curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 

   Tuyệt thực tại chùa Từ Đàm

Thái Kim Lan

1. Không hẹn mà lên !

           Xe vừa rời đường Lê Lợi quẹo trái, tôi đã thấy quang cảnh khác hẳn dưới phố. Nhiều đoàn người cũng đang vội vã như tôi đi lên hướng dốc chùa Từ Đàm, cảnh tượng tấp nập rộn ràng, nét mặt người đi có vẻ căng thẳng. Nhiều anh chị mặt đồng phục gia đình Phật tử còng lưng đạp xe lên dốc. Đến lưng chừng dốc, đã thấy nhiều đòan người từ nhiều ngã khác nhau đổ về, giữa những tà áo lam, áo trắng của đoàn người, thấy lố nhố rất nhiều cảnh sát và lính quân đội đang nhảy xuống từ các xe jeep và xe thùng của quân đội VNCH. Hai ba chiếc xe tăng đứng lù lù đe dọa trên đường đi. Từng cuộn dây kẽm gai nằm sẵn hai bên vệ đường. Cảnh sát và lính đều có mang dùi cui, súng dài trước gắn mã tấu gờm gờm trông rất kinh hoàng, thắt lưng lủng lẳng lựu đạn. Tiếng còi xe, tiếng huýt còi của cảnh sát chận người đi, tiếng chuông mõ vọng từ đàng xa nghe hỗn loạn lạ thường, nhưng đòan người cứ như nước lũ, không thể cản ngăn đường lên chùa. Tôi đã phải quày xe tìm đường đi tắt, xuống xe để lách và chen. Cuối cùng tôi lên được chùa, đi theo ngõ sau đến nhà bếp. Tôi vất xe nơi góc bếp và chạy vội lên mấy bực cấp ra sân.

Tôi đang nhảy hai bực cấp một cho mau thì đụng phải Phan Chánh Đông đang cầm tờ giấy trong tay trờ đến. Đông bật lên tiếng kêu “Ui chao ! Kim Lan, chừ mới tới !” Hắn chẳng nói thêm, nắm lấy cánh tay tôi lôi tôi gấp bước chạy theo lên giảng đường bên trái của sân chùa. Trên thềm bên góc trái trước cửa ra vào có cái bàn nhỏ và hai cái ghế. Trên bàn ngổn ngang giấy tờ và một máy đánh chữ nhỏ. Hắn ấn tôi ngồi xuống ghế và bảo: “Nì, chừ chỗ ni là của “bà” đó nghe, “bà Đoàn phó nợ!” và không để tôi dương mắt to thêm hắn tiếp: “Anh Đoàn trưởng và anh Phó Đoàn phải vô suối Lồ ồ học cần lao nhân vị theo chỉ thị của trường Đại Học sau khi chấm  thi. Chỉ còn Phan Đình Bính với tui với bà thôi đó bà ơi. Việc nhiều lắm!”

“Coi nơi tề!” Hắn chỉ tay ra sân.

Tôi quay ra. Thấy sân chùa chật ních với áo vàng áo nâu áo lam áo trắng. Cảnh tượng có vẻ trầm hùng chứ không hỗn loạn như bên ngoài.

Đông nói: “Quí Ôn Quí Thầy và Quí Sư Bà Sư Cô đang phát động cuộc tuyết thực đợt một. Thầy Trí Quang đã tuyệt thưc ba ngày nay, để phản đối chính quyền không chịu thực thi nguyện vọng của Phật tử. Gia đình Phật Tử cũng đã bắt đầu. Đoàn mình cũng khởi động cuộc tuyệt thực ngày hôm ni. Tui đang đánh máy xin qúi Ôn cho phép SVPT tuyệt thực.” Hắn chỉ tờ giấy đang cầm trong tay “Còn Phan Đình Bính vừa mới đi xuống phố kêu gọi các chị Tiểu thương ủng hộ cơm gạo cho chùa chưa lên.”

Quả nhiên những đoàn thể với những màu áo khác nhau đang ngồi trong nắng, xếp bằng trên đất, kẻ đội nón người đội mũ, mặt mày thanh thản nhưng cương quyết. Tôi nhìn bóng của cây Bồ Đề ở trước sân đang thu nhỏ lại, nghĩ trưa hôm nay trời sẽ nắng gắt hơn nữa, sẽ rất cực khổ cho những người ngồi trần thân trong nắng, cái nắng của ngày cuối tháng năm như đổ lửa trên lưng!  Hôm ấy là ngày 30.5.1963, sau ba tuần kiên nhẫn chờ đợi chính quyền đã nhiều lần hứa sẽ thực thi 5 điều trong bản yêu sách, rồi lại nuốt lời hứa, dùng dằng và  kiếm đủ mọi cách để không đáp ứng lời kêu gọi. Tôi ngồi xuống đọc nhanh các bản tài liệu để trên bàn, trong khi Đông tiếp tục nói :

 “Chừ phải lập danh sách SV tình nguyện tuyệt thực. Ai muốn tuyệt thực phải ký tên là mình tình nguyện, sau khi đã giải thích cách tuyệt thực như thế nào, chỉ tuyệt thực trong vòng 24 tiếng đồng hồ, sau 5 tiếng ngồi có thể nằm nghỉ trong giảng đường, chỉ được uống nước – chơ không phải như khi Kim Lan lẫy mẹ không ăn mà thủ bánh trong túi mô hí” – Hắn cười nhe cả hàm răng, hắn cười khi mô cũng rỗn rảng thoải mái phổi bò, đôi mắt ốc nhồi lấp lánh.  Tôi đã nổi tiếng có đôi mắt “khu đoại”, nhưng phải nhường Đông biệt danh này. Người ta nói mắt lộ rõ là người yểu số - ngày tôi du học trở về Huế sau mười năm, đau lòng nghe tin Đông chết trận để lại vợ và con. Đông không huyên hoang, làm việc hết mình, thực tiễn và tổ chức giỏi.

Đông chỉ cho tôi tập vở trên bàn: “Đây là cuốn sổ ghi tên  sinh viên tình nguyện tuyệt thực…” Chưa dứt câu bỗng một bóng người ào đến như một cơn gió lốc bên tôi với tiếng reo giọng Bình Định bắt chước giọng Huế “Chộ Mệ! Kim Lan! Gớm chưa, chừ mới thấy mặt”.

Nghe giọng tôi đã biết là anh Vĩnh Kha! Tôi cười : “Thì Kim Lan phải học thi không thôi hỏng làm răng!”

Thấy mặt Kha tươi rói hẳn lên, một tay anh đưa lên sửa sửa gọng kính cận thị dù gọng kính vẫn nằm yên trên sóng mũi thẳng, một tay anh đưa lên trước bụng như che chở cái bụng xẹp lép của anh, - cử chỉ cố   hữu của Vĩnh Kha, ngay cả trong những lúc trang trọng hay khẩn trương nhất như lên đọc diễn văn với tư cách chủ tịch Tổng hội Sinh viên trước hàng ngàn sinh viên trong những năm sau đó.  Anh ngoái cổ nói với Đông :

  “Thầy Trí Quang dặn, chuyện tuyệt thực của anh em mình nên cẩn thận, phải ý thức trách nhiệm! Chỉ có đoàn viên mới tuyệt thực được mà thôi. Và chúng ta phải phân công người đi săn sóc tình trạng sức khỏe của anh em và của tất cả những người tuyệt thực trong chùa. Thời tiết nóng nảy có thể bị ngã bệnh thì nguy lắm!”

Kha vừa nói vừa ngảnh mặt cười với tôi. Anh người cao gầy, có khuôn mặt dài, cằm hơi nhọn, da đen, dáng trí thức và chân thật hiền lành, anh là người được anh em thương mến nhất, chất phát trung thực, rất có tình và hết lòng với anh em bạn bè, chúng tôi thường kêu anh là Lưu Bị theo với tính nhân hậu của anh. Tôi rút quyển sổ ra và bảo: “Chừ Kim Lan xin ghi tên tình nguyện tuyệt thực đây nì”, vừa mở sổ tôi vừa đếm tên người đã ghi “Thêm Lan vô nữa là 19, rứa anh Kha hay Đông ghi vô nữa là hai mươi và chúng ta bắt đầu thôi!” “Ấy chết” Đông bảo, “...không được mô ! Thầy Trí Quang dặn anh em trong ban chấp hành chưa được tuyệt thực, vì phải để dành sức làm việc đó nghe. À mà Thầy dặn thêm, khi mô ai muốn vô tuyệt thực phải hỏi ba lần để họ suy nghĩ cho kỹ rồi mới ghi tên, ai muốn vô Đoàn SV cũng rứa!”

“Ờ, Thầy dạy giống như Đức Phật ngày xưa hè!” Tôi làm vẻ thành thạo.

Đông không để ý đến phản ứng của tôi, anh quay sang cầm máy phóng thay loan tin Đoàn SVPT bắt đầu tuyệt thực kể từ ngày hôm nay, lúc 10 giờ, để ủng hộ 5 điểm yêu sách của Phật Giáo và kêu gọi nhà cầm quyền thực thi nghiêm chỉnh những lời hứa trong các cuộc hội đàm. Nói xong anh hướng dẫn đoàn tuyệt thực xuống ngồi ở sân (ngày nay là nơi có tượng của Bác sĩ Lê Đình Thám, trước thềm nhà khách, bên tay mặt hông chùa).

Nếu ai thấy chúng tôi ngày hôm ấy, chắc chắn người ấy sẽ không ít thì nhiều “nực cười châu chấu” – chúng tôi tuy đã mười chín hai mươi hăm mốt nhưng đứa nào đứa nấy chẳng có kinh nghiệm cuộc đời chi cả và mặt mày thì non choẹt thứ “bạch diêﮠthư sinh” – Thấy chúng tôi thời ấy, một lũ “oắt con” ngơ ngáo giữa đời mới có thể hiểu được tại sao các vị Tổng thống, Cố vấn, ông Cậu ngồi trên đỉnh cao, thường quen được kẻ hầu người hạ và kẻ cận thận xưng tụng sáng trưa chiều tối một điều Tổng thống hai điều Tổng thống – thường hay ưa xoa đầu trẻ cho bánh kẹo, đã tưởng mình ở trên cửu  trùng cao vời vợi, thương xuống cái lũ trẻ ranh mà họ nghĩ là đã đối xử “quá tốt” và là những con cừu non phải ngoan ngoản vâng lời, nên đã nổi giận điên cuồng ra tay đàn áp trừng trị, bởi vì họ đã không tưởng tượng được đám người trẻ này có thể lên tiếng đòi các vị thực thi bình đẳng, công bình tôn giáo.

Trong lúc Đông đọc bản tuyên bố của Đoàn Sinh viên tuyệt thực và danh sách những người tuyệt thực đợt đầu, Kha quay sang tôi : “Kim Lan ốm gió thổi bay mà dám tuyệt thực, ba thành cái que reng ?”.  Tôi cười bảo : “Để rồi anh Kha biết, không cho Lan tuyệt thực đợt đầu thì Lan ghi đợt hai đây nì”  Tôi dọa chơi, - biết thế nào anh cũng can: “Mà 48 tiếng lận!” Không để anh phản đối tiếp sau khi nguýt tôi kiểu rất chi là Vĩnh Kha - mắt nhìn nghiêng miệng bĩu ra như muốn nói tôi chuyên môn làm “tàng”.  Tôi nói luôn một mạch:

“Chừ mình phải làm bản phân công cho anh em luân phiên ngồi đây để nhận tin tức, viết bản tường thuật, tiếp đón báo chí cho quí Thầy, nhất là các phóng viên ngoại quốc, cũng như coi sóc tình trạng sức khỏe của những người đã tuyệt thực xong, phải lo cơm nước cho họ, phải có chỗ nghỉ trước khi họ trỏ về nhà, lập danh sách số người để đưa cho nhà bếp biết mà nấu cơm, liên lạc với các cán sự điều dưỡng để nhờ họ lo thuốc men khi cần...”

      Tôi đang thao thao với Kha thì nghe có tiếng người vọng qua đầu đám người lố nhố  đàng trước : “bàn giấy của Đoàn SVPT ở chỗ mô rứa o hè?”.  Liền đó giọng đài cát đãi ra bên  tôi : “Nì o tê, tui muốn ghi tên vô Đoàn SVPT liền chừ được không ?”, giọng nửa thật nửa đùa, rất tiêu biểu, ngay cả những lúc quan trọng thập tử nhất sinh. Không cần ngẩng đầu lên tôi cũng biết là anh Bửu Tôn, cố nhân thời đệ nhất Quốc học của tôi.

      “Hoan hô Mệ Tôn, có rứa chơ!” Đông vừa trở lại nhanh miệng dành tôi nói trước, “hên rồi đó nghe, có hoàng tử chiếu cố!”. Bửu Tôn, thường được chúng tôi kêu là “Tống Ngọc” vì rất  là “công tử”, dáng dấp qúi phái của “Mệ Út” được cưng chìu, môi lúc nào cũng mọng đỏ như có thoa son, nói bướng “làm đày kiểu Mệ”: “Vô thì vô rồi đó, phải lên tiếng thôi! tức quá rồi, chịu không nỗi sự dối trá bất công ni. Nì chuẩn bị mà đón cả trường y khoa sắp sửa lên đây đó nghe! Sáng ni moa vô thi giờ ông Bác sĩ Wulff, trước khi thi ông nói như tát nước vào mặt, rằng những người trí thức như các anh mà có thể ngoảnh mặt làm ngơ trước một biến cố tàn nhẫn bất công xảy ra như thế, các anh không thể ngồi yên được. Moa nóng luôn cả mặt vì hổ thẹn. Một người ngoại quốc mà còn thấy bất nhẫn thì mình ngồi yên răng được đã chơ!”  Anh vừa nói vừa ghi tên vào sổ đoàn viên.

Tôi định lên tiếng hỏi thì bỗng nghe tiếng la kinh hoàng từ ngoài cổng chùa: “lựu đạn cay, lựu đạn cay, bà con ơi, chạy... chạy...!”  Tiếng chạy huỳnh huỵch tán loạn, tiếng la thét, tiếng kêu cứu, hình như  có người bị trúng lựu đạn. Chúng tôi đồng đứng dậy, chạy xuống tầng cấp, đã thấy từ cổng một nhóm anh huynh trưởng gia đình Phật tử và một số người đang lết bết dìu những người bị thương vào cổng chùa. Chúng tôi chạy ra: “Hãy đưa họ vào nằm tạm trong giảng đường”. Một trong những người mới vào bảo tôi : “Nhờ chị đi lấy nước và khăn ước đem tới giùm!”  Chúng tôi đưa những người bị thương vào nằm tạm trên những chiếc ghế dài. Mấy chị hối hả chạy đi lấy quạt. Người bị thương rên la. Người mới vào có vẻ thông thạo cách cứu chữa, dáng người nặng nề lịch bịch nhưng dễ thương, mặt lúc mô cũng phụng phịu như đang hờn dỗi, trong lúc ấy càng thấy phụng phịu hơn, anh vuốt mồ hôi nhỏ giọt trên trán : “Chị cho tui ghi danh vô trong Đoàn, tui muốn tuyệt thực ngày hôm nay!”.  Giọng anh ướt như muốn khóc: “Tui là Kỳ, T.T. Kỳ, sinh viên y khoa.”, rồi lại dơ tay quệt trán, chép miệng: “Phải cho người xuống trạm y tế hay tiệm thuốc tây xin băng chữa phỏng, vết phỏng khá nặng.”.   Tôi líu quíu chạy tới chạy lui, may có Bửu Tôn cũng nhào vô giúp mấy người bị thương. Tôi chạy ra tìm Kha để nhờ xuống phố mua thuốc chữa phỏng. Lại thấy Kha đang dìu một chị trong GĐPT vào, chị đang tuyệt thực, trời quá nóng nên xỉu trên đất. Chúng tôi đưa chị vào nằm trong nhà giảng chung với những người bị thương.

Trong lúc ấy các cuộc dằng co giữa những người muốn vào chùa với cảnh sát và quân đội vẫn còn tiếp tục, đoàn người kéo lên chùa càng ngày càng đông, họ gặp nhau từ các ngã đường và họp nhau lại thành những toán biểu tình bất ngờ, họ nóng lòng muốn biết tình trạng sức khoẻ của quí Thầy, quí Ôn và những người tuyệt thực nên bất chấp giây kẽm gai và lựu đạn cay, vượt qua mọi chướng ngại, nhảy qua hàng rào dây kẽm gai trên cuối dốc mà băng băng đi đến chùa.  Tiếng quát tháo “đứng lại!” sau tiếng còi xúp lê và tiếng năn nỉ của mấy mệ mấy o: “cho tui đi, tui lên chùa mà răng mấy chú không cho đi, tội rứa hè.”

      Bỗng nghe có tiếng sang sảng như chuông từ tâng cấp giảng đường : “Nì tụi bay mô hết, có đoàn người muốn lên tuyệt thực đây nì”.  Tôi đang quạt cho mấy người bị thương liền bỏ quạt chạy ra. Người vừa nói dáng điệu ngất ngưỡng, - hể mỗi khi thấy anh, nghe anh nói sang sảng và cười ha hả thẳng thừng không sợ mất lòng ai, tôi hay liên tưởng đến câu “dọc ngang nào biết trên đầu”, mặc dù về sau anh chỉ là...“Từ Hải đạp xích lô” không có gươm mà chẳng có chèo, nhưng rất mực thông minh, liệu việc thần tốc và miệng lưỡi khá hùng biện : anh N. Văn – một luật sư , lớn tuổi hơn chúng tôi, anh xem chúng tôi  như đàn em. Anh Văn đến và theo sau là một đoàn người, đông nhất là sinh viên y khoa, một vài người luật khoa, khoa văn, khoa Hán học và rất đông cán sự y tế nhất là các nữ cán sự y tế.

Anh Văn oang oang : “Tau đi dưới phố thấy tụi hắn kéo đoàn đi biểu tình, tau thấy vui nhập bọn lên đây. Hai đứa ni cũng rứa gặp hắn giữa đường. Ha ha!”  Anh chỉ người hai người đứng sau, trẻ tuổi, có tên đẹp : T. Nhân và Trần Duy, sinh viên Luật và Sư phạm.

Tất cả mọi người muốn ghi danh tình nguyện tuyệt thực. Tôi giải thích thể lệ tuyệt thực. Mọi người đồng ý ghi tên gia nhập Đoàn SVPT trước khi ký giấy tình nguyện.

      Tôi ghi tên các anh chị gia nhập đoàn với một cảm giác lạ kỳ như người đang say sóng, cảm tưởng như mình đang ngồi trên một chiếc thuyền đầu ngọn triều dâng , vừa hồi hộp vừa hăng say muốn vượt trùng dương. Trong hai tiếng đồng hồ ngắn ngủi tại chùa Từ Đàm, nỗi vui   trùng phùng với anh em và những biến cố dồn dập liên tục gây một cảm xúc ngợp người khó tả. Tay tôi viết tên những người mới gia nhập Đoàn SVPT mà lòng tôi chếnh choáng từ nỗi ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Mới ngày nào Đoàn thành lập với một số đoàn viên khiêm tốn, vậy mà trong khoảng thời gian ngắn, tôi đang ghi con số thứ 70! Chẳng cần ai kêu gọi ai mà người đến với người, tay với bàn tay.  Có phải đó là một sự huyền diệu?  Hàng trăm hàng nghìn người đồng lòng xông xáo lên chùa hưởng ứng lời kêu gọi của Qúi Ôn. Có phép lạ nào đó mà mọi e dè lạ lùng “kiểu Huế” đều biến mất?  Tôi nhìn quanh mình, thấy những gương mặt chưa bao giờ quen mà đã là anh em.

Số người xin gia nhập Đoàn mỗi lúc một đông, tôi không viết được nữa mà để họ tự ghi tên vào sổ. Trong vòng hai ngày con số đã lên nhanh kỷ lục : hơn 200 người vừa đoàn viên vừa cảm tình viên. Chúng tôi phải chia ra thành 3 đợt tuyệt thực trong một ngày, những người tuyệt thực phải ở lại một đêm trong chùa, để tránh mọi vu khống vô ích là về nhà “ăn chùng”.

Vì bất ngờ không nghĩ số người gia tăng như vậy nên chúng tôi phải xin trưng dụng giảng đướng làm nơi nghỉ cho những người tuyệt thực, phải trải chiếu  nằm trên nền xi măng, bàn và ghế ngăn chận bên nam bên nữ. Việc tổ  chức phần nhiều là bộc phát, sáng tạo trong hoàn cảnh. Mà hình như càng bộc phát lại càng thách đố sự thức tỉnh trong mỗi cảnh huống nên chúng tôi càng hăng say.

Với “khí thế” (chữ mà anh em thường dùng lúc ấy) sôi nổi của một phong trào đang lên cùng với số đoàn viên vụt tăng bất ngờ, theo yêu cầu của mọi người, chúng tôi mở một buổi họp khoáng đại bất thường. Chưa bao giờ có một buổi họp khoáng đại nào đã làm cho tôi xúc động như buổi họp bất ngờ hôm ấy, xúc động trước nhiệt tình của tuổi trẻ không thể ngồi yên trước sự bất công đã đành, nhưng điều mà mãi đến hôm nay tôi không thể quên được là đã tiếp nhận trong ánh mắt của những người trí thức trẻ hôm ấy ánh sáng của tấm lòng nhân ái đối với “kẻ yếu thế đang bị đàn áp”, một tín hiệu mà Mạnh Tử đã cho là điều kiện để “thành nhân”.

Chúng tôi cùng nhau lập bản kiến nghị của Đoàn SVPT với tất cả sự hăng hái và chân thành của những người sẵn sàng “hi sinh cho đạo pháp”. Hôm nay khi nhắc lại chắc chắn có người sẽ mĩm cười về sự “bồng bột tuổi trẻ”, nhưng vào thời điểm ấy, mỗi tiếng mỗi lời đều như được sẵn sàng đánh đổi bằng cả tuổi thanh xuân !   [i]

Với một sự tin tưởng ngây thơ tuyệt đối, chúng tôi nghĩ “lòng thành” của mình chắc chắn sẽ động đến “trời”, cảm hoá được lòng người nên tâm vô úy trùng trùng lớp lớp!

Vừa hay tin của các anh trong Gia đình Phật tử cho biết ở cầu Bến Ngự và dốc lên Từ Đàm các đoàn Gia đình Phật tử bị chận đứng và nhiều người lãnh lựu đạn cay cháy da phỏng trán, nhiều người bị thương la liệt. Bấy giở thừa “khí thế” đang lên, anh Tổng thư ký Phan Đình Bình hăng hái đề nghị anh em kéo xuống để giúp đỡ những người bị thương cũng như thương thuyết với cảnh sát cho phép đoàn người lên chùa. Anh bê luôn cả tượng Phật, đi đầu với tư thế trịnh trọng – Bính thường có dáng điệu trầm trọng của kẻ sắp sửa “liều mình cứu chúa” trong cơn nguy nan, đôi mắt với hàng lông mi dài bất thường rủ xuống ướt át, huyền hoặc của một kẻ hành động theo cảm xúc cuồng nhiệt và cái cười lệch nhếch mép của một người hùng bi kịch dễ mệnh yểu (anh đã từ giã cõi đời sớm hơn ai trong chúng tôi, có lẽ cũng do hậu quả của cuộc tuyệt thực quá lâu sau này của anh) – anh cùng với một số anh em (trong đó nếu tôi không lầm có cả anh Tôn Thất Chiểu của Tổng hội SV Sài gòn) xông pha mở đường “giải vây” cho những người đồng đạo!

Đoàn người đi không lâu, trong lúc tôi vẫn còn chìm ngập trong đám đông của nhóm sinh viên xin gia nhập Đoàn, bỗng nghe tiếng người chạy đến kêu “Anh Đông ơi, anh Kha ơi, Phan Đình Bính bị bắt rồi!”. Hiệp vừa thở vừa kể cho chúng tôi nghe, Bính bị công an mật vụ chận đường hỏi giấy, và không để cho anh phản ứng họ kéo anh theo, thúc hai bên hông và tống anh lên xe Jeep. Hiệp thở hổn hển: “Em lén ráng chạy theo để coi họ đưa anh Bính đi mô, thấy đi hướng Nha công an!”.

Chúng tôi kinh hoảng. Trong đợt đầu của cuộc vận động bất bạo động, chúng tôi mất cánh tay hăng hái và năng nổ nhất là người tổng thư ký này.

Chúng tôi lại kêu gọi anh em cùng nhau thảo luận, mọi người đồng tình nên thảo một thư phản đối sự bắt bớ vô cớ này và yêu cầu ông Tỉnh truởng phải can thiệp để thả Phan Đình Bính ngay.

Đây là văn thư đầu tiên mà tôi đã ký thay các anh Đoàn trưởng và Đoàn phó trong mùa Pháp nạn. Để bổ sung thêm người trong ban chấp hành, chúng tôi chia nhau công việc, V. Kha thay Đông làm phó tổng thư ký, còn Đông thay Bính làm Tổng Thư Ký, B. Tôn lo ngoại vụ, tiếp các phóng viên báo chí, T.T. Kỳ lo về y tế và sức khoẻ của người tuyệt thực. Anh Văn cố vấn về luật. Chúng tôi đem thư đã thảo lên các Thầy xin duyệt. Thầy Trí Quang cũng đã hay tin. Cùng với thư của chúng tôi có văn thư của Chùa, cho người đem xuống Tỉnh. Ông Tỉnh Trưởng hứa sẽ giải quyết, nhưng Bính vẫn không được thả ra.

P.Đ. Bính tuyên bố với báo chí tuyệt thực trong tù. Tin P.Đ. Bính tuyệt thực trong tù đã gây một xúc động lớn trong những ngày sau. Anh đã tuyệt thực bảy ngày liên tiếp để đòi hỏi chính quyền phải thực thi những điều đã hứa trong bản ký kết. Anh là người được quí Thầy nhất là Thầy Trí Quang rất quí trọng vì sự can đảm sẵn sàng hi sinh của anh.

2. Sinh viên Phật tử Huế tuyệt thực :

Tin Sinh Viên Phật tử Huế tình nguyện tuyệt thực trước tiên được loan ra trong sân chùa Từ Đàm. Dạo ấy trạm thông tin trực tiếp cho cuộc vận động Phật giáo lúc Pháp Nạn xảy ra là sân chùa Từ  Đàm. Một loa phóng thanh được dựng ở tầng cấp lên chánh điện, dùng để loan báo tin tức cho tất cả Phật tử trong và ngoài chùa. Người xướng ngôn viên thường trực đọc các thông bạch, các tin tức thương thuyết, đấu tranh đòi bình đẳng tôn giáo là anh Huynh trưởng Gia đình Phật tử  kỳ cựu Nguyễn Khắc Từ mà tôi sẽ nhắc lại cảm tưởng của mình về người Huynh Trưởng đã dành cho tôi nhiều sự kinh ngạc thán phục này từ khi mới gặp gỡ tại chùa Từ Đàm cho đến hết mùa Pháp nạn.

Không hiểu sao tin SVPT Huế tuyệt thực lại gây một chấn động lớn không những trong mọi tầng lớp dân chúng thành phố Huế mà còn trong toàn thể miền Nam thời bấy giờ. Bên cạnh Gia đình Phật tử mà chúng tôi thường gọi đùa là “bên nội” của CHÙA – chúng tôi gọi CHÙA để chỉ TAM BẢO – chúng tôi thường xem mình như là “bên ngoại”, có nghĩa là còn xa xôi “cách sông trở đò” trong mọi liên hệ chùa chiền tín ngưỡng. Chúng tôi còn “mới y nguyên” trong phong thái tư duy cũng như  niềm tin và mang sẵn trong người một chút ý thức phê bình, sẵn sàng “đặt vấn đề”, cái bệnh muôn đời của trí thức mà lắm người sợ hãi.

      Đối với người Huế còn mang truyền thống “chuộng sĩ” thời ấy, thành phần sinh viên là thành phần ưu tú, vô tư và trong sạch, chưa bị bả danh lợi làm mờ lý tưởng, có trái tim nóng hổi và tấm lòng chí thành. Ở trong gia đình, sinh viên là cả một hứa hẹn tương lai rường cột của nhà, của nước, là kẻ sẽ “cầm cân nảy mực” về sau, nên đã được mến chuộng và tin tưởng không những trong ngưỡng cửa gia đình mà còn ngoài xã hội.

Không biết những giả thuyết trên của tôi có đúng hay không. Nhưng những điều tôi đã chứng kiến ngay tận mắt trong những ngày hôm ấy tôi không bao giờ quên được.

Hôm nay khi viết những giòng này tôi như còn cảm thấy được hơi nóng của giọt nước mắt  của một bác đạo hữu không quen rơi trên tay khi bà cầm tay tôi mà khóc trong ngày tuyệt thực lần thứ hai.

      Sáng hôm sau tôi đã ghi tên tuyệt thực, mặc dù có lệnh của Thầy người trong ban chấp hành không được tuyệt thực. Tôi muốn tham gia ngồi tuyệt thực với anh em. Khi thố lộ với nhau mới biết không riêng tôi mà ai trong BCH cũng cùng một tâm trạng, muốn tuyệt thực để tỏ rõ ý chí đoàn kết với mọi người, nên chúng tôi đề nghị mỗi người luân phiên nhau tham gia tuyệt thực. Tôi cương quyết, vì muốn chính mình cũng “dấn thân” để nếm mùi “bụng đói”, nhất định dùi mài chữ  “không... ăn” như một dấu hiệu “đọa đày” thân xác để khuyến cáo những vi phạm đạo đức tín ngưỡng của con người đối với con người.

Tôi ngồi với mấy anh chị khác, cứ năm người một hàng, cùng với các anh chị trong GĐPT, thành một tấm thảm nón lá “tuyệt thực” ở trong sân. Không khí hôm ấy lại càng căng thẳng hơn hôm trước. Các đạo hữu nghe tin SV tuyệt thực kéo lên lũ lược để chứng kiến tận mắt cuộc “hy sinh” của những người vốn nỗi tiếng “dài lưng tốn vải”. Những cuộc xô xát vẫn xảy ra trước cổng sân chùa, nhưng lựu đạn cay và dùi cui không làm sờn lòng Phật tử, mọi người đến vây quanh chúng tôi, các bà các chị mặc áo lam thuần hậu, những người Phật tử muôn đời như một đã nhìn chúng tôi với đôi mắt thương cảm và... ‘thán phục’ – thật sự tôi cảm thấy trong lòng rất ái ngại khi được các bác thương đến như thế, bởi lẽ việc nhịn đói thật là một điều quá nhỏ nhoi trong đại cuộc hôm ấy – nhưng trong mắt họ chúng tôi đang thay thế họ để nói lên những điều mà tuổi già của họ không cho phép họ thực hiện được : lên tiếng để bảo vệ TAM BẢO, và phải nói tôi đã trải qua nhiều cảnh bất ngờ sửng sốt.

Có nhiều ‘mệ’ đạo hữu tóc đã bạc phơ đến cầm tay chúng tôi và cứ xuýt xoa “tội chưa nì!”. Nhiều người e dè đứng xa xa vái vái quanh bốn phía với vẻ trân trọng. Nhiều bác tò mò ghé mặt vào tận trong nón của chúng tôi để nhìn cho rõ mặt chúng tôi rồi nói “Ui chao ơi, ốm yếu như ri mà còn nhịn ‘đoái’ nữa!  Có khổ thân chưa, lạy Phật phù hộ!”  Có bác đến cầm tay chúng tôi mà nước mắt chảy ràn rụa và nói : “sinh viên mà cũng nhịn đói được, chịu khổ như ri, thiệt là con Phật!”.  Bên kia có bác vừa khóc vừa ghé tận mặt anh chị khác nói  “chao ơi, mặt mũi trâm anh như ri mà cũng ngồi giữa nắng tuyệt thực! Răng mà người ta tham sân si để ra nông nỗi ri hè?”;  “Sinh viên người ta có đủ hết mà người ta còn tuyệt thực như ri. Răng mà họ ác nhơn ác đức rứa không biết!”; “Sinh viên có ăn có học mà dám tới ngồi đay để cứu khổ cứu nạn! Mô Phật! Cầu Quan Thế Âm ngài phù hộ cho tai qua nạn khỏi!”.  Lại có bác đến gần chúng tôi và lén lén dúi vào tay chúng tôi mấy cái kẹo, nói nhỏ “thì cứ ăn đi cho đở đói!”, làm như chuyện tuyệt thực là một trò làm nũng với mẹ không bằng!  Quanh tôi tiếng thì thầm, than vãn, cầu nguyện rì rào cùng với làn sóng người mỗi lúc càng đông.

Đôi khi có những cảnh thiệt tình không ai nghĩ đến : có những  người vừa bước lên sân chùa đã tất tả đến gần chúng tôi, chẳng nói chẳng rằng, sụp xuống lạy như tế sao. Chúng tôi ngồi đó, che mặt trong nón, gục đầu xuống đất, vừa xấu hổ vì sự nhỏ nhoi của mình vùa xúc động đến tận xương tủy. Sân chùa Từ Đàm hôm ấy đối với tôi, - một viên sỏi nhỏ,- bỗng trở nên một vùng biển đạo tình mênh mông với những làn sóng đưa tôi đến một bờ cát yên lành nào đó có nhiều bóng mát trong cơn nắng tháng năm rực lửa bao quanh.

Hôm ấy là ngày 31 tháng 5.

Trời nắng dòn tan như bánh tráng nướng.  Cơn nóng của Huế có thể làm say, làm mệt lả đến ngất người.  Quá ngọ có nhiều chị, nhiều bác trong GĐPT mặt mày tái mét vì xuất hạn mồ hôi, lảo đão luỗi cả người cần phải được dìu vào giảng đường để nghỉ và khám sức khoẻ.

Phần y tế trong lúc này là là phần quan trọng nhưng cũng là phần thiếu người chuyên môn nhất. Tuy nhiên có một điều rất kỳ diệu là trong cuộc vận động mùa Pháp nạn này, nhiều sự trợ lực bất ngờ đến từ bên ngoài như một phép lạ. Ngay những lúc mọi người đang bối rối vì có người bị thương hay đám biểu tình bị lựu đạn cay, thì hình như chúng tôi đã có qúi nhân phò trợ đến ngay bên cạnh. Buổi sáng mai, từ đám người tuyệt thực, tôi có thể thấy T.T. Kỳ tất tưởi từ  phòng của quí Ôn chạy xuống qúi Thầy rồi đến những người ngồi ngoài sân, V. Kha, chị Tuyết và các chị khác đi quanh với bình nước lạnh và khăn ướt trong tay. Bỗng thấy B. Tôn dang hai tay cười tươi rói chạy ra đón ba nhân vật xuất hiện : bác sĩ Wulff cùng với hai người bạn giáo sư bác sĩ Đức của ông và một vài người khác trong nhóm y khoa đến thăm tình trạng sức khỏe của Thầy Trí Quang (đã tuyệt thực ba ngày nay), quí Ôn, quí Thầy và những người đang tuyệt thực. Bác sĩ Wulff là người đã kêu gọi các bác sĩ và sinh viên y khoa lên chùa Từ Đàm quan sát và khám nghiệm tình hình sức khỏe của những người tuyệt thực. Ông làm việc cẩn trọng, nhiệt tâm, khiêm tốn và rất khoa học, rầt đúng với mẫu người Đức trí thức mà tôi được biết. Ông xem mạch cho tất cả mọi người có tình trạng sức khỏe bấp bênh.  Ông đã trở thành ân nhân số một của phong trào Phật giáo 63. Thầy Trí Quang kể lại : “Khi biến cố Phật giáo xảy ra, ông nói với sinh viên của ông, ngay trong lớp rằng bản thân ông rất có kinh nghiệm về nạn độc tài. Ông từng là thanh niên chống phát xít Hitler. Ông khuyến cáo sinh viên hãy chống độc tài. Bấy giờ tôi mới nghe nói về ông. Khi mới tuyệt thực, tôi nhờ ông làm y sĩ giám hộ. Ông nhận lời, lên Từ Đám liền với tôi, cả hai người bạn giáo sư của ông cũng lên, xông xáo lo việc với Phật tử. Dĩ nhiên ông và bạn ông biết thế nào cũng bị trục xuất và trục xuất sớm. Trước khi bị như vậy, ông xuất tiền túi đi Nam Vang, mang theo hai điệp văn của tôi. Một gửi Tổng thư ký Liên hiệp quốc báo tin PG bị kỳ thị nặng nề, nhân quyền ở VN bị vi phạm trầm trọng. Một gửi Chủ tịch tổ chức Liên hữu Phật giáo thế giới. Ông lại mang thư tôi gửi các vị đang du học hải ngoại : Minh Châu, Thiện Châu, Nhất Hạnh, Mãn Giác, Mạn Đà La. Ông cũng mang theo mọi tài liệu, vào tận chùa Ấn Quang giao cho các Thầy. Rồi lên Nam Vang, ông ở đó gửi đi điệp văn và thư mà ông mang theo. Ông lại viết bài tường thuật gửi cho các hãng thông tấn  và báo chí danh tiếng. Làm việc cả tuần mới về VN. Khi bị trục xuất thì ông đi khắp nơi cần thiết, nhất là ở Mỹ, Pháp. Ông đi lại không ngừng, liên lạc và làm việc với các thầy Nhất Hạnh. Ông làm việc tận lực và đắc lực... Ông không những là ân nhân đặc biệt của tôi, mà còn là của cuộc vận động 1963”.  [ii]
63TQ.JPG (31124 bytes)

Với ông chùa Từ Đàm bắt đầu đón tiếp những người khách mới, lạ hoắt với máy ảnh lủng lẳng treo vai, với máy quay phim và các xách tay có vẻ phong trần : các ký giả ngoại quốc từ Pháp, từ Úc và từ Mỹ đến. Công việc của anh em sinh viên Phật tử lại nhiều hơn một chút trong việc hướng dẫn và giúp đỡ qúi Thầy trong các cuộc phỏng vấn. Trong một hoàn cảnh “cô thế” từ một nơi xa xôi hẻo lánh như ngôi chùa Từ Đàm, họ đã là những chiếc phao và cầu nối chúng tôi với thế giới bên ngoài. Cảnh tượng đầy hoà bình và đạo vị của những người đang tuyệt thực đã gây ấn tượng không ít cho những người phương Tây xa lạ này, tiếng nói của họ đã phản ảnh khá trung thực và nhờ đấy phong trào PG đã bắt đầu có tiếng vang ở trên thế giới.

      Cuộc vận động đang đến hồi căng thẳng cao điểm vì nhà cầm quyền càng lộ rõ sự vô thiện chí và dối trá tìm mọi cách để chà đạp những điều mà Phật giáo đòi hỏi. Dưới phố các chị tiểu thương chợ Đông Ba đã trở thành một “phong trào” ủng hộ chùa Từ Đàm. Họ có thể đóng cửa tiệm lúc nào chùa cần và kéo nhau lên chùa, đem hết vật liệu thức ăn cúng duờng chùa. Họ là hậu cần không bao giờ cạn của cả mùa Pháp nạn. Đối với tôi họ là những “tiểu... yêu... thương... yêu” ngôi chùa và đạo Pháp bằng tất cả tấm lòng ranh mãnh của một Phật tính vô ngại và đầy mâu thuẫn sáng tạo của khế cơ. Không hiểu sao, hôm ấy tuyệt thực, vậy mà các chị, những người ăn quà rong nỗi tiếng thành phố Huế, lại đem lòng thán phục đám người đang nhịn đói, với tính thực tiển của nghề nghiệp họ đã kéo nhau lên chùa với đoàn tùy tùng theo sau là mấy chục bao gạo, đường muối, tương, ớt, đậu, mè...???  Các chị đến như một cuộc biểu tình từ dưới phố đi lên, không ồn ào như trong chợ, mà ngược lại hiền lành ngoan đạo trong màu áo lam. Chính chuyến vận tải này vô hình chung đã cưú chúng tôi trong những ngày kế tiếp. Không những về lương thực, chính họ đã tạo nên một thành trì kiên cố về thông tin bằng cách chuyền miệng, đấu khẩu với công an cảnh sát để bảo vệ chùa chiền và phong trào tranh đấu. Họ có thể đình công bãi thị trong chớp nhoáng để lên chùa và trở lại ngồi bán hàng tỉnh bơ cũng xuất quỉ nhập thần không kém. Và khi các chị dùng môn “võ mồm” nghề nghiệp để bênh Chùa thì mấy anh công an cũng phải lặng người mà chuồn đi một mạch.

 Ba mươi mấy năm sau gặp lại chị Thu, hôm nay vẫn còn lai rai là “tiểu thương chợ Đông Ba”, một đệ tử của Ôn Đôn Hậu, và là một tiểu thương Phật tử ủng hộ cuộc vận động ngay tư đầu đã nhắc lại thời ấy. “Răng mà quên được chị Lan hè ?”,  chị nói, “chừ mà vẫn còn nghe tiếng Thầy Trí Quang như chuông ngân rõ ràng trong đêm Phật Đản nớ. Tui còn nhớ ở chùa Từ Đàm khi Thầy hỏi  “các Phật tử có nghe Thầy nói không ?” thì mọi người đồng thanh dạ rân lên vang dội cả sân, rung rinh cả cành lá Bồ Đề : “Dạ nghe”. Thầy hỏi thêm “nghe rõ không?” là cả ngàn miệng một lần “dạ rõ!” ui chao ơi thời nớ răng mà muôn người như một.   Hắn vui mà lạ ghê chị hí. Ai ai cũng một lòng.”  Chị Thu ăn chay trường, người nhỏ bé tí và gầy như  “con mắm mòi”, nhưng gan lì và nhanh như sóc, chị chở gạo lên chùa như con kiến chở trên lưng cả một củ khoai lang to tướng mà vẫn đến đích, chị nấu chay cho hàng trăm người ăn như một đại tướng, và khi cần – có nghĩa là khi mọi đường lên chùa bị lính chận không cho đi, thì chị theo đưòng núi và lòn qua hàng rào đề vào chùa gọn lỏn như chuột lủi ! “Lên chùa làm công quả”, từ đó  đối với chị là lẽ sống của cuộc đời cho đến ngày hôm nay.

Hôm ấy chị “hộ tống” đoàn lương thực từ chợ Đông Ba lên chùa và cũng bị kẹt lại ở chùa như anh em SV chúng tôi.

Trong buổi ngồi tuyệt thực ngày hôm ấy, tất cả những diễn biến quanh tôi đã đưa tôi từ tâm trạng ngỡ ngàng của một kẻ chưa bao giờ tham dự vào đám đông đến những ngạc nhiên kỳ thú, rồi từ ngạc nhiên đến bồi hồi cảm động, cảm giác của một người đang rơi vào một vùng nước ào ạt mênh mông, tưởng sẽ bị cuốn hút chìm lĩm mất tăm nhưng bỗng được kéo lên, nâng lên bởi một thứ “sóng thần” đan kết bằng  ánh mắt, bàn tay, nụ cười, nước mắt, tiếng kêu than cùng với nỗi bất bình trước mọi bất công.

3. Tâm Thư :

Buổi trưa trời quá nắng nên cả đoàn tuyệt thực phải vào ngồi trong giảng đường, chung với những người đang được điều dưỡng. Đến chiều đợt tuyệt thực của ngày thứ nhất đã mãn, những người xong tuyệt thực được dùng bữa cơm nhẹ. Ngồi bên cạnh họ, bấy giờ tôi mới nghe bụng mình cồn cào, kêu réo. Té ra tuyệt thực tưởng là đơn giản, rứa mà có lúc mình cũng phải chiến đấu với cái dạ dày và một lũ ký sinh trùng đang bị hụt hẩng thức ăn khi giờ ăn đã điểm. Đúng là “nhà giàu đứt tay không bằng ăn mày đổ ruột”, sinh viên được nuông chìu quen thói, mới nhịn ăn mấy tiếng đồng hồ mà đã thấy... lòng thèm muốn nỗi lên ào ạt. Hèn chi mà mấy mệ mấy bác thấy tội nghiệp! Kinh nghiệm trong đời làm mẹ làm bà, nỗi lo duy nhất là sợ con cháu đói nên họ thương, họ từng biết đói là... khổ, chứ không phải như mình nghĩ... đói là ‘oai’. Thôi thì đã lỡ dại... muốn làm anh hùng tuyệt thực thì phải ráng ngó lơ cái nắm xôi trong tay người bạn bên cạnh. Mà chị ấy cũng kỳ, người ta đang tuyệt thực như chị đã làm, rứa mà cũng dứ nắm xôi ra trước mặt mời ăn. Lịch sự “kiểu Huế” chi mà lạ rứa!

Nghĩ cho cùng thì nhịn đói cũng như đi leo núi, có một thời điểm cơn đói nỗi lên cốn cào hay chân cẳng rã rời, tưởng  không thể vượﴠqua và sẽ ngã gục nếu không ăn và không dừng lại nghỉ, nhưng khi đã vượt qua được thời điểm hiểm nghèo ấy thì mọi sự trở thành nhẹ nhàng lâng lâng. Tôi đã qua cơn thử thách đó bằng cách chú tâm vào một công việc mà suốt cả ngày hôm qua vì bận rộn chưa làm được : viết một bài kêu gọi cảnh sát và lính đừng bạo động hành hung Phật tử trong và ngoài chùa.

Trong buổi họp cấp tốc với Thầy Trí Quang và Ban Chấp hành về những biến cố dồn dập xảy ra cho các Phật tử lên chùa, cũng như nhận thấy tình hình mỗi lúc một căng thẳng, lính quân đội kéo lên trước chùa rất đông, Thầy Trí Quang gợi ý cho anh em SV Phật Tử viết lời kêu gọi quân lính. Anh em giao cho tôi làm công việc ấy.

Ngồi xổm trên nền xi măng cuả giảng đường chùa Từ Đàm, tôi đã cắn bút, nhịn cơn đói, nặn óc ra viết một “tâm thư” đầy một trang giấy. Bức tâm thư ấy không còn thấy lại sau khi phong trào chấm dứt. Trong dịp anh em lên hầu Thầy Trí Quang sau mùa Pháp nạn, Thầy tỏ ý muốn có bức tâm thư  để lưu giữ tài liệu kỷ niệm cuộc vận động, nhưng không ai có. Những lúc Thầy trò đông đủ “cùng nhau trông mặt cả cười”, anh em xin Thầy treo “phần thưởng” và bảo tôi viết lại theo trí nhớ của mình, nhưng tôi đã từ chối, với ý nghĩ (rất ư là sai lầm), sợ mình sẽ “nhai lại nguội lạnh” những gì tâm huyết  trong khoảnh khắc “nóng bỏng, thiết tha và chân thành nhất”. Hôm nay chỉ nhớ rằng bức tâm thư đã giải bày một cách ngây thơ tâm trạng của một người mới dấn thân vào trong phong trào. Đại ý chúng tôi là những sinh viên Phật tử, tuyệt thực để tranh đấu một cách bất bạo động vì thương Phật, thương quí Ôn quí Thầy qúi Sư Bà, nguyện vọng chúng tôi là bảo vệ chùa và đòi hỏi công bằng tín ngưỡng. Chúng tôi tin rằng các anh cũng là những Phật tử, đều chung một lòng tin, đều là đạo hữu, vậy mong các anh đừng có dùng lưu đạn cay, dùi cui, xịt chó uy hiếp những người lên chùa và mong các anh thông cảm cho cuộc vận động bất bạo động của chúng tôi.

Lời lẽ lý luận có thể rất ngây ngô đơn giản. Thư viết xong tôi đưa cho các anh chị đang tuyệt thực ngồi trong phòng đọc và được mọi người... chuẩn y. Sau khi được quí Thầy đồng ý, chúng tôi lại mỗi người thay nhau viết thành nhiều bản và đem ra đưa cho các anh lính ở ngoài cổng chùa. Từ đó mọi người hay trêu đùa Kim Lan đã “viết thư tình cho các anh lính quân cảnh”.

Nhớ lại cảnh tượng hôm đó thì thấy rằng, mặc dù đứng trên hai lằn tuyến khác nhau, một bên thị oai, hung dữ và bạo động với vũ khí lăm le, một bên tay không, bất bạo động nhưng cương quyết  bất  khuất, trong cơn nguy chỉ biết ngồi xếp bằng niệm Phật, nhưng hình như chẳng ai có cảm giác hận thù với nhau. Nhiều lần tôi tin mình đã bắt gặp được ánh mắt ái ngại hay biểu đồng tình của người quân cảnh đang lam bộ lạnh lùng đứng ở  bên kia và trong nhiều giây phút tôi đã nghĩ, nếu họ không mặc bộ đồ quân cảnh, có lẽ họ đã đến ngồi tuyệt thực với chúng tôi, mơ hồ tôi có cảm giác rằng họ cũng đồng ý với thái độ dấn thân chúng tôi.

Ghi chú:


[i]  “Chúng tôi toàn thể sinh viên Phật tử Huế, trong buổi họp khoáng đại bất thường tại chùa Từ Đàm, lúc 10 giờ ngày 31.5.1963: sau khi nhận định cuộc tranh đấu của Phật giáo Việt Nam cho lý tưởng bình đẳng tôn giáo trong khuôn khổ công bình xã hội là phù hợp với lý tưởng của Sinh viên nói chung và Sinh viên Phật tử nói riêng.”

ĐỒNG THANH KIẾN NGHỊ:

Thứ nhất: "Yêu cầu tổng thống và chính phủ giải quyết năm nguyện vọng chính đáng và tối thiểu của Phật giáo Việt Nam ghi trong bản Tuyên Ngôn ngày 10-5-1963.

Thứ hai: "Yêu cầu tổng thống và chính phủ thực thi tính cách tự do dân chủ thực sự, là lý tưởng và toàn thể thanh niên trí thức hằng thiết tha cầu đạt.

Thứ ba: "Yêu cầu chính phủ tìm mọi biện pháp để đánh tan sự chia rẽ trầm trọng giữa dân tộc hiện tại do chính sách bất bình đẳng Tôn giáo gây ra.

Thứ tư: "Yêu cầu chính phủ ra l ệnh triệt để đình chỉ những mánh lới trẻ con, thiếu trí thức, của cán bộ đối với tín đồ Phật giáo, trong cuộc tranh đấu, vì chính những mánh lới đó không lừa bịp được ai, mà chỉ làm mất uy tín của cán bộ và của chính chính phủ".

"Bản KIẾN NGHỊ này do văn phòng 5 cấp Trị sự Phật giáo chuyển đạt".

Làm tại Huế, ngày 31 tháng n ăm  dl  1963

Đại Diện Ban Chấp Hành
Đoàn Sinh Viên Phật Tử Huế
PHAN ĐÌNH BÍNH (Ký tên)
Đại diện các Trường Cao Đẳng và các Phân Khoa thuộc
Viện Đại Học Huế
Trường Đại Học Y Khoa (ký tên)
Trường Đại Học Sư Phạm (ký tên)
Trường Đại Học Văn Khoa (ký tên)
Trường Đại Học Luật Khoa (ký tên)
Trường Đại học Khoa Học (ký tên)
Trường Đại Học Khoa Học (ký tên)
Viện Hán Học (ký tên)
Trường CSYT và Điều Dưỡng (ký tên)
Trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia (ký tên)
Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật (ký tên)
Trường Quốc Gia Âm Nhạc (ký tên)
(Tài liệu báo Khuông Việt)

[ii]   như đã dẫn, Tác giả ghi chép trực tiếp theo lời kể của thầy Trí Quang. Phổ biến với sự đồng ý của Thầy.

 flash-5sac.gif (367 bytes)  Hồi ký TKL (tiếp theo): Trở thành Phật tử

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........