-
Những Tổ chức
Vũ trang và Hội đoàn, Đảng phái chống lại Công cuộc Kháng chiến dành Độc lập của Nhân dân Việt Nam
Vài lời
của Giao Điểm: Để bổ túc cho bài viết “Vai trò của chính quyền
trong mối tương quan Công giáo và Dân tộc’ của tác giả Charlie Nguyễn,
chúng tôi công bố thêm ‘Phần đầu’ trong loạt bài sưu tầm từ tài liệu
“Nghiên cứu về chiến tranh VN” của Mỹ: Những họat động của các
phần tử đội lốt Thiên Chúa giáo trong thời kỳ kháng chiến 1945-1954 ở
VN do chính Việt cộng xuất bản và chỉ lưu hành nội bộ. Qua nội
dung của nó, chúng ta có thể hiểu được tại sao người Mỹ đã nhìn Việt
cộng như những người yêu nước tiếp nối dòng lịch sử chống ngoại
xâm, và những người Công giáo là những phần tử độc quyền và độc
diễn chống cộng. Đó là mấu chốt lịch sử vô cùng hữu ích cho những
nhà thiết kế chính sách ngoại giao trong mối thắt chặt tình hữu nghị
Việt-Mỹ hiện tại và tương lai, nó cũng là những tia sáng soi chiếu vào
tâm thức còn mơ màng của một số người Việt dân tộc.
Đi đôi với chính sách chống cộng, bọn phản động đội lốt Thiên
Chúa giáo được sự chỉ đạo, giúp đỡ của đế quốc và tòa thánh
Vatican đã tiến hành tập hợp các phần tử phản cách mạng, lôi kéo
giáo dân vào các tổ chức vũ trang, các hội đoàn, đảng phái phản động
của họ. Những tổ chức này mặc dù mang danh những danh hiệu khác nhau,
nhưng về mặt ý thức tư tưởng, chương trình hành động thì đều chung
một mục đích : chia rẽ hàng ngũ nhân dân yêu nước, phá hoại phong trào
cách mạng và chống lại công cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.
A. Những tổ chức lực
lượng vũ trang
1. Đơn vị lưu động
bảo vệ Họ Đạo (Unité mobile de défense de la Chrétienté)
Tại Nam bộ, ngay từ những ngày đầu kháng
chiến, thực dân Pháp và bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo đã
cho Léon Leroy tổ chức đạo binh lấy tên là “Đơn vị lưu động bảo vệ
Họ Đạo” (U.M.D.C.). Đây là một đội nguỵ quân, bao gồm những phần tử
lưu manh, núp dưới chiêu bài “chống cộng, bảo vệ đạo” để đi càn
quét, cướp bóc, do thám cho thực dân Pháp.
Một tạp chí của thực dân Pháp đã vạch rõ những hoạt động của
đạo binh đó như sau:
“Tổ
chức UMDC. đứng đầu là đại tá Leroy, một trong số những người tiếng
tăm nhất của cái xứ sở lừng lẫy này. Hoạt động của ông trong vùng
đất mà ông cai quản được đánh dấu đặc biệt bằng việc bình định
... nghĩa là có thể đi lại trong khu vực đó mà không có tổn thất gì.
Khi quân viễn
chinh tới, ông ta đã lập đội du kích đầu tiên của mình. Quân số
những tổ chức này chẳng bao lâu đã lên tới 700 người (1). Ông nói : Với những người của tôi, tôi đã
chuẩn bị sẵn sàng những đơn vị cần thiết cho sự tiếp tục cuộc bình
định” (2).
Đơn vị lưu động bảo vệ Họ Đạo lúc đầu hoạt động mạnh
ở Bến Tre. Năm 1949, tên bù nhìn Trần văn Hữu tìm cách phát triển đội
nguỵ quân này. Ông ta tổ chức bắt lính trong đồng bào theo đạo Thiên
Chúa ở Mỹ Tho, Trà Vinh, Thủ-dầu-một, Gò Công để lập các đội nguỵ
quân đi càn quét giết hại nhân dân.
2. Công giáo cứu quốc
- Tự vệ - Lưu động tự lực quân.
Tháng 10-1945, tại Bùi Chu, Phát Diệm, Lê hữu Từ âm mưu tổ chức cái
gọi là “Công giáo cứu quốc”. Bề ngoài y tuyên bố lừa bịp “Công
giáo cứu quốc đứng trong Việt Minh”, nhưng thực chất thì lợi dụng
danh nghĩa “Công giáo cứu quốc” để tập hợp lôi kéo giáo dân phá hoại
công cuộc kháng chiến.
“Công giáo cứu quốc” tổ chức những lớp huấn luyện cách ly
gián bộ đội, cách giết người, bỏ thuốc độc, tập hợp thành những
đội như “đội Thiết huyết” chuyên
đi cướp bóc, phá hoại chính quyền, gây rối loạn ở địa phương.
Cuối năm 1946, Lê hữu Từ triệu tập hội nghị các linh mục bắt
các xứ phải góp tiền mua vũ khí cho “Công giáo cứu quốc”. Chúng đã
mua được nhiều vũ khí đưa về Phát Diệm. Sau đó, Lê hữu Từ ra thông tư cho các xứ phải
chuyển “Công giáo cứu quốc” thành “Tự vệ cứu quốc”. Chúng cưỡng
bức thanh niên từ 18 tuổi trở lên phải vào tự vệ, ngày đêm canh gác,
ai trốn tránh thì phải vạ tuyệt thông. Chúng còn lợi dụng phong trào quần
chúng rào làng chống Pháp để bắt giáo dân rào nhà xứ, nhà thờ, đắp
ụ, đào hầm bí mật v.v...
Tự vệ của Lê hữu Từ thường lén lút cướp giật vũ khí của
cán bộ Chính phủ ta đi công tác và gây ra những vụ ám sát, giết người.
Tháng 10-1949, thực dân Pháp nhảy dù xuống Phát Diệm và tiến đánh Bùi Chu. Bọn đội lốt Thiên Chúa giáo đội
lốt cấu kết chặt chẽ với giặc và làm tay sai đắc lực cho chúng. Lê
hữu Từ cử Hoàng Quỳnh tiếp xúc với quân đội Pháp, xin lập khu tự trị
và tổ chức tự vệ. Sau khi thỏa thuận với Pháp, Hoàng Quỳnh ra lệnh
cho các đội tự vệ :
“Từ nay nhất trí theo một lập trường
chung cộng tác với quân đội Liên Hiệp Pháp, ủng hộ chính phủ quốc
gia do Quốc trưởng Bảo Đại đứng đầu”. (3)
Chúng đổi tên “Tự vệ cứu quốc” thành
“Tự vệ khu tự trị”, do linh mục Hoàng Quỳnh làm tổng chỉ huy, thiếu
tá Thảo làm tham mưu trưởng. Lê hữu Từ nêu khẩu hiệu “Phúc tử vì
đạo”, “Bảo vệ Chúa” để dụ dỗ thanh niên vào tự vệ và đi nguỵ
binh cho Pháp. Cha phó xứ Văn Giáo là Trần Hòa liên lạc với tổng bộ tự
vệ Phát Diệm và bốt Kim Đài rồi về xứ kêu gọi:
“Thanh
niên hãy đi vệ sĩ, bảo hoàng để bảo
vệ đạo, nên có chết cũng được tòa thánh coi như là tử vì đạo, được
lên thiên đàng thẳng rẵng”. (4)
Ngày 20-12-1949, theo lệnh thực dân Pháp và bù nhìn Bảo Đại, Lê hữu
Từ lại thành lập thêm đội “Lưu động tự lực quân”. Đây là một
đội nguỵ quân có tổ chức chính quy của vùng Bùi Chu, Phát Diệm do tên
thiếu tá bù nhìn Ngô cao Tùng chỉ huy. Đội này đã cùng các đội tự vệ
đi càn quét, khủng bố đồng bào và gây ra nhiều tội ác.
Đầu năm 1951, Lê hữu Từ phải giải tán khu tự trị, trao quyền
hành chính lại cho thủ hiến bù nhìn Bắc bộ. Nhưng Từ vẫn giữ quyền
chỉ huy 5.000 tự vệ. Thánh 5-1951, thực dân Pháp giải tán tổ chức tự vệ
và lôi kéo thanh niên vào các đội nguỵ binh. Nhưng 70% tự vệ xin giải
ngũ, 10% bị bắt ép sát nhập vào tổ chức Bảo chính đoàn (5) , 20% vào
quân đội Liên Hiệp Pháp (6) . Lưu động tự lực quân của Lê hữu Từ cũng
phải đổi ra thành Tiểu đoàn 18 nguỵ binh Việt Nam.
B. Những Hội đoàn, Đảng
phái phản động.
Suốt trong thời kỳ kháng chiến, bọn phản động đội lốt Thiên
Chúa giáo liên tiếp tham gia và tổ chức những hội đoàn đảng phái phản
động. Những tên cầm đầu các tổ chức này hầu hết là những phần tử
lưu manh, địa chủ phong kiến phản động. Hoạt động của chúng đã gây
nhiều tội ác đối với đồng bào ta.
1. Những đảng phái
do phần tử Việt gian tổ chức có sự tham gia của những phần tử phản
động đội lốt Thiên Chúa giáo.
a. Việt Nam quốc
dân đảng.
Từ khi quân đội Tưởng giới Thạch rút khỏi miền Bắc Việt Nam
thì các chi bộ Việt Nam quốc dân đảng hầu như bị tan rã. Cuộc kháng
chiến toàn quốc bùng nổ, thực dân Pháp nâng đỡ cho Việt Nam quốc dân
đảng (VNQDĐ) hoạt động trở lại. Ở vài nơi, đảng này đã tung bọn
tay sai về các thôn xóm tập hợp những phần tử lưu manh, bọn phản động
đội lốt Thiên Chúa giáo để tổ chức các chi bộ.
Tại Hà Nội, Việt Nam quốc dân đảng vẫn liên lạc với Nguyễn tường
Tam, Nguyễn hải Thần ở Trung quốc.
Sau 1947, phần tử VNQDĐ cấu kết với bọn phản động đội lốt
Thiên Chúa giáo triệu tập cuộc hội nghị tại hội quán Nhà chung Phát Diệm
để bầu ban chấp hành tỉnh bộ thay cho Mai quang Chiểu và đưa các tên
ký Ban, tu sĩ Cán vào ban chấp hành. Nói chung, tại vùng tự do, nhóm VNQDĐ
hoạt động bí mật, tinh vi. Ở Liên khu III, chúng thường nấp sau bọn phản
động đội lốt thầy tu để thúc đẩy bọn này gây ra những hành động
rối loạn (như ở Phù Lưu, Kim Động, Phát Diệm). Chúng còn âm mưu đưa bọn
tay chân vào hoạt động phá hoại trong cơ quan chính quyền Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa và Mặt trận Việt Minh.
Trong các vùng địch kiểm soát, VNQDĐ và bọn phản động đội lốt
Thiên Chúa giáo hoạt động công khai. Chúng thường xin tiền trợ cấp của
Pháp và in giấy bạc giả phân phát cho đảng viên hoạt động chống phá
kháng chiến.
b. Đảng Phục quốc.
Năm 1947, 1948, đảng Phục quốc hoạt động bí mật tại Liên khu I
và III. Cầm đầu tổ chức này là tên Nông quốc Long. Thực dân Pháp hết
sức mua chuộc bọn này; chúng cho đón một số đảng viên Phục quốc về
Lạng Sơn quấy rối tình hình.
Năm 1948, đảng Phục quốc có 40 tên. Chúng đặt trụ sở tại Kỳ Lừa,
cấu kết với bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo và tìm cách gây
cơ sở tại các vùng có giáo dân, nhất là ở Nam Định, Ninh Bình, Thái
Bình, Hưng Yên. (7)
Cũng như VNQDĐ, một số đảng viên Phục quốc ẩn nấp ở Nhà Chung
cùng với bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo hoạt động phá hoại
cách mạng, khủng bố tín đồ yêu nước, cướp bóc tài sản của nhân
dân.
2. Những hội đoàn,
đảng phái do bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo tổ chức:
Núp dưới chiêu bài “chống cộng, bảo vệ đạo”, từ năm 1946, bọn
phản động đội lốt Thiên Chúa giáo đã đứng ra tổ chức những hội
đoàn, đảng phái phản lại công cuộc kháng chiến giành độc lập của
Việt Nam : “đảng Dân chúng Liên hiệp” (1946), “Liên đoàn Công giáo”
(1946), “Công giáo vô tổ quốc hội” (1947), “Dân tộc Cách mạng đảng”,
“Mặt trận Dân tộc giải phóng” (1947), “Mặt trận vô danh chống cộng”
, “Liên tôn diệt cộng” (1950), và các tổ chức lôi kéo thanh niên, công
nhân, v.v...
Sau đay chúng tôi giới thiệu một vài nét về
một số hội đoàn đảng phái phản động này.
a. Đảng Dân chúng
Liên hiệp:
Cuối năm 1946, đầu 1947, bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo
tổ chức “đảng Dân chúng Liên hiệp” (DCLH) ở Liên khu III. Chúng tập
hợp bọn lưu manh phản động và lôi kéo giáo dân phá hoại kháng chiến.
Trong cùng tự do, bọn này hoạt động ngấm ngầm. Từ khi Pháp nhảy
dù xuống Phát Diệm (10-1949), đảng DCLH hoạt động công khai ở Nam Định,
Ninh Bình, Thái Bình. Trong các vùng này, bọn chúng giữ những chức vị
quan trọng trong các cơ quan nguỵ quyền.
Ngày 1-9-1950, Phạm ngọc Chi, giám mục Bùi Chu, gửi chỉ thị mật
cho các linh mục phải gấp rút tổ chức và ủng hộ đảng DCLH. Do đó, tổ
chức này phát triển mạnh vào năm 1950, 1951.
Ở Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Giao Thuỷ (Nam Định), bọn cầm đầu đảng
DCLH đều tổ chức đội trinh sát, trại giam, bắt giết, tra tấn những
giáo dân nào yêu nước. Bọn chúng liên tiếp mở những lớp huấn luyện
quân sự, trinh sát, trinh sát. Tên phản động đội lốt thầy tu Nguyễn
quang Ân, linh mục tổng quản Thái Bình, đã cung khai trong bản thú nhận
sau:
“Theo
tôi biết thì Dân chúng Liên hiệp thân Mỹ vì không tin ở Pháp. Đối với
đảng Dân chúng Liên hiệp vì là tổ chức của người Công giáo nên tôi
tán thành bằng cách tuyên truyền cho vệ sĩ gia nhập. Khi đã lập tiểu
đoàn rồi, bọn Dân chúng Liên hiệp còn xin phép tôi mở hai hay ba lớp
quân sự nữa về các ngành như quân báo...”. (8)
Ở Nam Định, cầm đầu đảng DCLH là tên Lê thành Nhân, trưởng ty
công an nguỵ quyền Bùi Chu. Các bộ
phận huyện, xã đều do các tên trong ban quân chính nguỵ quyền, đồng thời
là đảng viên DCLH cầm đầu. Bọn chúng ráo riết tuyên truyền chống cộng
và phá hoại kháng chiến.
Năm 1952, chính phủ kháng chiến mở rộng khu du kích ở Liên khu III,
đảng DCLH bị phá vỡ hàng loạt. Nhiều nơi đảng viên đã ra thú nhận với
chính quyền kháng chiến.
b. Liên đoàn Công
giáo
Năm 1946, Drapier, khâm mạng tòa thánh Đông dương ra chỉ thị cho các
nơi tổ chức lại “Liên đoàn Công giáo” (hội này thành lập từ năm
1941 ở Bắc bộ và năm 1944 ở Nam bộ).
Tháng 2-1949, Lê hữu Từ đứng ra tổ chức “Liên đoàn Công giáo”
(LĐCG) ở Phát Diệm, Bùi Chu, và bầu ban chấp hành địa phận. LĐCG là một
tổ chức phản động, lôi kéo các đoàn thể, nhất là thanh niên, trí thức,
công thương, học sinh, binh sĩ theo đạo Thiên Chúa và nếu cần còn có thể
liên minh với các đạo giáo khác để chống lại phong trào cách mạng.
Trong ban chấp hành của LĐCG, ngoài các linh mục làm tuyên uý chỉ đạo
còn có bọn cầm đầu các đảng phái phản động khác làm cố vấn. Nhiệm
vụ cụ thể mà LĐCG giao cho các hội viên là : “tổ chức tự võ
trang chống cộng sản, vận động các lực lượng công giáo và các đạo
giáo hoặc tôn giáo liên minh để tấn công cộng sản”. (9)
Trong vùng tự do, ngoài mặt thì LĐCG tuyên truyền kháng chiến đánh
Pháp, nhưng thực chất bên trong thì ngấm ngầm chống lại chính quyền
kháng chiến.
Từ 1946-1949, tại Liên khi III, LĐCG
đã chuẩn bị điều kiện cho thực dân Pháp nhảy dù đánh chiếm Bùi Chu,
Phát Diệm. Năm 1950, Trần văn Hữu đến thăm Phát Diệm và nói về LĐCG
như sau :
“Cũng vì Đức Cha (10) đã khéo lợi
dụng LĐCG để chuẩn bị đầy đủ nên khi quân của Quốc trưởng tới
đâu đều có liên lạc và hậu thuẫn vũng chắc” (11).
Trong vùng địch kiểm soát, LĐCG công khai hoạt động, lôi kéo giáo
dân chống lại phong trào cách mạng.
c. Công giáo vô tổ
quốc hội.
“Công giáo vô tổ quốc hội” (CGVTQH) xuất
hiện ở xã Lâm Hiến (Nghi Lộc, Nghệ An) năm 1947. Cầm đầu tổ chức này
gồm những tên cha cố phản động. Tháng 8-1947, CGVTQH triệu tập một cuộc
hội họp tại thôn Mỹ Yên, xã Văn Hòa (Nghi Lộc) để bầu ban quản trị.
Chúng đã đưa linh mục Quế lên làm hội trưởng. Hoạt động của chúng
nhằm lôi kéo giáo dân phá hoại công cuộc kháng chiến của toàn dân.
d. Dân tộc cách mạng
đảng và Mặt trận dân tộc giải phóng:
Năm 1947, bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo cùng bọn Việt
Quốc, Việt Cách ở Liên khu III thành lập “Dân tộc Cách mạng đảng”
(DTCMĐ) . Để tập hợp những phần tử phản cách mạng, DTCMĐ, còn tổ chức
“Mặt trận Dân tộc Giải phóng” (MTDTGP), gồm bọn chúng và các hội
đoàn đảng phái phản động khác.
Trong đảng quy của DTCMĐ, chúng ghi những lời lừa bịp :
“Việt
Nam dân tộc cách mạng đảng cùng với các đoàn thể chính trị khác hợp
thành một mặt trận cùng chung phụng sự một mục đích là giành lấy độc
lập và thu hồi toàn thể lãnh thổ cho Tổ quốc...”
Thực chất thì mục đích của DTCMĐ và MTDTGP là làm tay sai cho thực
dân Pháp, chống cộng sản, phá hoại công cuộc kháng chiến giành độc lập.
Trong bản “Tuyên cáo quốc dân” của chúng có ghi rõ: Chỉ còn một con
đường.... diệt trừ chủ nghĩa cộng sản. hãy nhiệt liệt ủng hộ mặt
trận giải phóng dân tộc, tham gia vào mặt trận để đã đảo cộng sản”.
Ban chấp hành DTCMĐ và MTDTGP ở các huyện và phủ bộ hầu hết là
bọn linh mục, tu sĩ phản động. Bọn chúng đều trang bị vũ khí như súng
trường, lựu đạn.
Tên Nguyễn nam Hải là phái viên của MTDTGP trung ương được cử về
Nam Định cấu kết với bọn linh mục phản động khác như Nguyễn đức Vinh, linh mục Tuyên, Quang.
Ở Nam Định, tháng 5-1947, bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo cử
tên Nguyễn nam Hải tức Bốn Trác lên làm ban chấp hành tỉnh bộ MTDTGP;
đến cuối năm 1947 chúng đưa tên Mại ngọc Quỳnh tức Hoàng Thắng lên
thay tên Hải.
DTCMĐ và MTDTGP thường tổ chức ăn cướp dọc đường, giết người
lấy của. Năm 1948, sào huyệt của chúng bị phá vỡ ở nhiều nơi.
e. Các tổ chức lôi
kéo thanh niên
Bên cạnh những tổ chức trên, bọn phản động đội lốt Thiên
Chúa giáo còn thành lập những hội đoàn, đảng phái phản động để lôi
kéo, xúi giục thanh niên theo đạo Thiên Chúa phá hoại công cuộc kháng chiến
của dân tộc. Chúng đã thành lập “đoàn Thanh niên Công giáo” (1946),
“đoàn Thanh niên Công giáo diệt cộng” (1948), “đoàn Thanh niên trí thức
Công giáo”, “đoàn Thanh niên học sinh Công giáo”, “đảng Thanh niên diệt
cộng” (1949) v.v....
- Đoàn Thanh niên
Công giáo
Trước cách mạng tháng Tám, tổ chức này gọi là “Thanh niên Thánh
thể” (Jeunesse de ‘Eucharistie). Năm 1946, bọn phản động đội lốt Thiên
Chúa giáo đồi tên “đoàn Thanh niên Thánh thể” thành “đoàn Thanh niên
Công giáo”. Năm 1947, tại Bùi Chu, Phát Diệm, núp dưới danh nghĩa Mặt trận
Việt Minh, Lê hữu Từ lại đổi tên “Thanh niên Công giáo” thành “Thanh
niên Công giáo cứu quốc”.
Cơ sở đơn vị của đoàn là nhà xứ, mỗi xứ có một chi đoàn do
bọn linh mục phản động cầm đầu. Năm 1947, ở các xã Xuân Phương, Trực
Hòa, Nghĩa Phong, Nam Thái (Nam Định), chúng thành lập 13 ban chấp hành xứ
bộ “đoàn Thanh niên công giáo cứu quốc”. Chúng phân chia thành những bộ
phận chuyên môn : ban quân sự, tuyên truyền, trinh sát, giao thông.... Cầm
đầu ban chấp hành “đoàn Thanh niên công giáo cứu quốc” là những tên
phản động đội lốt thầy tu, địa chủ gian ác, các đảng viên MTDTGP.
Trong ban chấp hành đoàn “Thanh niên công giáo cứu quốc” xứ bộ Trực
Hòa gồm có hai linh mục phản động, năm địa chủ gian ác, và ba đảng
viên MTDTGP.
Trong thời gian từ 1946 đến tháng 10-1949, tại Liên khu III, “đoàn
Thanh niên công giáo cứu quốc” bên ngoài thì chịu sự lãnh đạo của Mặt
trận Việt Minh, nhưng bên trong chúng ngấm ngầm hoạt động chống phá
chính quyền dân chủ. Trong nhiệm vụ của “đoàn Thanh niên công giáo”
nêu rõ mục đích : “Bài trừ cộng sản, tuyên thệ xin tử vì đạo”
(12). Tổ chức phản động này đã gây ra những vụ rối loạn ở Nam Định.
Từ khi Pháp nhảy dù xuống Phát Diệm, “đoàn Thanh niên công giáo cứu
quốc” lại đổi thành “đoàn Thanh niên công giáo”, võ trang thành những
“tiểu đoàn dân vệ”, tham gia nguỵ quân công khai chống lại kháng chiến.
- Đoàn Thanh niên
công giáo diệt cộng
Năm 1948, tại Hải Dương (vùng tự do) và một số nơi khác, bọn phản
động đội lốt Thiên Chúa giáo thành lập “đoàn Thanh niên công giáo diệt
cộng”. Trong các nhà thờ, bọn này xây hầm bí mật, sắm vũ khí và tổ
chức canh gác. Chúng thường phao tin đồn nhảm gây hoang mang trong giáo. Mục
đích hoạt động của chúng là chống cộng sản, phá hoại kháng chiến.
- Đảng Thanh niên diệt
cộng.
Đảng này xuất hiện ở Bùi Chu vào tháng 6-1949, do linh mục phản động
Điền, bí thư tòa giám mục, phụ trách. Bọn chúng tập hợp những phần
tử lưu manh và lôi kéo thanh niên theo đạo Thiên chúa hoạt động bí mật,
phá hoại kháng chiến. khi Bùi Chu bị địch chiếm đóng, đảng này hoạt
động công khai. Chúng ráo riết tuyên truyền chống cộng và tổ chức
lùng bắt khủng bố những giáo dân yêu nước, có thành tích kháng chiến.
f. Các tổ chức lôi
kéo công nhân.
Bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo thấy nắm thanh niên chung
chưa đủ, chúng còn âm mưu đi sâu vào các giai cấp, đặc biệt chú ý
lôi kéo công nhân theo đạo Thiên Chúa vào cá hội đoàn phản động của
chúng. Nghiệp đoàn lao công công giáo là một trong những hội đoàn phản
động đó.
- Nghiệp đoàn lao
công công giáo.
Từ năm 1949, bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo thành lập
“Nghiệp đoàn lao công công giáo” ở các thành phố, vùng mỏ, bến tàu.
Mục đích của chúng là ngăn cấm công nhân không được đấu tranh cách mạng
và cố lôi kéo họ tham gia những hoạt động phá hoại kháng chiến. Chúng
ráo riết tuyên truyền lừa bịp, hô hào công nhân theo đạo Thiên Chúa
vào các nghiệp đoàn phản động đó. Theo chúng, mục đích và hoạt động
của “Nghiệp đoàn lao công công giáo” là : “huấn luyện cho giới lao động biết sử dụng
quyền lợi, để họ đừng theo cộng sản mà thi hành giai cấp đấu tranh
làm cách mạng đổ máu”. (13)
Trong tổ chức “Nghiệp đoàn lao công công giáo”, bọn phản động
đội lốt Thiên Chúa giáo chia công nhân thành từng giới, mỗi giới chúng
đặt một linh mục phản động cầm đầu.
Như vậy là trong thời kỳ kháng chiến, bọn phản động cầm đầu
giáo hội Thiên Chúa ở Việt Nam đã liên tiếp đứng ra tổ chức những hội
đoàn, đảng phái phản cách mạng. Hoạt động của các hội đoàn, đảng
phái này không ngoài mục tiêu đen tối : chia rẽ hàng ngũ nhân dân yêu nước,
tập hợp những phần tử phản động, và lôi kéo, bắt ép tín đồ tham dự
những hoạt động phá hoại của họ. Nhưng quần chúng giáo dân ngày càng
giác ngộ. Không một mưu đồ thâm độc nào, không một lực lượng đen tối
nào có thể chà đạp, ngăn cản lòng yêu nước và phong trào cách mạng của
giáo dân. Những tổ chức hội đoàn, đảng phái phản động kể trên dần
dần bị mất ảnh hưởng trước quần chúng giáo dân và bị giáo dân vạch
mặt.
Trích phần II trong : “Những Hoạt Động Của Bọn Đội Lốt Thiên
Chúa giáo trong thời kháng chiến (1945-1954)"
, Quang Toản - Nguyễn Hoài , nhà xuất bản Khoa học 1965
Chú thích:
- (1) theo báo
cáo của Hội nghị Uỷ ban khánh chiến hành chính Nam bộ, tháng 4-1950, thì
năm 1950, do âm mưu của giặc, quân số của tổ chức UMDC. đã lên tới
4.000 người.
-
- (2) bài “Việt
Nam tiến tới một sự thống nhất” của Labessière, đăng trong tạp
chí Pháp (La Revue Francaise năm 1952.
-
- (3) Báo Đời Sống,
số 37, gnày 22-12-1953.
-
- (4) Theo báo
Sông Đào, cơ quan của đảng bộ đảng Lao Động Việt Nam tỉnh Nam Định,
số 15, ngày 8-9-1961.
-
- (5) Quân đội
bù nhìn có 2 loại:
- Bảo chính
đoàn: đeo phù hiệu rồng vàng, có tính chất địa phương. Nhiệm vụ
là canh gác công sở. Đội quân này gồm những phần tử bất mãn phản động
ở địa phương, nên rất là tàn ác.
- Vệ binh đoàn:
đeo phù hiệu ba gạch đỏ, là một bộ phận của quân đội Liên hiệp
Pháp.
-
- (6) Theo báo
cáo của Uỷ ban kháng chiến hành chính Hà Nội, tháng 8-1951 (tài liệu của
phòng lưu trữ phủ thủ tướng).
-
- (7) Theo báo
cáo của uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khi I và của Bộ Nội vụ, năm
1948 (Tài liệu của Phòng lưu trữ, Phủ Thử tướng)
-
- (8) Bản thú nhận
của Nguyễn quang Ân, viết ngày 13-5-1954
-
- (9) K.H. Một số tài liệu nói về giáo hội Thiên
Chúa, Hà Nội, 1957, trang 48, sách lưu hành nội bộ.
-
- (10) Chỉ Lê hữu
Từ.
-
- (11) K.H., tài
liệu đã dẫn.
-
- (12) K.H., tài
liệu đã dẫn.
-
- (13) Mai Anh, Vấn đề xã hội, Bùi Chu, 1950, trang 41
Home | Go top page |
Về trang mục lục