Đức me” án ngữ bờ sông, tất cả sẵn sàng ra tay rất mạnh. Tôi hỏi ông là ai, ngưới ấy nói là một công an, biết và mật báo giúp. Tôi hiểu đây là đòn phủ đầu. Nhưng tôi không lui. Đến giờ tôi đích thân đi với Thầy Mật Nguyện xuống đài Phát thanh. Ông quản đốc nói có lịnh không cho Phật giáo phát thanh, xin các thầy biết cho đây là việc ngoài quyền hạn của tôi. Tôi yêu cầu mời ông Tỉnh trưởng xuống giải quyết tại chỗ. Bấy giờ gần tối, Phật tử đứng nghẹt sân đài Phát thanh, ngoài đường và cầu Trường Tiền.

Ông tỉnh trưởng đến, mới cùng thầy Mật Nguyện, tôi và ông quản đốc, đứng lên chỗ cao, chưa kịp nói gì thì phía ngoài vòi rồng phun nước rất mạnh, kế đến 2 chiến xa tiến vào, đại liên và lựu đạn cùng nổ. Một số Phật tử ở góc sân trên của đài Phát thanh chỗ gần chúng tôi đứng, bị ném lựu đạn tàn sát. Họ là các Thánh tử đạo đầu tiên của cuộc vận động 1963.

Sau đó được biết trong hai chiến xa xung kích, một chiếc được mật lịnh giết tôi. Kẻ thi hành là trung úy Kỳ. Khi chĩa súng bắn tôi thì bị một đội viên cùng xe đánh bật tay lên. Chiếc khác được lệnh tiến bắn thì không bắn, vì sợ làm chết lây thầy Mật Nguyện và các ông tỉnh trưởng, quản đốc. Sau bị trách phạt rằng sao không bắn luôn cả ba người ấy.

Súng ngừng nổ, chiến xa rút liền. Tên P. (cảnh sát) và tên U. (quân cảnh) cùng một số lính, ăn mặc như xung trận, vào đài Phát thanh mặt đầy sát khí, nhìn chúng tôi, nói dõng dạc, “VC đột nhập, ném lựu đạn chết người”. Và nhìn tôi muốn bắn. Tôi nói, “còn các ông thì yểm trợ cho VC ! Đúng là gà đẻ gà tục tác!” Chúng hằm hằm nhìn tôi. Một lát, chúng vờ xông xáo, lục lọi và lục vấn nhân viên đài phát thanh. Ông Quản đốc nói nhỏ với tôi và thầy Mật Nguyện, “giờ phút này tôi đứng về phía các thầy”. Một lát sau, tên P. và tên U. cùng đồng bọn đột nhiên chạy ra, biến mất. Thì ra ở ngoài tiếng người vang dội, cùng lúc từ phía Đập Đá đổ lên, từ phía Nam Giao đổ xuống, nhất là từ cầu Trường Tiền đổ qua. Mỗi lúc tiếng vang dội càng lớn. Tất cả chiến xa và binh sĩ án ngữ hai đầu cầu Trường Tiền đều đứng sát lại nơi chiến xa và mọi thứ súng cầm tay đều hạ nòng xuống. Tôi đích thân khuyến cáo mọi người tạm thời rút lui về …” (Tác giả ghi chép trực tiếp theo lời kể của thầy Trí Quang. Phổ biến với sự đồng ý trước của Thầy.)

Thầy Trí Quang kể tiếp: “... Tôi lại đích thân thông báo đàng hoàng với chính quyền cuộc mét-ting này. Dĩ nhiên họ đâu có chịu. Tôi nói tôi muốn làm việc hợp pháp, nhưng không chịu thì tôi phải làm việc bất hợp pháp… Tôi nói mục đích cuộc mét-ting là công bố một Tuyên ngôn. Tuyên ngôn ấy được giải quyết thì cuộc vận động của PG kết thúc.

Tôi về Từ Đàm thì bản Tuyên Ngôn đã viết xong, do các Thầy Thiện Minh và Thiện Siêu. Tôi chỉ đổi một điều bằng điều sửa đổi dụ số 10. Bởi lẽ dụ này và dụ tiếp theo, là hiện thân của chính sách kỳ thị Phật giáo…. Cuộc mét-ting vẫn thành, với qui mô đã được mong đợi. Và bản tuyên ngôn được công bố cực kỳ trọng thể…

Tôi công bố những điểm chính yếu trong cuộc vận động 1963 của Phật giáo :

1- Chúng tôi không là đảng phái hay như đảng phái. Chúng tôi là phong trào Phật tử, có ra bởi chính sự gây hấn đàn áp của chính phủ, không phải có ra bởi sự tác động của bất cứ bên nào trong cuộc chiến tại VN.

2- Chúng tôi chỉ phản đối chính sách kỳ thị PG. Chúng tôi không mưu đồ ưu thế hay đặc tôn cho PG, không tranh thủ quyền chức hay đặc lợi cho Phật tử.

3- Chúng tôi tuyệt đối áp dụng phương pháp Bất bạo động. Vận động là danh xưng chính thức của chúng tôi

4- Chúng tôi không coi cá nhân nào là kẻ thù, nhất là ông Ngô Đình Diệm; lại càng không coi tập thể nào là đối phương, nhất là TCG.

5- Chúng tôi cám ơn bất cứ sự giúp đỡ nào xuất từ lương tâm và lương tri. Song chúng tôi không chập nhận sự lợi dụng khai thác của bất cứ bên nào trong cuộc chiến, của bất cứ cá nhân hay tập thể nào.

 ... Lại tổ chức một cuộc biểu tình trao cho chính quyền cả hai bản Tuyên Ngôn và phụ đính. Cuộc biểu tình có một hình ảnh rất xúc động. Ấy là sự hiện diện của liệt vị trưởng lão tôn túc : ngài Thuyền Tôn, ngài Tây Thiên, ngài Vạn Phước, ngài Từ Hiếu. Liệt vị tự định và tự đi, chống gậy đi bộ và đi đầu với tăng ni Phật tử. Đi và về đều như vậy. Oai đức của liệt vị đã làm cho cuộc biểu tình cực kỳ tôn nghiêm. Tất cả nhân viên của chính quyền đều sửng sờ và cúi đầu.

Tiếp theo cuộc biểu tình này là cuộc tuyệt thực cầu nguyện. Mở đầu là một ngày một đêm của liệt vị trưởng lão tôn túc, liệt vị hoà thượng, liệt vị thượng tọa. Tiếp theo là 2 ngày đêm của liệt vị thượng toạ, trung tọa, hạ tọa, của cả Nam tông, Bắc tông, Khất sĩ. Sau đó là sự luân phiên của cácvị lãnh đạo. Của ban Hướng dẫn gia đình Phật tử, Sinh viên Phật tử, Hướng đạo Phật tử. Chương trình hoạch định đến tam thất của các Thánh tử đạo.

Trong khi tuyệt thực cầu nguyện thì các khuôn hội tụ tập đông đủ, tụng niệm cầu nguyện theo. Còn các tập thể Phật tử thì mặc đồng phục, đoàn ngũ nghiêm chỉnh, riêng rẽ đi đến Từ Đàm. Đi bằng những đường chính. Do vậy mà lập tức chính quyền huy động quân đội và cảnh sát, gác giữ Từ Đàm và ngăn chận Phật tử ngay trên các con đường. Nhưng ở Từ Đàm thì họ bị tràn ngập, còn các đường thì chận ở đâu tức khắc thành ở đó một đám biểu tình với quần chúng tụ tập phía sau và hai bên các đoàn ngũ Phật tử ngồi xếp bằng xuống mặt đường, chắp tay hay khoanh tay yên lặng”  (Tác giả ghi chép trực tiếp theo lời kể của thầy Trí Quang. Phổ biến với sự đồng ý trước của Thầy.)

[ii]  Bác sĩ E. Wulff đã tường thuật lại chi tiết vụ xảy ra trong cuốn sách “Những Năm Dạy Học Tại Việt-nam” như sau :

“Thình lình có một đoàn xe chạy lại. Chúng ta cám ơn vị Tỉnh trưởng đã đến với chúng ta, yêu cầu đồng bào nhường chỗ”- đó là giọng nói của Sư Trí Quang truyền qua loa phóng thanh. Dưới tràng pháo tay viên Tỉnh trưởng tìm một lối đi giữa đám đông và biến mất cùng với vị Sư  vào trong toà nhà. Nét căng thẳng của đám đông càng lúc càng tăng lên. Không biết cuộc thương thuyết bên trong x ra thế nào?

Vài phút sau đó có tiếng ầm ầm của một đoàn xe thiết giáp. Có tất cả năm xe thiết giáp xuất hiện. Một chiếc tìm cách đi thẳng vào trong khuôn viên của Đài phát thanh. Nó dừng lại chỉ cách Tý và tôi vài bước mà thôi. Dòng chữ trắng mang tên Ngô đình Khôi được kẻ trên nền lục của phần trên sắt dày của chiếc xe thiết giáp. “Lẹ lên, mau ra khỏi đây”, Tý nói, “nó thuộc một binh đội đặc biệt tuyệt đối trung thành với ông Diệm”.   Ngô đình Khôi là tên của người anh cả của ông Diệm, đã bị Việt minh giết trong sự hổn loạn của năm 1945, lúc đó đang làm tỉnh trưởng tỉnh Quảng nam và từng cọng tác mật thiết vì tư lợi trong nhiều năm với giới bảo hộ Pháp. Mặc dầu ông Diệm có thái độ chính trị khác với ông anh, nhưng không bao giờ ông tha lỗi cho người cọng sản đã giết chết anh ông và do đó từ chối mọi sự hợp tác với Hồ chí Minh, ngay cả vào lúc mà một số chức sắc Thiên chúa giáo ở tại miền Bắc đi biểu tình dưới lá cờ Việt minh chống thực dân Pháp.

Chúng tôi tìm cách vượt qua hàng rào của Đài. Điều này không dễ dàng. Hàng trăm người cũng cảm thấy tình hình trở nên đáng lo ngại nên tìm cách chạy ra khỏi cổng ra vào rất hẹp của Đài. Nhiều người tìm cách đem xe đạp của mình ra, một số khác phải quăng xe để lại, nên người ta phải bước lên chúng để thoát ra ngoài. Vành xe, bánh xe và tăm xe kêu rào  rạo dưới chân người bước qua. Tý và tôi rốt cuộc cũng nhảy qua được hàng rào cao 1,20 mét. Từ phía bên kia đường chúng tôi có thể nhìn lại quang cảnh xảy trước mắt một cách rõ ràng hơn. Một xe chữa lửa đang xịt nước lên đám đông đang thưa dần. Nhưng áp xuất nước rất yếu để có thể gây sợ hãi cho người khác. Làn nước chỉ có tác dụng đem đến sự mát mẻ trên các khuôn mặt và áo quần những người có mặt, gây nên một tràn cười vui vẻ. Và rồi những phát đạn đầu tiên được bắn ra từ nòng súng ca nông của xe thiết giáp ; chúng tôi nghe khoảng 10 phát súng nổ kêu vang và khô khan. Như những người chung quanh, Tý và tôi nằm rạp xuống đất. Tôi có thể nhìn thấy rõ ràng đầu ngọn lửa phát ra từ họng súng của hai chiếc xe án ngự nơi bồn tròn nằm phía đầu cầu Trường tiền. Sau tiếng súng là một chập im lặng. Với một vài bước nhảy, Tý và tôi băng qua con đường lớn để vào núp nơi một con đường nhỏ bên cạnh. Những người chung quanh chúng tôi cũng làm như thế. Từng nhóm từ mười đến hai mươi người vung tay lên  bày tỏ sự bất bình của mình. Đúng vào lúc đó một loạt súng trường bắùt đầu nhả đạn. Một chiếc thiết giáp bắt  đầu tìm cách phân tán những đám nhỏ này. Chúng tôi tìm cách trốn bỏ đi và cuối cùng chạy về được đến nhà của Orjes và Hans chỉ nằm cách chỗ tai biến khoảng 150 mét. Hans đang đứng trước nhà. Tôi kể cho anh ta nghe những gì đã xãy ra. Tiếng súng sau đó đã ngưng. Hans hỏi, có ai chết hay bị thương không. Chúng tôi không biết.   Câu hỏi này làm chúng tôi bất an, rất có thể người ta cần sự cứu thương. Cho nên chúng tôi ba người đi trở lại Đài phát thanh. Giữa đường, trước khách sạn dành riêng cho cố vấn quân sự Mỹ, tôi gặp Paul Miller, một người Mỹ còn  trẻ làm việc trong Văn phòng trường Đại học. Anh ta kể rằng ‘họ đã đi qua đây’. Thiếu tá Đặng Sỹ, người cầm đầu đoàn quân, đã bảo anh ta phải tránh mặt đi chỗ khác. Sắp có màn phải giết người, vì ông ta đã nhận được lệnh từ cấp trên đến dẹp tan vụ bạo loạn tại Đài phát thanh với bất cứ giá nào. Ngay cả Paul cũng không biết có người chết hay không. Anh ta đã trải qua trận bắn phá trong khách sạn “Cố vấn”. Nhưng anh ta biết rằng Thiếu tá Sỹ là một người Ki tô quá khích và là một người thân tín của Tổng giám mục Thục.

 Ngã tư đường trước Đài phát thanh giống như một bãi chiến trường giờ đây hoang vắng. Vô số chiếc xe đạp cong queo và dày dép đủ màu nằm ngổn ngang trên đường giờ đây đã vắng bóng người; chỉ có một nhóm nhỏ thanh niên Phật tử cầm cờ năm màu đi về hướng phía bên kia chiếc cầu, theo sau là một chiếc thiết giáp, thỉnh thoảng bắn đuổi theo sát trên đầu người. Có hai viên cảnh sát đứng ở đó, nhưng chắc cũng không rõ tại sao họ có mặt. Chúng tôi hỏi các người cảnh sát, có gì trầm trọng không. Họ nói không biết gì và khuyên chúng tôi nên vào nhà thương xem thử sao.

  Trong khu nhập viện có khoảng 20 người bị thương đang nằm. Không có ai bị thương trầm trọng cả. Họ chỉ bị trầy xước va trẹo xương vì trong lúc hỗn loạn, họ đã bị đè bẹp và dẫm lên người. Họ đang được chăm sóc bởi bác sĩ Tô đình Cự, trưởng phòng mỗ của bệnh viện. Ông ta có vẻ hốt hoảng khi thấy chúng tôi xuất hiện. “Các ông hãy về đi, đây không phải là chuyện của các ông. Chỉ có một vài vết thương nhẹ, một mình chúng tôi cán đáng được rồi”, ông ta nói như vậy. Khi chúng tôi sắp sửa ra về, thì có một người y tá trước đây làm trong khu Tâm thần ra dấu kêu tôi lại. “Ông hãy vào xem trong nhà xác”, ông ta nói khẻ bên tai tôi như vậy.

      Nhà xác nằm bệnh cạnh nhà thương điên và do những lao công của nhà thương này canh gát. Không có ánh đèn điện. Dưới ánh sáng yếu ớt  của đèn bạch lạp, chúng tôi thấy có bảy thân người đầy máu me được đặt trên ba bàn khám nghiệm bằng đá. Từ chân đến ngực thân thể họ còn nguyên vẹn. Nhưng năm cái xác “tất cả là trẻ em” - thì không còn đầu. Nơi một người phụ nữ thì có những vết đạn bắn vào cánh tay, vai và cổ. Các xe thiết giáp đã bắn nát đầu các em thiếu nhi, có lẽ vào lúc các em leo qua hàng rào của Đài phát thanh và nhô đầu ra trước. Nếu như các em khôn ngoan như người lớn, tức là nằm xuống dưới đất lúc súng đạn bắt đầu nổ, thì có lẽ các em đã không hề hấn gì.

      Cha mẹ của những người tử nạn đang thút thít khóc. Người cha của một em bé gái đã chết yêu cầu chúng tôi chụp hình những xác chết. Nhưng chúng tôi không có mang theo máy hình. Hans và Tý đi về kiếm Orje, vì anh ta có đem về Huế đầy đủ máy móc. Khi tôi muốn quay đi không muốn nhìn cảnh thê thảm này nữa, thì tôi chợt thấy bên cạnh cánh tay của một xác trẻ em không đầu một con mắt  dính vào một  ít  da đầu và một khúc xương trán.

      Trước nhà xác tôi gặp một vị sư trẻ tuổi của chùa Bảo quốc và đang theo học tiếng Phạn tại Đại học. Ông ta đã trốn vào nhà thương vì sợ bị bắt giữa đường. Tôi đưa ông ta về lại chùa, tọa lạc chỉ cách căn phòng tôi ở vài bước.

      Khi về đến khu cư xá giáo sư đại học tôi vội bước lên các tầng cấp để đến căn phòng của gia đình Giáo sư  Krainick. Tình cờ lúc đó bà Krainick đang đọc vào máy ghi âm bức thư gia đình hỏi thăm các người con. Trong sự hốt hoảng lúc bà và ông chồng nghe tôi kể lại những biến cố vừa xảy ra, bà đã quên tắt máy. Do đó mà có được lời tường thuật đầu tiên ghi lại chỉ không đầy một giờ đồng hồ sau các biến cố trên ; cuộn băng nhựa ghi âm này đã được dùng làm bằng cớ vào tháng chín năm 1963 trước Ủy ban Việt Nam của Liên hiệp quốc, kèm theo với lời khai danh dự chứng thật nguyên bản của Giáo sư  Krainick.” (Xin xem tài liệu "Hồi ký Pháp Nạn 1963" của trang nhà Khuông Việt)

[iii]  Nguyên văn bản Tuyên ngôn:

"Đã từ nhiều ngàn năm tăng và tín đồ Phật giáo trên thế giới cũng như trong nước vẫn trung thành với tôn chỉ: Từ bi, Vị Tha và Như Thật của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.

Phật giáo đến đâu đều đem lại một không khí an lành ở đó. Điều ấy lịch sử đã chứng minh.

Và, đã từ nhiều năm nay Phật giáo đồ bị khủng bố, đàn áp khắp nơi, chúng tôi vẫn nhẫn nhục, đương nhiên không phải hèn yếu mà vì ý thức c những nỗi đau khổ, tang tóc của hoàn cảnh dân tộc hiện tâi. Nhưng đau đớn thay, một số người đã lợi dụng quyền hành gây ra không biết bao nhiêu tang tóc đối với tăng và tín đồ Phật giáo khắp torng nước, đối xử một cách bất công với một Tôn giáo có hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc. Từ hành động này đến hành động khác, thậm chỉ đã chà đạp lên quyền lợi thiêng liêng nhất của Phật giáo đồ: Cờ Phật giáo quốc tế bị triệt hạ. Quyết định này đã trái hiến pháp và ngang nhiên vi phạm quyền tự do tín ngưỡng. Trước những hành động bất công đó, bắt buộc tăng và tín đồ khắp torng nước chúng tôi phải đứng dậy tranh đấu cho lý tưởng của mình.

Sự kiện xảy ra 3 ngày nay chính phản ánh tinh thần đó. Máu đã chảy, nhân mạng đã bị hy sinh, một lần nữa, chúng tôi cương quyết đề đạt những nguyện vọng dưới đây lên chính phủ, yêu cầu thực thi 5 điểm:

1. YÊU CẦU CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA THU HỒI VĨNH VIỄN CÔNG ĐIỆN TRIỆT GIÁO KỲ CỦA PHẬT GIÁO.
2. YÊU CẦU PHẬT GIÁO PHẢI ĐƯỢC HƯỞNG MỘT CHẾ ĐỘ ĐẶC BIỆT NHƯ CÁC HỘI TRUYỀN GIÁO THIÊN CHÚA ĐÃ ĐƯỢC GHI TRONG ĐẠO DỤ SỐ 10.
3. YÊU CẦU CHÍNH PHỦ CHẤM DỨT TÌNH TRẠNG BẮT BỚ, KHŨNG BỐ TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO.
4. YÊU CẦU CHO TĂNG, TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO ĐƯỢC TỰ DO TRUYỀN ĐẠO VÀ HÀNH ĐẠO.
5. YÊU CẦU CHÍNH PHỦ ĐỀN BỒI MỘT CÁCH XỨNG ĐÁNG CHO NHỮNG KẺ BỊ CHẾT OAN VÔ TỘI VÀ KẺ CHỦ MƯU GIẾT HẠI PHẢI ĐỀN BỒI ĐÚNG MỨC.

 Những điều trên đây là những nguyện vọng tối thiểu và thiết tha nhất của toàn thể tăng và tín đồ Phật giáo trong cả nước. Chúng tôi sẵn sàng hy sinh cho đến khi nào những nguyện vọng hợp lý được thực hiện.

               Làm tại Huế, Phật lịch 2.507, ngày 10-5dl-1963.

Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt nam
Hòa thượng TỊNH KHIẾT (ký tên)
Hội Trưởng Tổng trị Sự thượng tọa T. TRÍ QUANG (ký tên)
Hội trưởng ban Trị sự, Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên
Thượng tọa T. THIỆN SIÊU (ký tên)
Trị Sự trưởng Tổng trị sự Giáo hội Tăng già trung Phần
Thượng tọa T. MẬT NGUYỆN (ký tên)
Trị sự trưởng ban Trị sự giáo hội Tăng già Thừa Thiên
Thượng tọa T. MẬT HIỂN (ký tên)

flash-5sac.gif (367 bytes)  Hồi ký TKL (tiếp theo): Tuyệt thực tại chùa Từ Đàm

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........