Hoa Kỳ và Chiến Lược Mới
Ðào Viên
Chẳng phài là Bồ Tàt Từ Bi mà cũng chẳng phải là Sa Tăng Ác Quỷ(1),
với những Nghiệp Ác, Nghiệp Thiện tích lũy sau bao đời Tổng Thống, Hoa
kỳ, với sức mạnh vô địch, tài nguyên vô song, đang quyết tâm đóng vai
trò định mệnh của mình, sẵn sàng ban phát ân sủng hay trừng phạt cho
các quốc gia khác, tùy theo nhận định của Hoa Kỳ về Quyền lợi của mình
và Quyền lợi của người - Người Hoa Kỳ, ông là ai? Ðào
Viên
Theo lệnh của Tổng
Thống Hoa Kỳ George W. Bush, hay T.T Bush Con, ngày 21 tháng 3 năm 2003, Liên
Quân Anh-Mỹ (Liên Quân) đã mở một cuộc tổng tấn công vào quốc gia Irắc.
Mặc dầu đã gặp một số bất ngờ không đúng như đã tiên liệu, Liên
Quân, với một lực lượng hùng hậu, một hỏa lực khủng khiếp, vô tiền
khoáng hậu, chỉ sau 3 tuần lễ đã tiến vào Bagdad như vũ bão, đánh tan
những đội quân tinh nhuệ nhất của Irắc, để dẹp tan chính quyền tàn
bạo của Tổng trhống Saddam Hussein mà lập nên một chánh phủ khác dân chủ
và thân Tây phương hơn.
Ðây là lần thư hai,
Hoa kỳ đứng ra lãnh đạo một liên quân đánh Irắc. Khác với lần trước,
trận chiến lần này của T.T. Bush Con đã gây ra rất nhiều bất đồng,
nhiều tranh luận trên thế giới. Tổng Thống Bush Cha, hơn mười năm trước
đây, đã được sự chấp thuận của
Liên Hiệp Quốc (LHQ), của gần như hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Ngược lại, chủ trương đánh Irắc của T.T. Bush Con lần này chỉ được
có Anh Quốc, là một trong 5 đại cường ủng hộ. Trừ Hoa Kỳ, ba đại
cường kia, Pháp, Nga và Trung Hoa phản đối. Hoa Kỳ nói là đã có lối 40
quốc gia khác - phần lớn không muốn tiết lộ danh tính - bày tỏ lập trường
ủng hộ sách dùng võ lực đối với Irắc của Hoa Kỳ. Nhưng mọi người
đều hiểu là đại đa số các các quốc gia ấy là những quốc gia bé nhỏ
và đã theo Hoa kỳ không phải vì lý tưởng nhân đạo của Hoa Kỳ đối với
nhân dân Irắc, mà là vì những áp lực kinh tế, chính trị rất mạnh của
Hoa Kỳ.
Lý do chánh thức Hoa
Kỳ đã đưa ra trước công luận quốc tế, trong diễn đàn của LHQ, biện
minh cho quyết định của mình phải đơn phương đánh Irắc, và phải đánh
ngay, là vì chính quyền Irắc của Tổng thống Hussein đang có và dự trữ
võ khí giết người hàng loạt (weapon of mass destruction, WMD), tức là những
võ khí hóa học, vỏ khí vi trùng, võ khí nguyên tử, đặc biệt những
hơi độc mà họ đã dùng trước đây để giết hại chính người bản xứ,
gốc Kurds hay theo giáo phái Shiite. Do đó, Irắc đã vi phạm quyết nghị của
LHQ, và là một đe dọa cho các quốc gia trong vùng, và cả cho Hoa Kỳ vì Irắc
có thể trao các vỏ khí đó cho bọn khủng bố Al Qaida phá hoại Hoa Kỳ.
Ngoài ra, chính quyền Hussein là một chính quyền độc tài, vô nhân đạo,
áp bức nhân dân, cần phải dẹp bỏ, để giải phóng nhân dân Irắc khỏi
ách thống trị này. Hoa Kỳ hứa hẹn sẽ đem tự do dân chủ đến cho nhân dân Irắc để họ
có thể làm chủ lấy chính mình.
Những giải thích
trên dường như không được thế giới tin cho lắm. Không ảnh do ông Ngoại
trưởng Hoa Kỳ Colin Powell đưa ra trước LHQ làm bằng chứng, cho thấy những
cơ sở sản xuất/tàng trữ võ khí hoá học, vi trùng, loại WMD, của Irắc,
do phi cơ thám thính Hoa Kỳ chụp được, đã bị ông Hans Blix, trưởng phái
bộ thanh tra võ khí Irắc của LHQ bác bỏ: Phái đoàn LHQ đã đến tận
nơi những cơ sở ông Powell nêu ra và đã không thấy như Hoa Kỳ đã mô tả.
Sự kiện này đã lại được xác nhận khi Liên Quân tiến đánh Irắc,
vào tận thủ đô Bagdad, làm chủ tình hình các mặt trận mà vẫn không thấy
Irắc có, hay dùng đến WMD để chống trả lại.
Phần lớn các quốc
gia ở Trung Ðông, tiếp cận với Irắc đều không thấy Irắc là mối đe
dọa cho quốc gia họ. Họ đều không muốn Hoa Kỳ tấn công Irắc, mà cũng
chẳng yêu cầu Hoa Kỳ bảo vệ nước họ. Một số nước đồng ý cho
quân đội Hoa Kỳ sử dụng lãnh thổ để tấn công Irắk là vì sợ Hoa Kỳ
cho vào sổ đen nhiều hơn là sợ Irắc. Thế giới dường như cũng không
tin rằng Irắc, với mấy hỏa tiễn cổ lỗ có tầm hoạt động rất giới
hạn, lại có thể là một mối đe dọa cho Hoa Kỳ được.
Còn đối với những
tố giác của Hoa Kỳ rằng Irắc đã và đang trợ giúp nhóm “khủng bố”
Al-Quaida, kẻ thù chính yếu của Hoa Kỳ, thì thế giới không thấy Hoa Kỳ
đưa ra một bằng chứng cụ thể nào. Các quốc gia trên thế giới đều
thấy và đồng ý với Hoa Kỳ là chính thể Saddam Hussein là một chính thể
độc tài, vô nhân đạo, không tôn trọng nhân quyền. Nhưng họ không thấy
đó là một lý do để đơn phương tấn công quốc gia này. Vì đó là chuyện
riêng của dân Irắc. Vả chăng, mọi người đã từng thấy nhiều nước
khác trên thế giới có chánh thể tàn bạo, thành tích nhân quyền tệ hại
như Irắc mà Hoa Kỳ đâu có động tâm bao giờ, ngược lại, để bảo vệ
quyền lợi của mình, vẫn giữ mối bang giao tốt đẹp (thí dụ chính quyền
Pinochet cùa Chile, chính quyền Apartheid của Nam Phi, chính quyền Suharto của
Nam Dương, chính quyền Trung Cộng, và oái oăm thay, ngay chính quyền của
T.T. Saddam Hussein cũng đã từng được Hoa Kỳ giúp đỡ để đánh Iran (2)
, một kẻ thù của Hoa Kỳ).
Trong nền chính trị
hiện đại, Quyền lợi quốc gia
hay của phe nhóm bao giờ cũng đi trước Lý Tưởng Nhân sinh, hay Hạnh Phúc
của bàn dân thiên hạ. Còn đối việc đem tự do dân chủ đến cho các quốc
gia nhược tiểu, thì người ta đã thấy Hoa Kỳ đã từng dựng lên những
chính thể có vẻ tự do dân chủ (một thí dụ gần Việt Nam nhất là
chính thể Lol Non ở Căm Bốt vào đầu thập niên 70) nhiều phần là để
bảo vệ quyền lợi của Hoa Kỳ hơn là mưu cầu hạnh phúc cho dân xứ ấy.
May ra lần này đối với chính quyền Từ Bi (compassionate) của T.T Bush Con
có thể sẽ khác trước chăng?
Bởi vậy, đại đa số
dân chúng cũng như chính quyền tại các quốc gia trên thế giới (lối 70%)
đều tỏ ý chống chiến tranh đơn phương đánh Irắc do Hoa Kỳ và Anh Quốc
chủ trương. Người ta đã thấy, qua các đài truyền hình, hàng triệu người
của hàng chục nếu không nói là hằng trăm quốc gia trên thế giới, kể
cả những đô thị lớn của Hoa Kỳ và Anh Quốc, biểu tình tuần hành
trên các đường phố phản đối cuộc tấn công đơn phương của Anh-Mỹ
đánh Irắc.
Thế nhưng, tại Hoa kỳ,
chủ trương đánh Irắc của T.T. Bush Con đã lại được đa số dân chúng
(hơn hai phần ba) ủng hộ. Chiến tranh hay không chiến tranh đã được dân
chúng Thế Giới và dân chúng Hoa kỳ có những nhận định rất khác nhau,
ngược nhau. Bởi lẽ, không những giá trị về lý tưởng đạo đức đã
khác nhau giữa các dân tộc, tùy văn hóa tập tục mỗi nơi, mà quyền lợi
quốc gia đối nghịch nhau trong trường
hợp này lại rất lớn: Irắc có những dự trữ dầu hỏa lớn nhất thế
giới, chỉ sau có Saudi Arabia, một quyền lợi mà các đại cường đều muốn
có lời ăn tiếng nói.
Kinh nghiệm cho thấy
phản ứng chính trị của con người ta, bất cứ ở đâu, ở bất cứ trường
hợp nào, phần lớn là bị chi phối bởi tình cảm, bởi súc động, bởi
lòng yêu thương hay ghét bỏ. Trong những tranh luận chính trị, rất ít khi
chỉ bằng lý trí, bằng luận cứ đúng sai mà có thể làm thay đổi được
nhãn quan của người khác.
Do đó, nhiều nhà
phân tách, bình luận chính trị đã giải thích sự ủng hộ Chiến tranh của
đa số dân Hoa Kỳ - trong khi đa số dân chúng thế giới lại chống - bằng
lòng ái quốc rất cao của họ, cao hơn dân chúng nhiều nước khác, một
điều không phải là không có lý. Người Hoa Kỳ rất tin tưởng ở, do đó
luôn luôn sẵn sàng đứng sau lưng, lãnh đạo của họ, hết lòng hỗ trợ
quân đội của quốc gia, nhất là khi Tổ Quốc lâm nguy hay gặp cơn nguy biến
khó khăn. Ðiều này đã từng sẩy ra nhiều lần trong lịch sử nước này.
Trường hợp Irắc lần
này có khác biệt là Irắc không chắc có là một mối đe dọa cho nền an
ninh của Hoa Kỳ. Nhưng một khi chính phủ, vì một lý do nào đó, đã nói
là chính phủ có đầy đủ lý do để phải đánh Irắc, thì đa số dân
Hoa Kỳ sẽ tin là đúng và sẻ hết lòng ủng hộ. Giống cừu của ông
Panurge không phải chỉ có ở Pháp vào thế kỷ thứ 17, mà còn có ở rất
nhiều nơi trên thế giới, kể cả tại xứ Hoa Kỳ rất mực văn minh thời
đại này. Không những thế, cuộc chiến sẽ lại rất chênh lệch. Hoa Kỳ
chắc chắn sẽ đánh tan đánh nát Irắc, nếu muốn. Người dân Hoa Kỳ biết
rất rõ sức mạnh của nước mình, tất nhiên cảm thấy rất phấn khởi
và hãnh diện khi có dịp tỏ ra cho bất cứ ai, bất cứ quốc gia nào, sức
mạnh vô địch của nước mình, huống hồ đây lại là một nước Irắc
nhỏ nhít, lại dám đe dọa một đại cường là Hoa Kỳ, như chính phủ đã
nói. Sự phô trương sức mạnh lần nảy chắc ăn và chẳng mấy nguy hiểm
gì (risk free), chẳng cần phải suy nghĩ đắn đo nhiều. .
Lòng hoài nghi của mọi
người trên thế giới đối với mục tiêu thực sự của Hoa Kỳ, trước
khi, hay cả sau khi Hoa Kỳ mở cuộc tấn công, vẫn ám ảnh nhiều người.
Người ta đã đưa ra rất nhiều giả thuyết khác, ngoài những lý do chánh
thức Hoa Kỳ đã đưa ra, giải thích tại sao Hoa Kỳ lại nhất định đánh
Irắc. Những lý do này có thể tóm tắt
như sau:
Ðẻ kiểm soát được các mỏ dầu hỏa tại Irắc – giả
thuyết này rất phổ thông, nhất là tại các nước miền Trung Ðông, thuộc
khối Ả Rập. Giả thuyết này lại càng được nhiều người tin chắc,
khi thấy Hoa Kỳ đã cấp ngay một khế ước đầu tiên, trong khi chiến
tranh còn đang tiếp diễn, cho đại công ty dầu hỏa Halliburton, Texas (của
Phó Tổng thống Dick Chenney) để rập tắt những đám cháy tại các mỏ dầu
hỏa, chuẩn bị sẵn sàng khai thác trở lại. Tin này được đăng trên
các hãng truyền thông ngoại quốc (thí dụ tờ Finacial Times, Anh Quốc
04/12/03) mà không được phổ biến tại Hoa Kỳ. Có lẽ vì lòng ái quốc
cao của những người làm thông tấn tại Hoa Kỳ.
Ðể có một chân đứng tại vùng Trung Ðông - với giả thuyết
này, Hoa Kỳ sẽ rất có lợi cả về phương diện cbính trị, kinh tế lẫn
quân sự
a) về
chính trị và kinh tế, Hoa Kỳ sẽ không sẽ không còn sợ áp lực về dầu
hỏa của Saudi Arabia và nhóm OPEC nữa.
b) về quân
sự, Hoa kỳ sẽ có một thế đứng rất mạnh, dễ dàng đương đầu với
những bất ổn tại vùng này, nhất
là để giải quyết vấn đề căn bản cho An Ninh quốc gia của Hoa kỳ, là
cuộc tranh chấp Do Thái-Palestine.
Ðể bành trướng địa bàn hoạt động chống
và diệt nhóm khủng bố Al-Qaida - Sự có mặt thường trực của Hoa
Kỳ tại Trung Ðông sẽ giúp Hoa Kỳ rất nhiều trong chiến dịch bài trừ
nhóm Al-Qaida.
Vì đố kỵ cá nhân giữa T.T Bush v à T.T
Hussein – T.T. Bush đã nhiều lần
bầy tỏ công khai lòng căm giận, thù ghét T.T Hussein, mà ai cũng biết là
trước đây đã có âm mưu ám sát cựu T.T. Bush Cha.
Không thể biết được
lý do nào là động cơ chính yếu thúc đẩy T.T Bush Con lấy quyết định
đơn phương đánh Irắc, dù không có chấp thuận của LHQ. Rất có thể là
động cơ ấy là tổng hợp của nhiều hay tất cả các lý do trên. Vả chăng,
như đã nói ở trên, xu hướng hay lòng tin chính trị thay đổi nơi mỗi
người tuỳ theo cảm tình và lòng xúc động cá nhân mỗi người. Người viết chỉ trình bầy ra để mỗi
người tuỳ “tâm” thẩm định.
Nhưng có một điều chắc chắn đã xẩy ra mà đã có
ảnh hưởng rất lớn đến - nếu không phải là nguyên nhân sâu xa của
- chiến dịch đánh Irắc trên. Ðó
là ngày 20 tháng 9, năm 2002, ngày mà chính phủ Hoa Kỳ đã soạn thảo song
và trình bầy trước Quốc Hội Hoa Kỳ bản cương lĩnh chính trị mệnh
danh là Chiến Lược An Ninh Quốc Gia của
Hoa Kỳ (Chiến Lược) -the
National Security Strategy of the United States of America. Ðây là một bản cương
lĩnh chính trị xác định đường lối mới của chính phủ Hoa Kỳ trên
chánh trường quốc tế. Bản cương lĩnh này là kết tinh sự nghiên cứu của
những cố vấn thân cận nhất của T.T. Bush, như Dick Cheney, Condolessa Rice,
Donald Rumsfeld, Paul Wolfowitz… là những thành viên của nhóm nghiên cứu
(think tank) cực hữu The Hoover Institute of War, Revolution and Peace.
Công cuộc nghiên cứu
này được hình thành sau biến động 9/11 để đối phó với nhóm khủng bố
Al Qaida. Hoa Kỳ không muốn đóng vai thụ động để bị khủng bố như
trước, mà phải truy kích, lùng diệt kẻ địch (tương tự như chiến lược
“search and destroy” của Ðaị Tướng Westmoreland năm nào), bất kể ở đâu,
bất cứ trường hợp nào. Quan niệm “phải
đơn phương đánh trước” (unilateral, pre-emptive attack) được khởi
xướng. Quốc gia nào giúp đỡ hay chứa
chấp Al Qaida sẽ bị coi là thù nghịch của Hoa Kỳ và sẽ có thể bị
đơn phương tấn công luôn. Hơn thế nữa, Hoa Kỳ đã lại biết rất rõ
cái cương vị rất hãn hữu của mình, sau sự tan rã của chính quyền Cộng
Sản và Liên bang Sô Viết khổng lồ. Hoa
Kỳ đã đương nhiên trở nên quốc gia lãnh tụ vô địch, một thứ
Vỏ Lâm Bất Bại Bá Chủ Thiên Hạ, bỏ xa các quốc gia khác về mọi phương
diện. Ảnh hưởng của Hoa Kỳ trên các quốc gia trên thế giới - một thế
giới càng ngày càng nhỏ lại vì tiến bộ giao thông và tin học - thật rộng
lớn, trùm khắp mọi lãnh vực, nhất là kinh tế, tài chánh, quân sự, và
cả văn hoá. Có thể nói là không một quốc gia nào trên thế giới lại
dám điên khùng tự mình gây hấn với Hoa Kỳ trước. Có chăng, chỉ vì bị
dồn vào thế chặng chẳng đừng như Cuba chẳng hạn.
Cái ưu thế vô tiền
khoáng hậu ấy, tại sao mình (tức Hoa Kỳ) lại không tìm cách bảo vệ
nó? Tại sao mình (tức HK) lại không lợi dụng cái ưu thế đó mà củng cố
cái địa vị Bá Chủ của mình? Tại sao mình (tức HK) lại để cho người
khác dành cái ngôi Bá Chủ ấy? Tại sao lại phải tùy thuộc, dựa dẫm,
nhờ vả vào các nước khác, khi mà mình (HK) có thể một mình làm lấy
được mọi việc? Tại sao mình (HK) lại tự ràng buộc vào những cam kết,
hứa hẹn chẳng có ích lợi cho mình bao nhiêu? Tại sao mình (HK) lại phải
nể nang ai, sợ ai?
Tất cả những câu hỏi
đó đã đưa đến bản Cương Lĩnh Chính Trị ngày 20 tháng 9, năm 2002.
Bản Chiến Lược này đã được Bác sĩ
H. Jack Geiger, Chủ Tịch Tổ Chức các Y Sĩ Trách Nhiệm Xã Hội, đả tóm lược
trong một bài ngắn gọn rất đáng chú ý đăng trên nhật báo New York Times
ngày 27 tháng 9, năm 2002 và lược dịch như sau:
Bản Lược Dịch
Chính
phủ Bush, với Chiến Lược mới, đã không
nhận mọi Hợp Tác Quốc Tế không
phải để thu mình đứng riêng một mình một cách tiêu cực. Ngược lại,
Chiến lược này là một bản tuyên ngôn tỏ ý định muốn thống trị thế giới.
Với Chiến Lược này, chính phủ Bush dẵ
từ bỏ những Hiệp Ước Quốc Tế đã
ký kết về tài giảm binh bị, về tài giảm phòng thủ chống hỏa
tiễn, về cấm thử nghiệm võ khí hạch tâm, và tự kiềm chế không
không tấn công ai trước. Chính phủ Bush tuyên bố sẽ đơn phương tấn công trước bất cứ
nước nào bị coi là mối đe dọa cho Hoa
Kỳ.
Chính phủ Bush tuyên
bố sẽ không cho phép quốc gia nào có
thể đạt được sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ. Chúng ta (tức HK) sẽ khuyên bảo họ chớ làm chuyện này.
Chính phủ Mỹ đề nghị một nền kinh tế toàn cầu quản trị bởi những cơ chế do chúng ta (tức HK) kiểm soát như
Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) và Ngân Hàng Quốc Tế (WB)
Tóm lại chính quyển
Bush xác quyết Chủ Quyền Hoa Kỳ phải
ở trên chủ quyền các nước khác – Hoa Kỳ là Vô Thượng (3)
Nguyên Bản tiếng Anh
1.The Bush
administration's new national security strategy (front page, Sept.20), despite its rejection of international cooperation, is
the very opposite of isolationism. It is a declaration
of intent for global domination.
2.It abandons longstanding treaties
and agreements on
nonproliferation, antiballistic missile defense, comprehensive nuclear test bans and
no-first-strike understandings. It announces that
we will strike pre-emptively
and
unilaterally against any nation that we define as a threat.
3.It declares
that no other nation may attempt to equal our
military strength: we will "dissuade"
it. It proposes a global economic policy to be administered by instruments we control, the International
Monetary Fund and the World Bank.
4.In sum, it
asserts that American sovereignty trumps all other
national sovereignties -- America uber alles (4).
H. JACK GEIGER, M.D.
Brooklyn, Sept. 20, 2002
The writer is a founding member and former president, Physicians for Social
Responsibility.
Bạn đọc
nào có muốn xem toàn văn bản Chiến Lược này, có thể tìm thấy trong mạng
lưới Internet dưới địa chỉ của Tòa Bạch Ốc. (http://www.whitehouse.gov/nsc/nss.html)
Bản Chiến
Lược được công bố ra đã làm sửng
sốt rất nhiều giới lãnh đạo, nhiều người làm chính trị trên thế giới.
Ngay tại Hoa Kỳ, Thượng Viện cũng đã hết sức sửng sốt như thể đã
bị “tê liệt không biết phải làm sao”
(We
stand passively mute in the United States Senate, paralyzed by our own uncertainty,
seemingly stunned by the sheer turmoil of events.) theo lời
của Thượng Nghị Sĩ Robert Byrd. TNS Byrd là một trong số hiếm hoi các nhà
lãnh đạo Hoa Kỳ đã có một phản ứng gay gắt về chuyện này.
Sau A Phú Hãn, T.T Bush đã quyết định đơn phương đánh Irắc.
Quyết định này ắt phải nằm trong Chiến Lược nói trên. Nhiều người
phân vân không biết sau Irắc sẽ xẩy ra chuyện gì? Ai sẽ bị (đơn
phương) coi là “mối đe dọa cho Hoa Kỳ?”. Bắc Hàn? Iran? Syria? Hay một
nơi nào khác?
Chiến Lược
này đánh dấu một khúc quanh quan trọng trong lịch sử Hoa Kỳ, cũng như lịch
sử thế giới. Hạnh phúc của Nhân Loại, phần nào sẽ tùy thuộc vào Hoa
Kỳ, vào những nhà lãnh đạo Hoa Kỳ, vào cái nhìn của họ về Quyền lợi
của Hoa Kỳ đối với Hạnh Phúc của người dân các nước khác. Ðây là
một trách nhiệm rất lớn, rất nặng nề. Trong cương vị T.T Hoa Kỳ, tức
là người có quyền uy cao nhất thiên hạ, nắm quyền sinh sát hàng triệu
sinh linh trong tay, T.T Bush Con ắt phải cảm thấy – ngoài lòng hãnh diện,
men say sưa của vai trò Thiên Hạ Ðệ Nhất Nhân - nhiều lúc, trọng lượng
của Lương Tâm của một người có tinh thần trách nhiệm.
Có lẽ vì
cảm thấy cái trách nhiệm định mệnh của mình, cũng như cảm thấy sự
khiếp sợ đã gây ra khắp thế giới vì Chiến Lược “đơn phương đánh phủ đầu” và “bất cần thiên hạ di nghị” của mình
– mà nhiều người đã thấy đó là một Chủ Nghĩa Ðế Quốc mới - T.T
Bush Con đã nhiều lần lên tiếng nói rằng Hoa Kỳ, đại diện bởi ông, sẽ
rất “từ bi” rông lượng
(compassionate). Có thật là như vậy không thì quá sớm để trả lời. Cho
đến bây giờ, chưa có gì chứng tỏ T.T Hoa Kỳ là hiện thân của một vị
Bồ Tát Từ Bi, mà cũng chẳng phải là một Sa Tăng Ác Quỷ như một số vị
lãnh đạo quốc gia đã bị gọi như vậy. Tất nhiên mọi người đều rất
kỳ vọng vào điều này, bởi vì lòng Từ Bi của T.T. Hoa Kỳ, nếu được
thể hiện, sẽ như nước Cam Lồ tưới vào cái không khí ngột ngạt của
nền chính trị thế giới đang sôi sục vì Quyền Lợi (4). (dầu
hỏa), vì hận thù (Do Thái/Ả Rập), vì thi đua võ trang, nhất là võ khí hạch
tâm, vì phá hoại môi sinh để kiếm lợi, vân vân.
Trong đạo
Phật, chữ Bi hay là Từ Bi là cái hạnh
căn bản, đầu tiên của người muốn làm đệ tử của Phật. Kẻ hành
trì “tự tâm phát hiện lòng thương chân
thật. Lòng thương này được biểu lộ trong hành động, ngôn ngữ chia vui
sớt khổ cho nhau…Những khi hoạn nạn, những đau buồn của người khác
nên coi là hoạn nạn đau buồn của chính ta, cố gắng tìm cách giải cứu….”
(H.T. Thích Thanh Từ). Từ Bi không thôi sẽ không đủ. Chữ Bi phải được
theo sau bằng hai chữ Trí và Dũng mới nói lên hết tinh thần Phật
giáo. Dù con người cố gắng làm điều lành, nếu thiếu trí tuệ phán đoán
thì chưa hẳn việc làm đã là lành. Và một khi đã làm điều lành thì cần
có một tâm dũng mãnh quyết tâm làm cho bằng được, bất chấp trở ngại
khó khăn.
Cầu mong
cho Thế Giới được hòa bình với những nhà lãnh đạo Hoa Kỳ hoàn thành
sứ mạng lịch sử trong tinh thần Bi Trí Dũng.
(1) Từ Bi (compassion) và Ác Quỷ (evil) đã
là hai danh từ rất thời thượng trong nền chính trị Hoa Kỳ hiên đại.
(2) Một phương châm trong nền chính trị hiện
đại: Bạn của bạn ta chưa chắc có thể là bạn ta (thí dụ: ông Arafat
là bạn của ông Nelson Madela, một người bạn của Hoa Kỳ. Nhưng chắc chắn Arafat không phải là bạn
của Hoa Kỳ), nhưng kẻ thù của kẻ thù của ta lại rất có thể là bạn
ta (thí dụ Irắc là kẻ thù của Iran, một kẻ thù của Hoa Kỳ. Do đó Hoa
kỳ giúp đã giúp đỡ Irắc để đánh Iran là điều tự nhiên)
(3) Tiếng Ðức, có nghĩa là “trên hết tất
cả” (vô thượng), là một cụm từ được dùng rất nhiều dưới thời
Ðức Quốc Xã
(4) Ông Henry Kissinger, một chính trị gia lỗi
lạc của thế kỷ đã nói “Giữa các quốc gia chẳng có cái gì gọi là
tình Hữu Nghị cả mà chỉ có Quyền Lợi”: