curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 

    Trở thành Phật Tử

Thái Kim Lan

1. Chùa Từ Đàm bị phong tỏa.

Sáng hôm sau, vừa chấm dứt buổi tuyệt thực của mình, mấy chị em tôi định thu xếp để về nhà sớm. Chưa kịp đi ra khỏi Giảng đường, bỗng nghe có loa phóng thanh của chính quyền dõng dạc tuyên bố: kể từ giờ phút này tạm thời phong tỏa chùa Từ Đàm, vì lý do an ninh, có Việt Cọng trà trộn, nên cấm không được ai đến chùa, những người đang ở trong chùa cũng không được ra khỏi chùa. Mọi người trong chùa nên ở yên tại chỗ!

Chúng tôi đổ xô ra cửa giảng đường để xem thực hư, cả bọn đều giật mình kêu lên “ui chao ơi, lính mô mà nhiều dữ rứa!”. Trước cổng chùa, lính quân cảnh, cảnh sát và lính quân đội đứng giàn ra thành hàng rào, súng cầm sẵn trong tay, dùi cui lựu đạn cay treo lủng lằng quanh lưng. Chung quanh chùa họ đã làm thành một vòng đai canh gát từng kẻ hở của hàng rào bao bọc chùa. Phía trên cổng xe lửa xe tăng thiết giáp chận đường lên chùa, giây kẽm gai giăng ra đầy đường, phía bên đường Phan Bội Châu lính tráng đứng chận đường nơi dốc đi lên. Chùa Từ Đàm hoàn toàn bị phong tỏa!

Xe thùng đứng lù lù trên đường Nam Giao, chờ đợi và đe dọa. Ba bốn chiếc xe lam chở máy phóng thanh đậu bên lề đường trước nhà đối diện với chùa và đang dàn dựng máy móc. Trước thềm của dãy nhà hàng xóm đối diện với chùa lố nhố những người đàn ông trung niên độ mũ phớt mặc áo thường phục làm bộ du khách tình cờ nhưng mắt thì lấm lét nhìn sang chùa. Đông thì thầm bên tai tôi: “Công an mật vụ chìm đó nghe. Tụi mình bị vô sổ đen hết rồi!” Quả nhiên suốt cả thời gian phong tỏa, những người ấy đã đến túc trực ở các quán nước xung quanh chùa và quan sát từng nhất cử nhất động của mọi người đang bị giam lỏng trong chùa.

Hôm ấy trên chùa kể cả Tăng Ni Phật tử có trên dưới 500 người, ngoài Quí Ôn và Quí Thầy, Quí Sư Bà, trong đó tôi còn nhớ rõ nhất là Thầy Trí Thủ, Thầy Trí Quang, Thầy Thiện Siêu (trù trì chùa Từ Đàm), Thầy Chánh Trực, Thầy Chánh Lạc, còn có những người tuyệt thực của Đoàn SVPT, Gia Đình Phật Tử của các Khuôn Hội, Cư  sĩ Phật tử, Tiểu thương Phật tử và những người đến làm công quả cho chùa.

Tin đến thật bất ngờ đối nên anh em trong ban Chấp Hành tạm thời, P.C. Đông, V. Kha, B. Tôn, T.T. Kỳ, V. Tùng và anh Văn cùng với tôi vội vàng lên nhà Trai thỉnh ý của Thầy Trí Quang, ở đó tôi cũng gặp các anh huynh trưởng Gia đình Phật tử.

Đây là lần đầu tiên tôi gặp Thầy Trí Quang lâu hơn thường lệ. Cảm tưởng đầu tiên khi gặp Thầy vẫn theo tôi suốt cả 40 năm: đôi mắt Thầy sáng như hai luồng điện có sức thu hút thuyết phục người mới gặp, và có mãnh lực uốn thẳng những ý nghĩ cong queo tà vạy của người đối diện hay của đối phương, lắm lúc người đứng trong từ trường của ánh sáng sao chớp ấy mang cảm giác của một kẻ thần phục thụ động, nhưng trong cuộc đối thoại nếu nhìn kỹ, ta sẽ khám phá ra cùng với nụ cuời vừa sáng vừa cởi mở, tia điện chớp của đôi mắt ấy bỗng dịu lại như vướng bóng mây phảng phất khói hương trầm, cho biết vị tu sĩ này đã từng hành thâm hạnh từ bi và nhẫn nhục, lắm khi lẫn chút bi quan về cuộc đời, và từ đó người mới đến như được giải phóng khỏi sức thu hút ban đầu, khôi phục lại được sự tự chủ trong câu chuyện.

Thầy cho biết chính Thầy cũng bất ngờ trước tin chùa Từ Đàm bị phong toả. Tôi nhớ Thầy bảo: “Các con cứ bình tĩnh. Có lẽ chính quyền đang tìm mọi cách để  ‘trừng phạt’ Phật tử. Chúng ta tuyệt đối phải nhẫn nhục, nhưng cương quyết bảo vệ mục đích của cuộc vận động hòa bình này. Nhờ anh em đi loan báo cho mọi người biết để khỏi lo sợ. Các anh em trong GĐPT có nhiệm vụ giữ trật tự , chia phiên nhau đêm ngày túc trực, để phòng ngừa những hành động vu khống từ phía chính quyền. Nhà bếp nên kiểm soát luơng thực, gạo nước cẩn thận. Anh em SV thì coi chừng và có thể lên gặp Thầy hội ý hàng ngày!”  

Thầy cười – nụ cười của Thầy sáng rỡ vì đôi hàm răng trắng bóng, nụ cười độ lượng của một kẻ ‘vô úy’ mà người Tàu nôm na gọi là đại trượng phu, pha lẫn một chút tinh ngịch thách đố, không phải thách đố với ai mà với chính cái ngã của mình – một thử thách tu chứng trong đạo Phật:  “Đây là lúc chúng ta thực hành chữ NHẪN trong đạo Phật. Tinh thần bất bạo động cần phải thực hành nghiêm túc. Mấy hôm nay Thầy tuyệt thực mà quán tưởng về bài học bất bạo động của Thánh Gandhi. Bất bạo động không phải là dễ, cần phải có dũng khí của đấng trượng phu. Phải luôn luôn xét mình, nhất là lúc này, phải chuẩn bị tinh thần, vì người ta đang nỗi giận và dùng biện pháp trừng phạt mình đó!”  

Chúng tôi trở ra, cùng nhau đi một vòng trong sân chùa. Hôm nay mới biết chùa Từ Đàm, trụ sở của Tỉnh Hội Phật giáo Trung phần khá rộng lớn, nằm trên ngã ba dốc Nam Giao và dốc Bến Ngự, ba phía trước  quây quần cụm nhà của dân cư đều là Phật tử, phần nhiều sống bàng nghề quán giải khát cho khách vãng chùa. Chính họ là những người đã hết lòng bảo vệ chùa trong nhiều hoàn cảnh. Phía sau chùa là vườn chanh vườn bưởi, có ngã sau vào chùa từ đầu dốc Nam Giao, vườn chùa tựa vào phía núi, cho nên vẫn có thể len chân núi mà tìm đường vào chùa. Trong khoảng thời gian chùa bị phong tỏa, có hôm chúng tôi hết hồn vì có một vài Phật tử  dưới phố nóng lòng tìm lên chùa hỏi tin tức, đã xuất hiện đột ngột từ ngõ sau núi.

Không khí bắt đầu căng thẳng khi máy phóng thanh của chính quyền từ ngoài bắt đầu hoạt động. Tiếng nói được phóng ra đến mức tối đa vang dội cả một góc trời, làm cho đinh tai nhức óc. Sáng trưa và chiều họ bắt đầu chiến dịch khủng bố tinh thần những người ở trong chùa bằng những bài viết vu khống được đọc đi dọc lại một ngày mấy lần, như một cách nhồi sọ làm lung lạc tâm trí của người bị nghe. Nội dung không có chi khác lạ ngoài việc cho rằng phong trào Phật tử bị Cọng sản giật dây, trong chùa Từ Đàm có Việt cọng trà trộn, P.Đ. Bính là Việt cọng, Đoàn SVPT là Việt cọng. Nhất là Thầy Trí Quang là Việt cọng cao cấp v.v. và v.v..

Ngược lại với sự chờ đợi của chính quyền, càng nghe chúng tôi càng phẫn nộ vì sự vu khống trắng trợn vô căn cứ, chúng tôi nhìn mặt nhau và nhận thấy chẳng có đứa nào là Việt cọng cả, chúng tôi chỉ vì đạo pháp bị chà đạp khinh rẻ và đối xử bất công nên tình nguyện tuyệt thực để ủng hộ cuộc vận động mà thôi. Càng nghe chúng tôi lại càng thấy mình đứng về phía của những người bị đàn áp là đúng với lương tâm của con người, càng thấy vững tâm hơn trong niềm tin chính nghĩa sẽ thắng hung tàn dối trá.

Ngày phong tỏa đầu tiên, buổi ăn cơm ở chùa sao mà vui đến như thế!  Buổi cơm đạm bạc nghèo nàn, chỉ có rau muống luộc chấm nước tương, chao, muối mè và nước rau luộc. Mọi người ngồi  ăn trong tình đồng đạo và đồng tình. Không nói mà ai cũng tâm niệm một dạ một lòng với nhau không sờn lòng nản chí.

Đến ngày thứ hai chính quyền vẫn tiếp tục khủng bố tâm lý với chiến dịch hàng ngày phóng loa oang oang vào chùa, chọc vào tai những người ngồi trong chùa đang ở trong thế bị động, gây sự hoang mang, bực dọc bức xúc nơi từng cá nhân. Trời thì nóng nực, đi lại tù túng trong khuôn viên của chùa, bên tai nghe những lời thóa mạ vô lý mà không trả lời được, tiếng máy như tiếng chày giã gạo nện vào màn nhĩ, mọi người cố gắng thản nhiên không thèm lắng tai nghe, nhưng không nghe không được trừ phi bịt kín lỗ tai. Hình như   một cuộc dằng co tâm lý ngấm ngầm khởi lên trong vô thức mà chưa ai để ý đến. Tâm trạng mỗi người như bị căng ở hai đầu giây. Chúng tôi đếm từng giờ đợi chiều đến khi loa phóng thanh thôi hoạt động hầu có một phút yên tĩnh như người chết khát.

2. Khủng bố tâm lý của chính quyền

Đến ngày thứ ba, bỗng nghe phía ngoài nhốn nháo đông người hơn mọi khi. Máy phóng thanh đã bắt đầu thét to lên: “A lô A lô mọi người hãy chú ý!”. Ngồi trong sân chúng tôi nhìn nhau, không biết họ sắp bày trò chi đây. Bỗng mọi người như bị một luồng điện giựt bắn cả người, khi nghe  từ một micro vừa mới dựng ở quán nước trước chùa tiếng nói cất lên:

“Con ơi! Hoàng ơi!”, giọng nói run run khẩn thiết, “Ba đây nì! Có phải con đang ở trong chùa không? Mấy ngày ni Ba Mẹ đi tìm con mà không biết con đi mô. Con lỡ vô chùa ở lại thì chừ nên đi về. Ở nhà mẹ đợi con, mẹ đau vì lo cho con!”.

Không cần đợi phản ứng trả lời, đã có một giọng khác lên tiếng: “Đây là ba của Lê thị Thu. Thu con, con có ở trong chùa thì về ngay với Ba Me. Mẹ con bệnh nặng lắm. Ba đợi con ở trước cổng chùa. Con hãy thu xếp mà về ngay!” .

Chúng tôi nhìn nhau. Hoàng là sinh viên Hán học, vừa mới gia nhập Đoàn trong đột tuyệt thực, còn Thu ở trong đoàn Thiếu nữ của GĐPT. Hoang mang bắt đầu lan ra trong sân chùa, nhất là Hoàng và Thu, cả hai đều sửng sờ, nghẹn ngào không nói được nên lời. Bên ngoài nghe tiếng xe hơi chạy lên chạy xuống náo nhiệt hơn thường lệ, người đến bên kia vệ đường mỗi lúc một đông hơn. Mỗi lần xe đổ là một lần có người được mời ra kêu gọi người thân trong chùa mau mau ra về.

Chúng tôi vội lên hội ý với Thầy Trí Quang. Anh Văn phân tích: “đây là chiến dịch khủng bố tiả từng người, và dùng những người này để phản tuyên truyền chơ không chi khác! Chúng ta phải nhất trí một điều là nếu họ không chấm dứt phong tỏa công khai thì chúng ta không về. Anh em ở lại đây cho đến lúc chính quyền thấy việc họ làm là sai.”

“Anh Văn nói đúng!”, T.T. Kỳ góp ý, “họ đã muốn giam lỏng mình thì mình cứ ở đây.  Nhất định không về sớm!”  Kỳ nói phụng phịu như hờn dỗi. Thầy Trí Quang và anh em đều cả cười vì bộ tịch của Kỳ, Thầy bảo: “Anh Văn nói đúng ý của Thầy, nhưng có điều cha mẹ lên kêu mà không về là con có lỗi, Thấy không thể khuyên các con ở lại trong khi cha mẹ kêu gọi các con về...” Kỳ vội vàng ngắt lời Thầy: “Nhưng chúng con tình nguyện không về mà, nhất định ngồi lì ở đây.”  B. Tôn xen vào:  “Thằng cha ni hắn muốn nằm vạ ở đây đó Thầy!”  Đông và Kha đều biểu đồng tình: “Chừ dù có ra về, gia đình và tụi con cũng sẽ gặp khó khăn với chính quyền. Thà đừng về để bảo vệ trọn vẹn Quí Thầy và cuộc vận động, tới mô thì tới...”  Tôi góp ý: “Nhưng trong cương vị của quí Thầy, quí Thầy không thể khuyên anh em ngoài kia ở lại được, đây phải là quyết định tự nguyện của anh em mới được.”  Lần đầu tiên tôi đưa ý kiến, những lần khác tôi chỉ ngồi chăm chú nghe, Thầy Trí Quang tươi cười: “À chị Kim Lan...”

Thầy chưa dứt câu, bỗng có tiếng gõ cửa, vị thị giả đưa vào một lá thư  thưa Thầy có người ở  vườn sau lén chuồi vào. Thầy mở ra coi, ngẩn người một giây rồi cười tủm tỉm: “Mình có giải pháp rồi đây, đúng là Phật độ!”.

Chúng tôi đồng kêu lên khi đọc lá thư : đó là thư của thân phụ anh Hoàng gửi. Thư cho biết là nhà cầm quyền hiện nay đang lục lọi tất cả các danh sách những người Phật tử ở trong chùa và tìm các công chức nào có con cái hoặc vợ hay chồng đang ở trong chùa, bắt buộc những người này phải lên kêu thân nhân của mình trở về, nếu không vâng lời thì có nguy cơ sẽ bị cách chức hay có những phiền nhiễu khác. Điều làm cho chúng tôi sửng sốt, cảm động gần khóc là không những không sợ hãi về chuyện bị cách chức, ba Hoàng còn ‘mách nước’: “Xin Thầy hãy cho Hoàng ra trả lời trước máy khi con gọi tên. Nếu hắn nói không chịu về thì con có cớ để nói với nhà cầm quyền là con tui hắn muốn ở lại, tui không bắt nó về được. Và thưa Thầy nói hắn đừng buồn nếu nghe con la rầy chưởi mắng hắn, Thầy dặn hắn cứ yên tâm mà ở lại trên chùa”.

Đọc xong thư cả Thầy trò ngồi lặng yên, ngạc nhiên và xúc cảm. Một lát Thầy dặn anh em khoan nói cho Hoàng biết có lá thư của thân phụ anh  và nhờ người đi gọi Hoàng lên. Hoàng vào phòng với gương mặt khá bơ phờ, lời kêu gọi của phụ thân anh đã chấn động tinh thần anh không ít.

Thầy Trí Quang hỏi anh: “Hồi  nãy ông cụ có kêu gọi con  về. Con đã thu xếp để về chưa?”  Hoàng bật lên như cái lò xo: “Thưa Thầy con không về mô. Ba con là đệ tử của ôn Tường Vân, ba con nói con phải theo ôn mờ! Chắc ba con bị ép buộc đó thôi.”

Chúng tôi ngồi đó thở phào nhẹ nhõm. Thầy Trí Quang đưa cho Hoàng lá thư. Hoàng đọc mà nước mắt đầm đìa: “Thưa Thầy, con biết ba con lắm mà!”.

Hoàng là trường hợp đầu tiên của buổi “ĐỐI THOẠI” trong đợt khủng bố tâm lý của nhà cầm quyền đối với Phật tử lên tuyệt thực trên chùa Từ Đàm.

Từ hôm ấy quang cảnh chùa lại sôi động với một cảnh tượng vừa bi thảm, vừa hào hùng, vừa gay cấn vừa tang thương. Và chúng tôi, những người vừa trong cuộc cũng là khán giã của những tấn kịch sống động ấy, đến hôm nay vẫn còn ám ảnh “mường tượng vào ra”.

Ngay sau đó, anh Từ đã dựng một máy micro giữa sân chùa, để những người trong chùa trả lời cho thân nhân ở ngoài. Trước chùa số người tụ lại bên quán nước càng lúc càng đông. Khi ba anh Hoàng ở ngoài lên tiếng  kêu con về. Anh Hoàng bỗng bật lên khóc vì xúc động, mặc dù anh đã biết trước sự việc: “Ba ơi ba con không về mô, con ở lại với Ôn, Ôn cũng đang ở đây ba nợ!” Ngoài kia giọng của ba Hoàng quát lên giận dữ: “À mi là thằng bất hiếu bất mục, mi không chịu về phải không?” rồi ông dịu giọng: “Mạ con chờ con ở nhà con ơi, con về đi!”  Hoàng bỗng nhiên oà lên khóc tức tủi: “Con không về, con xin ba mẹ hiểu lòng con. Con chỉ về khi chùa hết bị phong tỏa mà thôi!”.

Mọi người ở phía bên kia đường và chúng tôi đứng trong sân chùa bỗng như hoá đá. Người bên đường sửng sờ trước cảnh cha con đối đáp, họ không biết bên nào có lý bên nào có tình, còn chúng tôi nghe lòng rưng rưng cảm phục tấm lòng thiết tha đối với Đạo Pháp của hai người trong cuộc.

Tuy nhiên chính quyền vẫn tiếp tục làm áp lực với những người thân nhân gắt gao hơn. Họ không bằng lòng với cái cớ “vì con tôi không muốn về thì tui chịu”, họ không thể chấp nhận sự thất bại không ngờ, họ tìm cách đến nhà đe dọa. Những ngày hôm sau không khí trên chùa càng căng thẳng với các cuộc dằng co kêu gọi thân nhân phải trở về với gia đình mỗi lúc một cấp bách hơn. Tuy mọi người vẫn giữ vững lập trường không chiụ ra về nhưng tâm lý của từng cá nhân có vẻ suy sụp. Cảnh cha mẹ lên kêu con về quả là một đòn tâm lý nặng nề. Có người đến tối ngồi bưng mặt khóc không ăn nỗi cơm, có người đổ quạu gây với anh em một cách không duyên cớ.

Buổi chiều Thầy Trí Quang cho gọi anh em lên và bảo: “Thầy nghĩ  nên cho một số anh em ra về, nếu ai muốn, và nên khuyến khích cho anh em về, như thế tốt hơn!”. T.T. Kỳ bỗng nỗi giận: “Tụi con không muốn về mà răng Thầy nói rứa, ba anh em nản lòng”. Thầy cười. “Nì chú hăng vừa vừa nghe! Mấy bữa ni anh em ăn uống không đầy đủ, ngủ ngáy cực khổ, không lo mà về thì đợi lúc mô nữa?” Anh Văn nổi nóng: “A... tại sao Thầy có ý tưởng kỳ quặc như vậy. Anh em lên đây là để chia cực khổ vì đạo pháp mà!” Vừa nói xong là anh đi ra, đóng cửa cái rầm.  

Thầy không giận – trong suốt thời gian chùa bị phong toả ngày nào anh em SV cũng lên hội ý với Thầy và điều làm cho tôi ngạc nhiên là Thầy luôn luôn lắng nghe ý kiến của mọi người, ngay cả khi anh em nói năng bộp chộp, trực tính  và cử chỉ ra ngoài khuôn phép, nhưng Thầy không bao giờ cháp trước nề hà- anh Văn đóng cửa đi ra rồi lại đi vào, Thầy vẫn cười: “Cuộc vận động tiếp tục và Thầy Thiện Minh đang nhờ thủ tướng can thiệp sẽ thành công, nhưng Thầy nghĩ nên khuyên ai muốn về thì về. Thôi anh em đi xuống ăn cơm đi. Mai nói chuyện tiếp” Vừa ra khỏi cửa, Thầy kêu tôi đứng lại và bảo riêng: “Chị Kim Lan, Thầy nhờ chị nói chuyện với anh em và an ủi họ giùm Thầy, đừng để anh em bực dọc quá vì thiếu mẹ thiếu chị thiếu em ở bên cạnh, cũng đã gần một tuần rồi, nói chuyện và an ủi họ cho Thầy.” Tôi vâng dạ lui ra.

Nắng chiều đã tắt trên ngọn Bồ Đề khi chúng tôi vừa ăn xong. Máy phóng thanh ngoài đường cũng đã ngừng la lối. Cả bọn ra ngồi hóng mát ở bực cấp của giảng đường. Ai nấy có vẻ rả rời như vừa mới đánh xong mộﴠtrận tác chiến vô hình hay vừa qua một cơn ác mộng. Có lẽ mỗi người đều nghĩ, không biết ngày mai có đến lượt mình lên micro trả lời cha mẹ? nghe cha mẹ khóc lóc năn nỉ ngoài kia? Chỉ có một hàng rào ngăn hai mà sao thấy xa xôi, không với tay nắm tay của cha mẹ. Những người lính gác nghĩ gì? Họ có khóc trong lòng vì cảnh tượng bi hài của chính quyền dàn dựng?

Tôi đến ngồi bên cạnh V. Tùng hỏi nhỏ: “Tùng thấy răng?” Hắn biũ đôi môi với hàm răng vồ của gương mặt thanh niên Huế điển hình, cái mũi sư tử nhấp nhô: “Thì không về cha răng. Ai về thì về, tui không về!” “Rứa ba Tùng có bị chi không?”  “Ui chao chị không biết, ba tôi còn theo chùa hơn tui nữa đó. Ông là cánh tay mặt hộ pháp của khuôn hội đó chơ. Ông không sợ mô!”.

Tôi quay qua anh B. Tôn, dáng điệu phong lưu  của anh sau hơn một tuần lăn lộn có vẻ phong trần hiệp khách: “Ông cụ nhà mình về hưu rồi, mô sợ chi, ai dám đòi ngài tới. Nì coi chừng đó nghe, mình mà về thì họ vô bắt mấy Thầy răng? Mình phải ở lại. KL không biết á? Tối mô mình cũng leo lên cây... Tôn chỉ cây Bồ Đề trước mặt vẻ bí mật “theo Thầy Chánh Trực để canh chừng.”  Cả bọn đang buồn cũng bật cười, vừa hay Thầy Chánh Trực đi ngang qua, Tôn buột miệng: “Thưa Thầy có phải rứa không? Túi mô Thầy cũng phi thân lên ngọn cây.” Nghe đồn Thầy Chánh Trực rất giỏi võ Thiếu Lâm, nên B. Tôn hay đi theo Thầy đòi học võ nghệ, khi nào anh cũng lấm lét làm bộ chỉ trỏ lên ngọn cây với tôi khi Thầy Chánh Trực đi ngang qua. Cả bọn vui lên một tí và từ từ rút lui vào ổ chuột của mình. Tôi còn ngồi nán lại vì thấy T. Duy cả buổi tối không nói năng chi cả mặt dàu dàu.

Trần Duy là người mới vào đoàn, anh học bên sư phạm, tuy chua quen Duy nhiều nhưng tôi nghĩ Duy rất giàu tình cảm, khí phách cũng thuộc hạng  không Từ Hải thì cũng... một phần nửa... Lục Vân Tiên, cho nên mới bị kẹt trên chùa với chúng tôi. Suốt cả mấy ngày bận rộn tôi chưa có dịp nói chuyện với Duy: “Duy chưa đi ngủ?” Duy lắc đầu không nói; “Mấy ngày ni mệt quá Duy hí, không ngờ anh em lại bị bủa vây như ri!”, tôi nói tiếp.

Duy mím môi thở dài: “Không ngờ thiệt đó!”. Nghe giọng Duy có pha lẫn chút vùng ‘quê’, tôi hỏi Duy làm thân: “Duy ở vùng mô rứa hè?... Để tui đoán chừng nghe - Nong? Truồi? Nguyệt Biều? Lương Quán?” Chừ anh mới cười mỉm: “ Không, ở Sịa.” Tôi cười “A Sịa thì quê thật!”. Dần dà câu chuyện đậm hơn, tôi hỏi Duy: “Duy có hối hận đã đi tuyệt thực không?” Duy lắc đầu : “Không, Duy không hối hận mô!”; “Nhưng tại sao Duy buồn? Sợ ba mẹ la?”  “Cũng không nữa, ba mẹ Duy làPhật tử truyền đời mà!”, Duy đáp một cách chắc nịch, tự tin, pha lẫn chút kiêu hãnh. “Rứa thì tại răng mà buồn, tại ăn cơm chay cả tuần cực quá, tại ngủ ít quá, tại ồn ào quá?” Tôi hỏi dồn một tua. Duy nói: “Không phải, ở nhà quê Duy chịu cực đã quen!”;  “Hay vì Duy không đồng ý với cuộc vận động của chùa mình?”, tôi hỏi tiếp. “Không, không!”, Duy cự nự. “Rứa thì tại răng Duy không vui?”, bấy giờ Duy mới tâm sự cho biết là Duy có một cô bạn gái theo Thiên Chúa giáo, sáng nay trong đám người đứng trước cửa Duy đã nhìn thấy cô, nên từ đó Duy không vui vì biết cô đang giận Duy. Tôi giải thích cho Duy biết là Quí Thầy đang khuyên nếu ai muốn về thì về, Duy không nên thắc mắc về việc ở lại. Có lẽ Duy nên về gặp cô để giải thích mọi hiểu lầm, để cô hiểu rằng cuộc vận động này không có chi chống đối Thiên Chúa giáo và những người theo Thiên Chúa giáo cả. Duy nhìn tôi với đôi mắt cám ơn và hỏi: “Có thiệt qúi Thấy không trách móc khi mình đi về?” Tôi đoan chắc với Duy và nói, ai cũng thông cảm từng trường hợp cá nhân, lên chùa là tự nguyện và rời chùa cũng là tự nguyện. Duy cảm động đến rơi nước mắt: “Rứa mà Duy nghĩ mình đã lên đây mà bỏ về thì… khó coi quá. Để Duy về rồi sẽ tham gia trở lại, được không?” “Duy cứ về, gặp bạn gái đi cho hết buồn, hết thắc mắc hí”, tôi nói nửa như an ủi, nửa truyền lệnh.

Tôi tâm sự với T. Duy, những ngày tham gia tại chùa đã làm cho tôi tin tưởng hơn lên trong công việc của mình làm, được chứng kiến tận mát cả phong trào bừng dậy như đợt triều dâng, không cần ai kêu gọi mà càng bị dọa nạt khủng bố chừng nào thì các Phật tử lại xôn xao tìm đến với chùa. Vì đạo pháp mấy Ôn rời núi chống gậy đi xuống tỉnh đường, yên lặng trang nghiêm, rồi cả đoàn người không ai bảo ai nối nhau theo bước của Ôn Tịnh Khiết, càng ngày càng đông, đến lúc không còn sức mạnh vũ lực nào cản nỗi…

      Sáng hôm sau tấn kịch “cha mẹ lên gọi con về” bắt đầu sôi nổi. Máy phóng thanh từ 5 giờ đã đánh thức mọi người dậy sớm để nghe “chưởi bới và vu khống” của chính quyền, ngoài đường nghe tiếng xe chạy rầm rập, rất nhiều người đã tụ lại trên sân trước của quán nước đối diện. Trong chùa mọi người đang hồi hộp không biết ai sẽ lên đoạn đầu đài hôm nay, dù đã biết trước sự việc xảy ra, vậy mà mọi người vẫn thấy bứt rứt khó chịu vì biết rằng những người thân lên kêu gọi con về đã và đang bị nhà cầm quyền khống chế, bắt buộc. Chính hoàn cảnh của người thân ở ngoài làm cho những người bị phong tỏa trong chùa đau đớn, xót xa. Tấn kịch ấy chẳng có ai làm đạo diễn nên thường có những màn bất ngờ sửng sốt đến quặn lòng. Sáng nay tấn kịch bắt đầu như một cú sét đánh cho T. Nhân (TN.) , thân phụ của T.N. đứng ở máy micro, ông là viên chức cao cấp ở tỉnh, ông lên đứng dõng dạc: “Thằng N mô mau ra đây. Nì tau nói cho mi biết mi khôn hồn mi mau mau đi về. N ơi là N, con bất hiếu bất mục! Bỏ nhà đi không nói với cha mẹ. Mi không lo học hành lại lên chùa làm loạn!”. Ông thét mắng một hồi làm cho mọi người trong chùa cũng như ngoài chùa kinh khủng. Nhưng T. Nhân bỗng dưng biến đi đâu mất. Mọi người trong chùa nhốn nháo chạy đi kêu N. Tìm khắp nơi không thấy. Cả bọn cuống cuồng.  T.N. nghe tiếng bố đã chuồng đi, vì tính nhút nhát không dám cải lời. Chạy tìm mọi nơi, T.T. Kỳ sực nhớ, mỗi lần T. Nhân có chuyện chi là chạy vô cầu tiêu ngồi riết, anh chạy ra vườn sau chùa. Quả thật thấy T. Nhân đang đập đầu vô tường khóc rưng rức. Anh em dìu anh ra sân và khuyên anh nên sửa soạn đi về. Anh đứng ở Micro tức tưởi. “Dạ... dạ... thưa cha, thưa cha…” chúng tôi tưởng anh sẽ nói “con về ngay…”, ngờ mô “thưa cha, con…”,  anh khóc to hu hu hu… “con không về cha nợ…”  Im lặng một vài giây...

Cả bên tê cũng như bên ni ai nấy đều bàng hoàng, nhất là thân phụ của T. Nhân, ông đã nghĩ, với phương pháp búa rìu sấm sét đánh phủ đầu, vừa chứng minh cho chính quyền sự cố gắng của mình vừa cảnh cáo cho con trai mình mau rời khỏi chùa, kết qủa lại hoàn toàn trái ngược. Ông ú ớ trong micro: “Ui chao, con ơi là con ơi, Nhân ơi là Nhân ơi!”.

Bên ni T.T. Kỳ cười hả hê, anh chủ trương mọi người phải ở lại chùa cho đến khi chính quyền công khai bỏ lệnh phong tỏa chùa nên suốt buổi phụng phịu hờn dỗi khi nghe có ai đi về, chừ anh thích chí vì T. Nhân mà anh tưởng rất yếu đuối cũng không chịu về. Anh đến bên ôm vai T. Nhân và dìu anh lên nhà giảng.

Chúng tôi còn dang ngẩn ngơ về sự việc xảy ra, bỗng tiếng micro ù lên vang dội và từ sân chùa có giọng thánh thót nhưng chững chạc của một người thiếu nữ trẻ cất lên, không biết từ đâu em xuất hiện nơi sân chùa, áo lam dài, người nhỏ nhắn, tóc ngang vai, em cầm trong tay tờ giấy em vừa mới viết và rành mạch từng chữ em đọc: “Kính thưa ba mẹ, ba mẹ có ở ngoài đó không ? Con là Trinh dây, con lên chùa mấy hôm nay, con cùng cầu nguyện với qúi ôn, con ở đây bình yên, đêm đêm con tụng kinh cầu nguyện cho các thánh tử đạo, cho những ai đã gây sự bất công mau mau sám hối. Ba mẹ cứ yên tâm, đừng lo chi cho con hết. Đức Phật Tam bảo phù hộ cho con. Quyết định ở lại chùa là do con. Con không về. Xin các nhà cầm quyền đừng làm khó dễ ba mẹ con! Nay kính!”.

Đây là một sự bất ngờ trong mọi bất ngờ nhất, không những cho chúng tôi mà cho luôn qúi Ôn đang ngồi trong liêu. Mọi người đều chạy ra xem cô gái ấy là ai mà lại có can đảm đứng ra đọc cảm nghĩ của mình như thế. Sau mới biết em ở trong GĐPT học trung học, em lên chùa xem tuxệt thực và cũng bị nhốt lại, hàng ngày theo qúi sư cô tụng kinh, dọn dẹp, âm thầm và ngoan hiền như một bông hoa tím nhỏ chỉ biết gục đầu ngoan ngoãn, nhưng khi em ngẩng đầu lên, mặt trời bỗng loá mắt trước màu tím trung kiên.

3. Thuyền từ một lá vơi vơi ( i )

Ngoài đường loa phóng thanh vẫn ầm ĩ. Tôi đi một vòng chung quanh chùa để xem tình hình ở ngoài chùa, bỗng sửng sốt đến nỗi vấp một hòn đá suýt trật chân : mẹ tôi đang đứng giữa đám người dưới hiên quán cà phê, rướng cao người nhìn vào sân chùa dáo dác tìm kiếm ! Hình như mẹ đang đứng trên chiếc ghế đẩu nên cao hẳn hơn đám người, đôi vai nhô lên trong chiếc áo dài màu lam, cổ của mẹ rùn xuống, nét mặt có vẻ hốc hác. Tôi nghe tim nhói lên. Không biết mẹ tôi đứng đó đã bao lâu (sau này mới biết từ khi chùa phong toả mẹ tôi đã lên tìm nhưng không lên được, đường bị chận trên dốc, tuy thế ngày nào cũng lên rồi phải đi về. Nhân dịp có chuyện chính quyền bắt cha mẹ lên kêu con cái nên mẹ đi duồng theo),  dáng mẹ câm lặng giữa đám đông đang sôi nỗi trông càng bơ vơ. Tôi biết mẹ đang lo lắm đến nỗi rụt cả vai, đó là cử chỉ thường có của mẹ mỗi khi có chuyện lo âu trong đời. Giữa những âm thanh náo loạn cả một vùng trời, tôi tưởng như mình đang nghe tiếng thở dài của mẹ trong những đêm khuya có chuyện khó khăn chưa tìm ra giải đáp. Mẹ ít khi than thở mà chỉ hay thở dài, chắc mấy đêm nay không ngủ được hẳn tiếng thở dài của mẹ càng nhiều hơn đến não ruột!  Tôi đi vội đến bờ thành nhướng người nhìn về phía mẹ, đưa tay ra hiệu, hình như mẹ tôi chợt nhận ra tôi, thấy bà cười như mếu, vẻ mừng rỡ. Tôi lấy tay ra dấu mẹ hãy về đi, rồi lại chỉ vào sân chùa ra dấu tôi ở lại chưa về, rồi nhe răng cười mà nước mắt đã lưng tròng, để cho mẹ yên tâm. Thấy mẹ tôi gật gật đầu, tỏ vẻ hiểu ý của tôi. Bà cũng đưa lên một gói nhỏ, chỉ chỉ nói muốn gửi cho tôi. Tôi vừa gật đầu vừa lắc đầu đưa tay khoát khoát bảo mẹ cứ về. Anh lính đứng dưới đường thấy tôi ra dấu hiệu, trừng mắt đi đến hòi “chị làm chi vậy?”  Tôi lắp bắp “mạ tui, mạ tui” rồi ù chạy vào giảng đường, cố nén cơn  khóc. Buổi chiều anh Từ đưa vào cho tôi cái gói nhỏ nói có người chuồi qua hàng rào, hình như anh lính nạt nộ ấy là người đã đích thân bí mật chuyển cái gói ấy. Tôi mở ra, thấy bàn chải đánh răng và chiếc khăn lau mặt của mình mà mẹ định đem lên từ hôm trước mãi bây giờ mới đến tay.

Hôm nay nhớ về ngày ấy lại thấy thương mẹ và cảm kích vô vàn sự thông cảm và cam chịu của mẹ trong những ngày xa tôi. Ngày giải phong tỏa tôi trở về, không nghe mẹ trách móc một lời mà ngược lại mẹ nhìn tôi với ánh mắt và nụ cười có chút tự hào và kiêng nể: “cha răng, về răng được mà về! Phải ở với chùa! có rứa chơ!”, mẹ hay nói thế khi có người hỏi đến chuyện phong tỏa Từ Đàm! Hình như  vị nữ nhân xuất thân từ miền Kim Long Linh Mụ này, trong tất cả những gian truân chịu đựng của cuộc đời mà bà đã trải qua, suốt bao năm trút hết những thương yêu chảy xuống cho con và cho đời, đã chưa bao giờ đặt một câu hỏi ngược lại về sự hiện hữu của mình trong một xã hội “trọng nam khinh nữ” mà bà đã được uốn nắn để phục tùng, nhưng tình cờ – đây phải nói là một cuộc tình cờ, mà nhà Phật nói là cơ duyên – với bước đi chuyếnh choáng của người con gái vượt khỏi ngưỡng cửa phòng the, bỗng khám phá ra một lẽ sống khác hơn thường nhật : cái lẽ “giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha” không chỉ dành riêng cho nam giới mà cho cả nữ nhi. Những ngày gian nan lặn lội lên chùa đã tạo cho mẹ một lối đi theo Phật trong những năm tháng kế tiếp. Bên cạnh những bận rộn cho kế sinh nhai, mẹ đã dành thì giờ cho Chùa với tất cả nhiệt tâm, mẹ đã đến với Phật qua sự đóng góp chân thành của “Bà Huyện bán gạo ở Bạch Đằng, khi chùa cần đã thấy đau đáu đứng bên.”  Những năm sau, tôi nghe tiếng cười của mẹ ròn rã tươi vui hơn, đã bớt nghe mẹ thở dài trong đêm khuya, bởi vì mẹ đã có chúng tôi, mẹ không còn cô đơn nữa. Những năm tháng về sau hình như mẹ đã sống lại quãng đời thanh xuân sôi động của chính mình với những đứa con mang trong lòng những lý tưởng yêu người giúp nước. Lắm khi họ đã trở thành những người bạn  bạn vong niên dưới mái nhà nơi phố cổ Bạch Đằng của mẹ. Các anh Giàu, Văn, Kha, Đông, Tùng, Kỳ...  đã được mẹ tôi quí trọng và thương yêu như con và lắm khi như “bạn”. Nhưng mẹ đã không bao giờ là “Bà Mẹ” như  “Mẹ Suốt” mà anh Võ Quê đã có nhã ý trao tặng trong bài Điếu văn đọc ngày mẹ mất. Mãi mãi mẹ tôi vẫn là bà Mẹ Phật tử với tấm lòng thành.

“... Sinh viên nghèo học trò khó mẹ thường đùm xách mắm muối đến cho !
Lắm khi vì người nhịn cơm xẻ áo giúp bà con láng giềng qua cơn túng quẩn.
Ai xây chín chữ phù đồ, mẹ thường bảo, ta đây tu tâm nơi từng đứa con đứa cháu
nơi từng bát canh cà dưa rau đậu...”
 
( Ai Văn vĩnh biệt Mạ – Thái Kim Lan )

      Có lẽ trong giòng hồi ký này đối với tôi điều đáng nói nhất lại chỉ là điều nhỏ nhoi này trong đại cuộc Phật giáo hôm ấy : cuộc vận động Phật giáo 1963 đã đem lại cho người phụ nữ đáng kính là mẹ của tôi có cơ hội tham dự và chia xẻ ý nghĩa hạnh nguyện giác ngộ bình đẳng của mọi chúng sinh trên thế gian này qua sự dấn thân của người con gái và những đứa con chung của thành phố Huế.

4. Là Phật tử !

Buổi chiều sân chùa vẫn sôi nóng những chuyện người ở kẻ về. Máy phóng thanh không biết đổ mồ hôi và khản cổ nên vẫn ầm ĩ bên ngoài. Một vài người bịn rịn rời chùa. Trần Duy đi, một vài bác cư sĩ lạy ôn từ giả, rồi bỗng dưng T.N. cũng đòi về làm cho T.T. Kỳ nổi nóng la hét ầm ỹ, đến nỗi V. Tùng thường cười khì, ít nói cũng phải bật lên: “thằng cha dãy dụa còn hơn là lúc mất người tình!!!” Anh em phải ôm Kỳ dỗ dành mãi mới chịu đi ăn cơm.

Đêm hôm ấy nhớ thương mẹ tôi trằn trọc mãi không ngủ được, mấy chị trong GĐPT cùng chia cái phòng nhỏ dành riêng cho phụ nữ trong dãy nhà của thị giả đã ngủ say. Trời nóng bức ngột ngạt. Tôi rón rén trở ra ngồi ở tầng cấp giảng đường. Trăng 14 đã lên sâu thẳm trên vòm trời xanh đen. Phật Đản rứa mà đã gần tròn một tháng!   Cảnh vật yên tĩnh đến kinh ngạc. Chưa bao giờ tôi “nhìn” được một sự yên tĩnh lạ kỳ như thế ở nơi sân chùa Từ Đàm. Có lẽ ban ngày sự hỗn loạn ồn ào chát chúa đổ đầy sân, ùn cao như núi, nên sự yên lặng trở về bỗng sâu hút như vực thẳm. Dựa người vào thành tường, tôi nhắm mắt ngồi tĩnh tọa và thiếp đi lúc nào không hay. Trong lúc mơ màng tôi bỗng cảm giác có ai lay nhẹ vào vai đánh thức, tôi choàng tỉnh, mở mắt thấy ngoài mình chỉ có ánh trăng đang vượt khỏi ngọn cây Bồ Đề chảy tràn trên thềm, liêu trai huyền hoặc, cùng một lúc tiếng kinh cầu an của các sư cô công phu khuya cất lên trong không gian yên tĩnh. Đã từ một tuần nay đêm đêm các sư cô cùng với các cư sĩ đều tụng phẩm Phổ Môn cầu an lành cho cuộc vận động và cho mọi người trong chùa, nhưng mãi bận công việc và tối đến mệt nhoài nằm lăn ra đất ngủ nên chẳng nghe thấy gì cả. Tiếng tụng kinh êm đềm, thanh thoát, trong suốt và tinh vi như   muôn nghìn nguyên tử lân tinh lấp lánh của màu trăng thẩm thấu trong không gian, đến đậu trên vai trên áo, trên má trên da thịt, trên từng chân tơ kẻ tóc, dịu dàng thấm đượm vào tận xương tủy, làm lành tất cả những vết đau của những ngày cháy nắng dầu sôi lửa bỏng. Tôi ngồi đó, thọ ơn!  Như được tắm gội bằng ánh trăng và lời kinh, mọi bực dọc căng thẳng thần kinh ban ngày trong thoáng chốc được gột sạch. Không gian và thời gian như dừng lại ở một điểm xoáy sâu trong bóng đêm mênh mông, từ đó tiếng kinh dìu ánh trăng – hay ánh trăng dìu tiếng kinh ? – nâng lên hoà thành một điệu luân lưu  - như một giòng suối từ nghìn xưa chảy qua vực sâu trong lòng núi tối tăm chợt thấy được ánh sáng của trời cao nên vội vàng - với tất cả tấm lòng trinh nguyên của suối, - vội vàng mà chậm rãi từ trong bản chất – dội chan hoà trên sự tĩnh lặng của ngôi chùa, tràn vào những ngõ ngách của con tim. Trong khoảnh khắc của một tia chớp tôi như “sờ” được trạng thái BÌNH LẶNG THANH THẢN mà nhịp tim của mình vừa mới bắt gặp và đang bước theo. Thật là đơn giản nhưng cũng huyền diệu vô cùng đề nhận ra khoảnh khắc ấy : trong sự tĩnh lặng của bóng đêm, trong sự  rỗng không của sân chùa trống trải, trong sự câm nín của bóng lá cây Bồ Đề, trong sự chìm đắm ngủ say của những cái quán bên đường, tiếng kinh cùng với ánh trăng chỉ là âm vang của chính sự tĩnh lặng ấy, không có chi khác! Và sự an lành nằm chính trong lòng vạn vật bên ngoài cũng như ở trong tâm.  Lần đầu tiên trong đời tôi cảm thấy hình như mình đang hiểu được đạo Phật trong bản chất thật thâm sâu mà rất mộc mạc : đàng sau ngày là đêm, đàng sau những náo nhiệt đinh tai nhức óc là sự tĩnh lặng vô cùng, và đạo Phật là con đường vô ngại đưa người từ bờ này sang bờ bên kia. Nếu không trải qua những ngày điên đảo như trong hỏa ngục làm cho cả thân tâm “nhừ tử” thì tôi đã không mở hết lòng để đón nhận “sự giải phóng khổ đau” nương vào tiếng kinh và ánh trăng yên lặng như thế .

Một mình ngồi đó khi tiếng kinh vừa dứt, nhưng tôi không một mình.  Cảm giác như có NGƯỜI đưa tay đỡ mình đứng dậy : không phải ngày qui y, không phải ngày gia nhập đoàn Sinh viên Phật tử, không phải những ngày đi vòng quanh “úm ma ni bát mê hồng”, không phải những hôm lên chùa tụng kinh, lạy Phật, mà là đêm trăng hôm ấy, một tháng sau ngày Phật đản sinh, ngồi kẹt trên Từ Đàm tôi nhận ra: chừ mình mới là người Phật tử, như chưa bao giờ thành tâm đến như thế!

5. Lại chuyện phong toả

Chùa Từ Đàm bị phong tỏa như thế đã gần một tuần. Riết rồi quen! Không bàn bạc với nhau mà người phong toả và kẻ bị phong toả như biểu đồng tình cứ việc ai lo chuyện nấy. Bên ngoài cứ chưởi bới vu khống, máy phóng thanh vẫn oang oang lệnh vỡ,  bên trong cứ một lòng chịu trận bằng cách không thèm để ý đến những lời thóa mạ như cơm bữa ấy nữa. Bên ni anh em chia phiên nhau tụng kinh công phu sáng trưa chiều, giúp các chú quét sân, làm vệ sinh, giúp mấy o trong nhà bếp sửa soạn cơm nước và mỗi tối lên hội đàm với qúi Thầy. Bên tê đường, ngoài cái máy phóng thanh vẵn còn hăng hái, hình như mấy anh công an mật vụ cũng đã giảm bớt rình rập láo liên mà ngồi tụ lại với nhau, - nghe nói một hôm không biết anh chủ quán vô tình hay cố ý đặt lên bàn nước bộ bài xì dách - sẵn ngồi không cả ngày, họ quay ra xây sòng các-tê? Những người lính gác cổng chùa cũng đã đổi tư thế, không còn lăm lăm án ngữ cửa chùa, súng gác bên thềm, ngồi “chò hỏ” (ngồi xổm) nghỉ mệt. Lân la sớm chiều, mấy chú tiểu trong chùa đã dám mon men ra ngồi ở cửa Tam quan hóng mát rồi dần dà bắt chuyện với mấy người quân cảnh vài câu mô tê. Giữa những giờ trưa nắng gắt, trên hàng chè tàu ở một góc chùa khuất đường chính thấp thoáng  có bàn tay áo nâu từ bi vội vàng và vụng trộm chuyền ra ngoài bát nước chè xanh nấu với gừng cho anh lính gát đang đổ mồ hôi hột. Đã có hơn một lần chúng tôi bắt gặp dưới hàng rào một vài gói kẹi cau kẹo gừng hay gói thuốc lá của ai ở ngoài chuồi vào qua các khe hở. Không biết do một sức huyền nhiệm nào đã chuyển hoá - hay là nhờ có Phật độ như mẹ tôi thường nói – mà cái hàng rào với dây kẻm gai súng ống dùi cui ngăn chia người bên ngoài canh gát và kẻ bị canh gát rinh rập dần dần bớt đi gai góc. Trong lúc nhà cầm quyền vẫn ngâm lệnh phong toả chùa Từ Đàm như một trừng phạt những người dám lên chùa tuyệt thực và xem đó cũng là biện pháp “răn đe” và “bóp nghẹt” những nguyện vọng của bản tuyên ngôn, thì những người thừa hành ở dưới hình như đã nhìn thấy được sự phi lý và bản chất của lệnh phong toả này nằm trong tương quan giữa tham vọng quyền uy và sự đối kháng tất nhiên đến từ tham vọng ấy, mà nạn nhân là Phật giáo, cho nên sự phong toả tự nó dần dần không còn gay gắt và nghẹt thở như buổi ban đầu.

Tuy nhiên chủ trương của anh em SVPT vào thời điểm ấy là “thi hành nghiêm chỉnh lệnh phong tỏa của nhà cầm quyên”. Bao lâu 5 nguyện vọng của Phật giáo không được chính quyền chấp nhận thi hành và lệnh phong toả không được nhà cầm quyền chính thức bãi bỏ thì anh em cương quyết không ra về để bảo vệ chùa Từ  Đàm và yêu sách của Uỷ ban Liên phái Bảo vệ Phật Giáo đưa ra. Trong tinh thần bất bạo động và “chịu trận” chúng tôi tự nguyện ở lại chùa và chờ đợi.

Trong khoảng thời gian này có một chuyện xảy ra mà tôi không bao giờ quên được.

Chùa bị giam lỏng như thế đã được gần bảy ngày. Mấy hôm đầu bửa ăn tuy đạm bạc nhưng khá đủ phần ăn. Đùng một cái nhiều người trong chùa bị đau bụng. Tìm hiểu nguyên nhân thì mới biết là có kẻ gian lén bỏ thuốc vào nước uống và gạo. Bao nhiêu gạo phải đem đổ đi. Cả chùa phải ăn cháo. Những ngày sau lương thực cạn dần nên buổi tối chỉ còn cháo gạo với muối rang. Qua ngày thứ sáu, nghe chị Thu nói như gió thoảng “chùa gần hết gạo rồi!” trong một buổi ăn tối; “ngồi không mà ăn núi cũng lở huống chi chùa Từ Đàm!” Sáng hôm sau nghe có tiếng lao xao ở cửa Tam Quan, tôi nhìn ra, thấy Thầy Trí Thủ đang đứng với một hai chú chỉ trỏ nói chuyện với mấy anh lính gát. Một lát sau thấy có chiếc xe xích lô trờ tới và Thầy lên xe ngồi. Thầy bảo Thầy qua chùa Sư Bà Diệu Không  có việc. Khoảng hai giờ sau thấy ba bốn chiếc xe xích lô đổ xịch trước cổng chùa, trên xe chở mấy bao gạo và một số lương thực khác. Thầy Trí Thủ và sư bà Diệu Không cũng đã vào chùa trong lúc mấy người phu đang lúi húi mang gạo vào. Nghe nói gạo của mấy chị tiểu thương chợ Đông Ba cúng dường. Mọi người trong chùa nghe có chuyện lạ đều ra đứng ở sân xem, có người nói như reo “rưá là tối ni có gạo nấu rồi! Ôn ra tay là được liền.”

Tôi chưa kịp biết mình vui hay rầu thi bên tai một tiếng thét vang lên đến đinh tai, nếu có cầu Trường Bản ở đó chắc cũng sập luôn : “Ui chao! Ai làm chuyện ni?”  Tác giả của tiếng thét vô tiền khoáng hậu đó không ai khác hơn là T.T. Kỳ. P.C. Đông đứng bên cạnh cũng phải bật ra xa mấy bước: “Thằng cha ni đúng là Trương Phi bây ơi!” Kỳ nhảy lên đong đỏng, vật vả mình mẩy khi nghe Thầy đi thương lượng tay ngang với mấy anh lính để đem gạo vô chùa. Anh chạy vô bếp rồi chạy ra sân chùa, đập đầu vô tường, dơ hai tay lên trời, - cử chỉ đam mê của một người martyr (“xả thân vì đạo”), rồi chạy huỳnh huỵch lên tâng cấp về phía phòng Trai, nơi qúi Thầy đang ngồi, vừa chạy vừa nói “mau lên họp cho tui trình bày chuyện ni!” Chúng tôi, Kha, Đông, anh Văn , B. Tôn, V. Tùng lật đật chạy theo lên phòng Thầy Trí Quang.

Thầy đang ngồi với quí Thầy Thiện Siệu, Trí Thủ, Chánh Trực, Đức Tâm và sư bà Diệu Không. Thấy chúng tôi hơ hãi chạy lên, Thầy đứng dậy đi qua phòng Thầy như thường lệ. Thầy chưa kịp hỏi thì Kỳ đã bù lu: “Thầy cho con biết ai ra lệnh đi thương lượng để đem gạo vô chùa. Như rứa là làm hại cuộc vận động rồi! Rứa là họ cho mình thoả hiệp chung chung và sẽ không nghiêm túc giải quyết! Rứa là uổng công tụi con lên chùa tuyệt thực và chịu khổ mấy ngày ni, ui chao tức qúa tức quá!”  Miệng anh mếu, nước mắt ứa ra. Đông ôn hòa: “thì từ từ, thằng cha ni nóng nảy dễ sợ !” Anh Văn bảo: “Kỳ nóng nhưng nói đúng, chủ trương của mình là nhẫn nhục, hi sinh. Anh em sẵn lòng gánh hết mọi cực khổ, nhưng phải cương quyết không nhu nhược mới được, không nên hàng hai, do dự.” Kỳ được thể hét tướng lên : “Thầy phải bắt Thầy Trí Thủ trói lại cho con! Không được làm những chuyện… ẩu như ri nữa , Thầy trói Thầy Trí Thủ lại cho con. Làm như rứa là vô tình phá hoại cuộc vận động!”, hắn nói bừa.   Ui chao, cả bọn chúng tôi sửng sốt vì thấy anh chàng lỗ mãng đòi trói một vị sư  trưởng thượng!

B. Tôn nói: “Nói bậy nà! Nì răng mà còn nóng hơn cả Trương Phì nữa? Hắn là anh Trương Phì đó Thầy ơi”

Thầy Trí Quang ngẩn người một lát, rồi cười,- Thầy hay có nụ cười nói lên nhiều chi tiết tình cảm khác nhau, lắm khi do sự mâu thuẫn lẫn nhau  của chúng mà nụ cười trở thành đặc biệt khó tả, một tay Thầy đưa lên xoa cái đầu ông sư tròn trịa một tay gãi bụng qua tà áo ‘lá quạ’ - “Chà chuyện ni khó đa. Làm răng mà trói được, mấy chú!”

Mắt Thầy nhìn qua phiá phòng mấy Ôn đang ngồi với ánh kính nể: “Ôn nớ còn to hơn Thầy nữa chú mi ơi. Ông là Giám Viện Phật học Trung phần. Thầy còn phải bái ông. Làm răng mà trói Ôn được?”

V. Kha nói ôn hòa: “Dạ thưa Thầy, Kỳ hắn nóng hắn nói thế thôi, làm chi có chuyện dám trói!” Đông cũng thêm vào:  “Thằng nóng như lửa đốt! Còn hơn cả Trương Phi, thôi kêu hắn là Trương Phì cũng vừa!”. Thầy bảo: “Thầy Trí Thủ vừa ở Nha Trang ra, nên chưa biết rõ khúc nôi, Thầy thương Phật tử, sợ Phật tử đói nên bàn với sư bà Diệu Không xuống phố xin gạo về. Thôi anh em cũng thông cảm. Vả lại đây cũng là trường hợp đặc biệt, Thầy Trí Thủ là khách của chùa nên anh em tế nhị một chút!”

Kỳ vẫn còn phụng phịu: “Thưa Thầy, anh em con hết lòng muốn bảo vệ chùa, Thầy hiểu cho lòng chúng con. Từ rày về sau không nên xảy ra trường hợp này nữa!”.

Thầy cười bảo: “Thầy rất hiểu tấm lòng của anh em. Chừ Thầy phải đi hội kiến với qúi Thầy. Anh em xuống giảng đường đi.”

Trước khi lui ra, anh em đề nghị xin Thầy ngày mai một buổi họp để thống nhất công việc và kiểm điểm tình hình.

Vừa bước xuống tâng cấp, Đông vừa xây qua Kỳ: “Nì, Trương Phì ơi, ở đây có cầu Trường Bản mô mà hét, răng không hét cho lựu đạn cay tan khói liền đi, cha nội!”

Anh Văn cười ha hả: “Hắn là em Trương Phi mà cũng là em tau đó bây!” Cả bọn cùng cười, chúng tôi ai cũng nghĩ mình là em của anh Văn, chứ riêng chi Kỳ mà anh Văn nhìn lạm! và là anh em của nhau trong những ngày khổ hạnh ban đầu! Từ đó chúng tôi chỉ gọi Kỳ là Trương Phì! Làm sao mà quên được?

Chúng tôi kháo chuyện, phê bình lẫn nhau chưa lâu, bỗng Thầy Trí Quang đích thân xuống cho biết là Thầy Trí Thủ đã tự ý đắp y áo, lên lạy Phật và bắt đầu tuyệt thực để sám hối Chúng tôi nghe tin hoảng hồn, vừa kinh hãi vừa thán phục. Thất kinh vì không ngờ tiếng nói của chúng tôi, một lũ đệ tử còn tham sân si – dù sai dù đúng, dù nhỏ nhặt vội vàng  – lại được qúi Thầy lắng tai nghe, thán phục vì không ngờ một vị đạo cao đức trọng như Thầy Giám Viện, đã từng giảng dạy dìu dắt biết bao vị sứ giả của Như Lai, lại phát bồ đề tâm rộng lớn, bỏ tất cả ngã chấp, nhìn nhận sai lầm, dù cho sai lầm ấy là do tâm từ rộng quá, tự nguyện sám hối trước Đức Phật. Thấy chúng tôi đứa nào cũng áy náy, Thầy Trí Quang bảo: “Mấy anh em đừng tưởng Thầy làm chuyện ấy vì anh em! Không! Chẳng ai dám nói chi! Thầy Giám Viện cầu nguyện sám hối cho tất cả mọi người, kể cả anh lính ngoài kia, và…” Thầy cười có ý nghĩa:  “... cho cả những sân si của chính quyền hiện nay luôn!”.

Rồi để cả lũ “ngựa bất kham” ngồi đó chưa hết ngẩn ngơ, Thầy quay lưng ung dung đi lên nhà.

Sau buổi cơm trưa Thầy Trí Quang cho thị giả gọi tôi lên phòng. Tôi lên.

Thầy bảo: “Chuyện hồi sáng Thầy cũng bất ngờ, Thầy Trí Thủ cao thượng tu chứng hành thâm. Vậy ít nhất anh em nên tỏ thiện ý đối với Thầy. Chị Kim Lan xuống xếp đặt với anh em, sau buổi cơm chiều, anh em lên chánh điện Phật đọc kinh sám hối. Ngủ một đêm cho mọi chuyện lắng dịu. Sáng mai sớm anh em lên lạy Thầy Trí Thủ xin lỗi Thầy trước khi đến họp với Thầy.”

      Buổi chiều anh em lên điện Phật đọc kinh sám hối. Điện Phật chùa Từ Đàm đối với tôi quen thuộc quá. Khác hẳn với những chùa đại thừa ở Huế, chánh điện chùa Từ  Đàm rất đơn giản, chỉ thờ tượng Phật Bổn Sư Thích Ca mà không thờ Tam Thế Phật. Tượng Bổn Sư ngồi trên đài sen, cao 4 thước, ngày thường khi ngắm tượng, tôi tiếc là tượng không cổ xưa như các tượng ở chùa Linh Mụ, mà lại được đúc bằng thạch cao trắng, nhưng mặt và dáng ngồi rất hiền từ và uy nghi.

Ngoài trời trăng chưa lên, trong điện ngọn đèn vàng chiếu thâm u mơ hồ, chúng tôi qùi xuống trong ánh sáng giao thoa giữa ngày và đêm, chắp tay,  nhắm mắt quán tưởng và cùng nhau đồng tụng:

“Đệ tử kính lạy, Đức Phật Thích Ca,... Đệ tử lâu đời lâu kiếp, Nghiệp chướng nặng nề, Tham giận kiêu căng, Si mê lầm lạc. Ngày nay nhờ Phật, Biết sự lỗi lầm, Thành tâm sám hối.”

Chúng tôi đã từng đọc bài kinh này mỗi lần công phu khuya sớm, nhưng hôm nay nghe mỗi chữ thấm lần vào tâm trí một cách lạ thường, chính tôi cũng không giải thích nỗi. Chỉ biết nước mắt cơ hồ tràn ra khi đọc đến đoạn “Đặng cứu độ các bậc tôn trưởng, cha mẹ anh em, thân bằng quyến thuộc, cùng tất cả chúng sinh đồng thành Phật đạo.”

Chí nguyện rộng lớn bao la mà hiện sinh của mình thật nhỏ bé trong muôn kiếp! Nhưng với ý nguyện Sám Hối, nhìn rõ sự sai lầm tạo nghiệp của chính mình, hiện sinh nhỏ bé là con người có thể tạo ra cho mình cơ hội giải thoát khổ đau để trở thành con người thần thông tự tại bằng cách  “hằng ngày an vui tu tập, Phép Phật nhiệm mầu, để mau ra khỏi luân hồi, Minh tâm kiến tính, Trí tuệ sáng suốt, Thần thông tự tại”. Ngày thường đọc kinh Sám Hối như ‘cháo lòng’, hôm nay mỗi chữ trong kinh bỗng trở nên những con thuyền nhỏ, chở tôi và những người đồng đạo đến tận bờ chân lý của Đạo Phật một cách an nhiên bằng  sức mạnh trí tuệ và sự can đảm của con tim. Khi tôi mở mắt ra, tượng Bổn Sư  sáng loà trong điện. Có phải trăng đã lên ở ngoài hiên hay đó là ánh sáng trong tâm làm tôi chấp choá niềm vui?

6. Chủ trương cuả Đoàn SVPT.

Ngày hôm sau chúng tôi cùng nhau lên tạ lỗi với Thầy Trí Thủ. Mọi người không nén được cảm động khi cùng nhau chắp tay vái Thầy và xin Thầy ngưng tuyệt thực. Trong đại cuộc vận động ngày ấy không hiểu sao những giây phút nhỏ nhặt này lại được khắc ghi cùng với  nhịp chuyển của trái tim sâu đậm đến thế! Chúng tôi đứng đó ấp úng, nghẹn ngào như đứa trẻ lên ba, Thầy Trí Thủ cũng xúc động không kém, nét mặt Thầy ôn nhu và điềm dạm, nghiêm trang nhưng không kém vẻ từ bi. Thật là lạ lùng, những tưởng đi theo phong trào tranh đấu là phiêu bạt ít nhiều nơi dọc đường gió bụi, không ngờ chúng tôi lại ghé bến nơi mảnh đất lành linh thiêng trong sạch là chùa Từ Đàm, những tưởng giống như lời vu khống hằng ngày không ngớt thóa mạ cho chúng tôi là phường đi theo “Ba Cụt” làm giặc, nhưng không!  Ai có hay ở trên đất chùa Từ Đàm hôm ấy chúng tôi đang bước từng bước thực tập vỡ lòng đạo làm người theo đúng với lương tri, mà thiên kinh vạn quyển Đạo Đức học từ xưa đến nay một mực xem là chủ đích của nhân sinh, nhưng bội phần vẫn chỉ là lý thuyết suông. Cả Thầy và trò không ai nhiều lời kể lể, nhưng sự thông cảm đã nằm trong ánh mắt. Cuối cùng Thầy nói: “Anh chị em cứ yên tâm, bởi vì Thầy mới về Huế, nên muốn đáp lễ qúi Ôn đã tuyệt thực cầu cho đạo pháp mà chưa có dịp. Thầy cám ơn anh em đã tạo ra dịp đó cho Thầy.”

Chúng tôi mừng, lạy chào Thầy và đến gõ cửa phòng Thầy Trí Quang.

Căn phòng nhỏ bé khiêm tốn nằm bên cạnh tay phải chánh diện, nhìn từ ngoài vào, là nơi chúng tôi thường đến nhiều nhất trong khoảng thời gian chùa bị phong tỏa. Trong phòng chỉ có chiếc giường cá nhân, hai cái ghế và bàn viết, kệ sách và hình Bổn Sư.  Đơn giản và tinh khiết đến mức tối đa. Mấy mươi năm sau trở về thăm Thầy ở Ấn Quang, Già Lam,  thì tuy sao có giời nhưng vật hình như chẳng đổi, vẫn đơn sơ nghèo nàn theo cung cách của một nhà tu chân chính. Thầy chẳng có chùa lớn cũng không lập môn phái biệt dị nào, vẫn là một nhà tu khổ hạnh, sứ giả thuần khiết của Như Lai.

Mở cửa vào đã thấy nụ cười của Thầy đón anh em chúng tôi, cởi mở nhưng nghiêm túc và oai linh. Thầy đã tiếp chúng tôi như thế.

Chúng tôi thường ngồi dưới đất còn Thầy ngồi ở bàn viết tiếp chuyện với anh em.

Cuộc vận động Phật giáo kể từ hôm Phật Đản đã được hơn năm tuần. Từ lệnh cấm treo cờ đèn hôm 7/5 (nhằm ngày 14 tháng tư Âm lịch), vụ thảm sát xảy ra tại Đài Phát Thanh Huế tối 8/5 , đám tang các Thánh Tử vì Đạo 10/5. Bản tuyên ngôn và bản phụ đính của Ủy Ban Vận động được tuyên bố nhân dịp Ngày sơ thất Thánh Tử  Đạo 14/5 (21/ 4 Âm lịch), mọi việc đều do Thầy cùng với quí Thầy thừa lệnh của Ôn Hội Chủ sắp xếp. Nhưng có thể nói Thầy đã là linh hồn của cuộc Vận Động  Phật Giáo 63.

Trong các cuộc phỏng vấn của các nhà báo Mỹ, Úc và Âu châu, Thầy đã cho chúng tôi biết:

Cuộc vận động 1963 của Phật giáo VN là một phong trào. Phong trào này không do ai tác động dầu ai đó là VC hay là Mỹ. Phong trào này là hoàn toàn tự động, có ra bởi cái chính sách đàn áp của chế độ ông Diệm. Đấy là một phong trào thực sự, không phải chỉ là cơn biến động. Những đầu óc quen thói thị thường Phật giáo phải thấy như vậy. Để họ phải thấy như vậy, cuộc vận động Phật giáo phải có một bản Tuyên ngôn. Để công bố bản Tuyên Ngôn ấy, tôi đặt một Ban Tổ chức, tổ chức một cuộc mét ting qui mô mà tôi đã hứa khi yêu cầu tạm ngưng những cuộc biểu tình tự phát. Tất cả các Khuông hội Phật giáo nội thành và phụ cận Huế được thông cáo như vậy, và yêu cầu tham dự đông đủ với hàng ngũ chỉnh tề. Gia đình Phật tử của các khuôn hội đi theo khuôn hội của mình, vói đồng phục và phù hiệu đầy đủ. Các cháu Anh vũ miễn tham dự. Khẩu hiệu với biểu ngữ chính vẫn là “Phản đối dụ số 10”, “Phản đối chính sách đàn áp”. ( ii ) 

      Không những riêng chúng tôi mà chính Quí Thầy đều ngạc nhiên về sự tự phát của cuộc vận động. Sự hưởng ứng của quần chúng Phật tử như một sức nước dâng, đến nỗi chúng tôi thường ngày tự đặt câu hỏi hướng đi và phương thức hành động trong những ngày sắp tới như thế nào để có thể đối phó với những biện pháp thiếu thiện chí của chính quyền và đáp ứng được sự ủng hộ của quần chúng. Chúng tôi thường trình bày với Thầy những thắc mắc của anh em, nhất là sau vụ “Trương Phi nằm vạ”. Trong những buổi anh em hầu chuyện với Thầy, Thầy thường nhấn mạnh đến phương thức hành động duy nhất của người Phật tử là tuyệt đối bất bạo động và thực hành chữ “nhẫn”. Trong nhiều tình huống lắm khi anh em cảm thấy phương châm này còn khó thực hiện hơn là bạo động đập phá để thỏa lòng tức giận đối với bạo quyền độc tài, đối với nhiều người nó như một dấu hiệu của sự cúi đầu khuất phục. Trước thái độ khinh thường và kiêu ngạo thấy rõ của nhà cầm quyền, không chịu thực sự thương thuyết với phái đoàn Phật giáo, mọi người đều bồn chồn nóng nảy muốn tiến lên, muốn xông tới. Nhưng chính Hòa Thượng Hội chủ đã ra thông cáo khuyên nhủ mọi người Phật tử không được vọng động, phải kiên trì tụng niệm cầu nguyện cho bản tuyên ngôn được chấp nhận và ngay cả cầu nguyện cho những người cầm quyền tỏ thái độ thiện chí đối với những đòi hỏi chính đáng của Phật giáo.

“Thưa Thầy”, hôm ấy anh Kha lên tiếng trước, “tình hình này đã kéo dài hơn tháng rồi, mà nhà cầm quyền tìm đủ mọi cách tránh né không chịu ngồi vào bàn thương thuyết, con sợ rồi Phật tử sẽ nản lòng”. Đông góp thêm, không để cho Thầy trả lời ngay, mà thường Thầy cũng để cho anh em thảo luận với nhau trước: “Con thì con không sợ Phật tử nản lòng! Phật tử kiên trì gấp mấy lần bọn sinh viên chúng mình, nhưng theo ý con, cần có một đường lối rõ ràng cho từng giai đoạn!” Tùng hỏi: “Giai đoạn là răng?” Đông nói: “Thằng cha ni mai chừ ngồi ngủ gục chắc? Thì từ ngày Phật Đản đến chừ mình đã trải qua nhiều biến cố, từ ngày Thánh Tử Đạo đến bản tuyên ngôn ra đời cho đến chừ, điểm cao là đợt vận động tuyệt thực và sau đó là đợt bị phong toả, anh em nhất quyết chịu đòn không nao núng, chơ chi nữa!”  Tùng cười nhe hàm răng sư tử hống: “Thì nói cho rõ ra rứa chơ!”.

B. Tôn nhanh miệng: “Mình chịu đòn giỏi thiệt rồi đó!”… anh nháy mắt với Trương Phì đang ngồi im, cử chỉ cố hữu của mệ Tôn, “nhưng nhà cầm quyền vẫn chơi trò ấm ớ không chịu giải quyết, thì cũng gay, phải không thưa Thầy? Phật tử thì không chơi trò gậy gộc được rồi, cứ đưa lưng ra chịu đòn hoài !? Mình còn chước chi nữa ngoài môn tuyệt thực và đi biểu tình?” Anh Văn xen vào, phân tích chiến thuật: “Còn đoài chi nữa? Cuộc vận động này thực chất phải là bất bạo động, và đòi hỏi hy sinh. Chỉ có hy sinh mới chọi lại với

thế lực của chính quyền này!”, “Anh Văn nói nghe mâu thuẫn ghê! Rứa thì sự hi sinh này phải to lớn lắm!”, tôi dè dặt nhận xét. “Chắc chắn!”, anh Văn hùng biện thêm: “Của cả tập thể Phật tử, 85 % dân số lận và phải hi sinh dài dài nữa, chính quyền càng ngoan cố không chịu giải quyết và khinh thị nguyện vọng của Phật tử thì Phật tử phải cho chính quyền biết họ không thể đi ngược lại nguyện vọng của người dân. Cho nên không những tuyệt thực mà còn đi biểu tình, không biểu tình thì bãi khoá, không bãi khoá được thì bãi thị, chính quyền càng bắt bớ thì chúng ta vào tù, tất cả đều vào tù. Sinh viên vào tù, Phật tử vô tù, coi ông Diệm có đủ nhà giam để chứa không!”  Anh Văn nói một nghỉn như say.

Cái lý thuyết kỳ quặc đi tranh đấu để “vào tù” ấy, tôi nghe lần đầu tiên trong phòng chùa Từ Đàm và tôi thấy Thầy Trí Quang cười sáng rỡ. Hình như ý kiến này đúng với suy nghĩ của Qúi Thầy. Thầy gật đầu và bảo với chúng tôi: “Anh chị em nên nhớ, mặt trái của Bất Bạo Động là đi vào tù đó! Bất Bạo Động đòi hỏi rất nhiều dũng cảm và nhẫn nại, nhẫn nại là một hạnh Bồ tát có thể chịu đựng trải qua bách thiên vạn kiếp luân hồi để chờ ngày giải phóng giác ngộ hoàn toàn cho tất cả chúng sinh. Cuộc vận động này như Thầy đã nói, là của Phật tử, và chúng ta không có phương cách nào khác là Bất Bạo Động, Thầy phải nhắc đi nhắc lại, chúng ta phải rất cảnh giác, để đừng bị chọc giận, chọc tức. Hiện nay nhà cầm quyền chỉ muốn chúng ta có những hành vi bạo động để nắm được lý do dùng biện pháp mạnh trừng trị, không những nhà cầm quyền mà ngay phe đối lập nhà cầm quyền hiện nay cũng muốn chúng ta bạo động để lợi dụng thời cơ. Vậy thái độ của người Phật tử trong cuộc vận động này nhất thiết phải là bất bạo động và sẵn sàng đi vào tù, cho nên ta phải luôn luôn cảnh giác, đừng để bị chọc giận mà phải luôn luôn kiên nhẫn!”

Buổi nói chuyện ngắn ngủi này đã ghi đậm trong trí nhớ của tôi, bởi lẽ những ngày kế tiếp sự việc diễn biến quả nhiên không ngoài những định liệu đã nêu ra. Khi rời phòng Thầy, anh em còn bàn cải thêm và phân tích tình hình. Hình như lúc ấy chúng tôi vẫn mang một nỗi hoài nghi về sức nhẫn nại của chính mình, chúng tôi còn trẻ quá, nên chỉ muốn sẵn sàng - nói như Trương Phì đã tuyên bố trong một giây phút cảm xúc trong buổi họp khoáng đại - “hy sinh đến giọt máu cuối cùng cho đạo pháp”.

Trước khi ngủ đầu óc tôi vẫn còn vướng vất ý tưởng “vào tù”, chúng tôi sẽ “vào tù” như một hình thức phản kháng bất bạo động? Thực tình lúc ấy tôi chưa tưởng tượng ra nỗi chính mình sẽ “vô tù thực sự ”, mặc dù những ngày bị phong toà đã là một thứ tù giam lỏng!

7. Hoà Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu !

Chùa Từ Đàm bị phong tỏa như thế được gần hai tuần. Khác hẳn với những ngày đầu hết sức căng thẳng, những ngày kế tiếp chúng tôi đã được thao luyện với tính khẩn trương của tình thế nên “thong thả” hơn đối với diễn biến mỗi ngày. Máy phóng thanh vẫn tiếp tục đe dọa và khuyến cáo dân chúng đừng nghe lời Cọng sản và đừng đi theo Cọng sản đang rắp tâm phá rối trị an, nhưng hình như chẳng ai để ý tới. Tuy lệnh phong tỏa dưới đất được chính quyền yểm trợ với 4 phi cơ chiến đấu bay lượn trên không suốt ngày dòm ngó đe dọa, dưới đất tướng Trí ra lệnh gia tăng các chiến xa và quân đội, dùng những đàn chó trận gầm gừ chận đứng ngõ Từ Đàm và liên tiếp dùng lựu đạn a xít uy hiếp những đoàn người đi lên chùa. Nhưng ngược lại với những ngày đầu, dần dần chính những người bao vây chùa Từ Đàm đã âm thầm “giải” phong tỏa ở phía sau chùa vào ban đêm để cho Phật tử vào chùa, hay chính họ dẫn vào cũng như đưa các thư từ của phụ huynh các người bị giữ ở chùa. Một điều làm cho chúng tôi cảm động nhất là phần đông các bậc phụ huynh đều bảo người thân bị kẹt trong chùa “cứ ở lại với các Thầy”. Sau hơn một tuần ăn uống thiếu thốn vì hết gạo, bỗng nhiên chúng tôi thấy bàn cơm mỗi bữa khá phủ phê, sau mới biết chính những người lính phong tỏa đã bí mật cho các chị tiểu thương đem gạo và lương thực vào ngả sau của chùa.

Có thể nói trong thời gian bị phong tỏa ở chùa Từ  Đàm chúng tôi đã trải qua những những ngày lạ lùng nhất về tình đồng đạo và sức mạnh cảm hóa của chính nghĩa. Hình như có một ánh hào quang nào đó tỏa sáng từ cây Bồ Đề trước sân, từ Tượng Thích Ca Mâu Ni trong chánh điện hay từ đức độ của Qúi Ôn Qúi Thầy, mà mọi sắt đá hung dữ từ bên ngoài bỗng hóa mềm, trong lúc ấy càng ngày tình đồng đạo của những người ở ngoài chùa mỗi lúc càng sôi nổi. Không có ngày nào mà chúng tôi không thấy thấp thoáng những khuôn mặt bạn bè chao qua đảo lại ở bên kia đường. Ai ở dưới phố mà không chộn rộn ngóng lên chùa Từ Đàm? Chùa Từ Đàm bỗng trở nên một đề tài thu hút tất cả những bận tâm của mọi người dưới phố. Trên khắp các đường phố quần chúng sôi động khác thường. Sinh viên học sinh không còn thói quen hàng ngày “bát phố” Trần Hưng Đạo như trước mà rủ nhau đạp xe lên chùa nghe ngóng tình hình. Mỗi ngày những gương mặt đầy cảm khái của bạn bè, như Trịnh Công Sơn, Đinh Cường…  đứng bên kia đường hầu như là một sự an ủi và khuyến khích, như một lời nhắn nhủ đừng sờn lòng cho chúng tôi ở trong sân. Có thể nói không quá đáng rằng hiện tượng “đồng tình” của quần chúng cho một phong trào như  trong cuộc vận động 63 đã không xảy ra một lần thứ hai. Trong hơn hai tuần bị phong toả người trong chuà đã không có cảm giác bị cô lập với thế giới bên ngoài, ngược lại chưa bao giờ người trong cuộc lại thấy trong lòng khởi lên một niềm tin về công bằng và lẽ phải như tiếng nói của lương tri con người đã được con người bảo vệ và bồi đắp mạnh mẽ dường ấy !

Trong khoảng thời gian này cuộc vận động đã lan tràn ra trên khắp các tỉnh miền Nam, các khuôn hội hoạt động rất mạnh mẽ và đoàn kết. Thầy Trí Quang đã liên lạc được với qúi Thầy ở Sài gòn. Thầy Tâm Châu cũng đã cho người ra Huế gặp Quí Thầy ngay khi cuộc vận động bắt đầu, với một lá thư nhỏ “Tâm Châu chỉ biết một chữ nhất”.  Quí Thầy trong ban lãnh đạo ở Sài gòn đã cho người ra tận Huế đem đến cho Thầy trí Quang và đã bàn phối hợp công việc vận động. Chính trong thời gian này Thầy Thiện Minh (điều hành văn phòng bốn cơ quan PG tại Huế) quyết định vào Sài gòn gặp Quí Thầy trong UBLPBVPG bàn công việc cụ thể phối hợp với Huế.

Tôi còn nhớ, chúng tôi đã mừng như thế nào, khi thấy Thầy Thiện Minh trở lại Huế sau mười ngày vắng mặt, khi bóng Thầy xuất hiện nơi cửa Tam Quan, tay cầm chiếc nón lá rộng vành của nhà sư, phong độ khoan thai của một vị sứ giả. Chúng tôi mừng đón Thầy như con chờ mẹ đi chợ về. Nhưng Thầy Thiện Minh đã không đem thêm tin gì mới lạ, cuộc diện kiến của Phái đoàn Phật giáo và ông Diệm đã là một cuộc tiếp xúc hình thức lấy lệ và chính quyền không có một chút thực tâm muốn giải quyết và chỉ đưa ra những lời hứa suông.

(còn tiếp...)

Ghi chú:

(i) thơ Nguyễn công Trứ

(ii) Tác giả ghi chép trực tiếp theo lời kể của thầy Trí Quang. Phổ biến với sự đồng ý của Thầy.

flash-5sac.gif (367 bytes)  Về trang nghiên cứu & đối thoại tháng 6-2003

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........