Y tế Việt Nam dưới
mắt một bác sĩ hải ngoại làm thiện nguyện
BS
Đặng Đức Nghiêm, M.D., FACS.
[Giao Điểm nhận được bài
viết vào ngày 16.3.2003]
LTS. Chúng tôi vừa nhận
được bài viết dưới đây của BS Đặng Đức Nghiêm, trong đó ông cung cấp
cho quí độc giả một cái nhìn của riêng ông đối với nền y tế Việt
Nam hiện nay, một cái nhìn thoáng qua, đầy cảm xúc của một người bác
sĩ đi làm thiện nguyện tại quê hương gốc của mình. Nhưng quan điểm của
người viết không nhất thiết là quan điểm của nhật báo Người Việt.
Sau đây là nguyên văn bài viết đáng chú ý này. Bài đăng nhiều kỳ.
(I)
Hà Nội, một buổi tối của
mùa Xuân hanh lạnh, chúng tôi trở về khách sạn sau buổi làm việc thiện
nguyện, thì nhận được một lẵng hoa tuyệt đẹp bầy rực rỡ ở góc
phòng với tấm thiếp hồng cài ngang mang hàng chữ: "Kính tặng bác sĩ,
ân nhân của gia đình chúng tôi , nhân ngày Thầy Thuốc Việt Nam " gửi
từ Sài Gòn tới. Chúng tôi vừa bâng khuâng vừa cảm động và nhớ tới
cô bệnh nhân nhỏ bé được mẹ dẫn tới chẩn khám chữa trị mới tuần
lễ trước đây thôi. Kỷ niệm 48 năm ngày Thầy Thuốc Việt Nam , 27 tháng
2, 2003, cũng như ngày" Doctor's day " bên Mỹ. Người bệnh Việt Nam
nhớ tới những thầy thuốc đã săn sóc sức khỏe cho mình. Tình cảm ấy
làm sao y-sĩ có thể lẵng quên được, làm sao để bệnh nhân vững tin
vào thiên chức lương y, làm sao hành nghề trọn vẹn dứơi một nền y-tế
hiện đại thích đáng phục vụ cho người dân đây ? Những vấn vương
ấy đã gợi ý cho chúng tôi đem những suy nghĩ thiển cận của mình trải
dài ra để hy vọng góp một phần nào vào chương trình săn sóc sức khỏe
cho từng lớp đồng bào ruột thịt kém may mắn tại quê nhà. Dân số Việt
Nam vụt bốc lên tới 80 triệu người. Các thành phố lớn như Sài Gòn,
Hà Nội ...mỗi nơi xấp sỉ 5-6 triệu dân. Vấn đề y tế đã là một vấn
giải cho những ai lo lắng bảo vệ sức khỏe cho dân. Việt Nam hiện nay
quan tâm đào tạo bác-sĩ y khoa, không kể tới những ngành khác như đông
y, châm cứu, y khoa dân tộc...Ngoài những Đại Học Y kỳ cựu như ĐH Y Hà
Nội, Y-Dược Sài Gòn, Huế, còn có những ĐH Y địa phương như Thành phố
Sài Gòn, Tây Nguyên, Cần Thơ, Thái Nguyên, Thái Bình, Hải Phòng...và còn
các trường ĐH Cao Đẳng Y-Tế như Nghệ An ...hay sắp khai thêm ĐH Y Tuệ
Sĩ, trường thuốc của Pháp...Như thế số y-sĩ ra trường sẽ ào ạt để
cung ứng cho những vùng xa xôi trước đây rất thiếu bác sĩ. Thi nhập vào
trường thuốc vẫn là vấn đề nan giải, không phải là hồng hơn chuyên
nữa, mà dựa vào học lực của chính các sinh viên. Những lớp luyện thi
vào trường thuốc lúc nào cũng đầy ắp kẻ ham học, mơ được sau này
khoác chiếc áo trắng. Phim bộ " Áo Trắng " ( White blouse ) do các
diễn viên Việt Nam thủ diễn trình chiếu trên TV hàng ngày đã được dân
chúng tán dương, số người xem đông nhất và đã được bầu là phim hay
nhất trong năm. Nhiều chương trình học vẫn giữ hệ thống nội trú như
xưa kia. Sinh viên sau 6 năm học ra trường phải đi chuyên tu cấp I hoặc
II, chia làm cơ sở hoặc lâm sàng rồi mới được chính thức hành nghề.
Ảnh hưởng của nền y khoa hiện đại, sinh viên muốn tiếp tục dành cho
mình một chuyên khoa phải thi thường trú ( Residency ) từ 2-3 năm, phải thi
thạc sĩ rồi tiến sĩ y-khoa ( PhD ). ( Ở đây, chúng tôi không rõ vì sao chữ
nghĩa đảo lại giữa thạc sĩ và tiến sĩ ) . Muốn trở thành giáo sư vẫn
phải theo lệ thông thường như phụ tá, phó giáo sư... qua các kỳ thi tuyển
như trước kia. Rất nhiều các sinh viên, bác sĩ được gửi đi ngoại quốc
tu nghiệp từ ngắn hạn cho tới dài hạn. Nhưng đa số họ chỉ ước mong
được qua Mỹ học hỏi những kỹ thuật hiện đại, những kiến thức y
khoa " cao cấp "để về phục vụ cho chính đồng bào mình. Bởi thế,
các bệnh viện công cũng như tư người ta luôn luôn thấy những thầy thuốc
rất trẻ, rất hăng say, rất tiến bộ làm việc. Có người từ Mỹ , từ
Pháp, từ Nhật, từ Singapor... về. Khuôn mặt ấy, dáng dấp ấy không một
ai là không tin tưởng. Mạng Lưới Y-tế VN cho biết các xã phường đã
có cán bộ y-tế phục vụ, 78% trạm y-tế có nữ hộ sinh hoặc y-sĩ sản
nhi. Tuổi thọ trung bình của đàn ông tăng từ 65 tuổi lên 68 tuổi. Theo dư
tính, tới năm 2010, tất cả ( ? ) dân Việt Nam sẽ có bảo hiểm y-tế,
trong khi hiện nay tại Mỹ có tới 41 triệu dân thả nổi sức khỏe mình (
báo cáo 2002 ) Trong Hội Nghị về HIV/ AIDS tổ chức tại Việt Nam vào dịp
tháng 2 này, tôi đã được nghe những ý kiến rất sâu sắc của các bạn
trẻ. Họ đã dám phê bình nhà nước quảng bá quá lố về phòng ngừa,
nguy hại và tính cách bất trị của căn bệnh này trên đường phố. Kết
quả đã đẩy người mắc bệnh AIDS ra khỏi xã hội loài người như xưa
kia lùa giam cô lập bệnh nhân hủi cùi, khiến người mang bệnh tủi hổ dấu
diếm tránh né, không thèm chữa trị và mang đầy mặc cảm tội lỗi. Bệnh
lây truyền âm thầm tăng lên, không thể kiểm soát được. Giải pháp coi
người nhiễm HIV giống như các bệnh nhân khác, không phân biệt, không hắt
hủi, xé bỏ những tấm bảng đầu đường xó chợ rẻ tiền mang tính
cách quy án người mắc bệnh AIDS, đã được toàn thể hội nghị đồng
ý đa số tuyệt đối. Đã có tới 35 tỉnh lỵ lập được clinic thử nghiệm
HIV/ AIDS cho dân như ở Quảng Ninh, Cao Bằng, Kiên Giang, Hải Phòng, Củ Chi,
Thử Đức... Hội thảo Quốc tế Việt Pháp lần thứ II Bệnh Lý Tim Mạch
Nội Ngoại Khoa tại Sài Gòn ( Deuxièmes Rencontres internationales
Franco-Vietnamiennes de Pathologie cardio-Vascular medico-chirurgicale ) do nhóm
Advase-Aipcv tổ chức, hiệp hội Tim Mạch Pháp/ Việt, Medical Education
Outreach, Inc. Mỹ... bảo trợ tại khách sạn Legent vào ngày 12-15/ 02/ 03 đã
lôi cuốn đông đảo tham dự viên toàn quốc. 156 diễn giả Pháp, Aâu, Mỹ
trình bầy những kiến thức khảo cứu của mình cùng trao đổi với những
bác sĩ, giáo sư của các Đại học Y Việt Nam. Đây là một hội nghị
không mang vẻ chào cờ như nhiều người đã nghĩ quẩn. Hãy nhìn những
khuôn mặt sinh viên bác sĩ trẻ Việt Nam ngồi yên lắng nghe. Không phải một
người mà hàng trăm người, hàng trăm câu hỏi đặt ra, hàng ngàn câu trả
lời bằng tiếng mẹ đẻ, tiếng Pháp, tiếng Mỹ... Không phải chỉ có
Francophone thôi đâu. Những người trẻ ấy đã đọc sách Pháp, sách Mỹ,
đã đặt vấn đề rõ ràng chỉ muốn thấu suốt những điều mình học hỏi,
những phương thức mình đã thực hành, trong những điều kiện khắt khe về
phương tiện. Chúng tôi đã may mắn được tham quan một số bệnh viện công
cũng như tư tại miền Nam cũng như miền Bắc vào dịp này. Làm sao mà
không cảm phục các bác sĩ trẻ tay nghề vững vàng, phẫu thuật cao siêu
với những dụng cụ, phương tiện chỉ-có-thế ở Bệnh Viện Đại Học
Y Dược. Làm sao mà không cảm phục những người thầy tận tâm truyền dậy
cho trò để nối gót mình như dồn hết tất cả năng lực hầu tạo dựng
một nền y-tế hiện đại, ít ra cũng đứng ngang với các Đại Học Y tại
Đông Nam Á. Hãy quan sát năng lực của các đồng nghiệp trẻ tiêu biểu tại
bệnh viện Chợ Rẫy, nơi mà chúng tôi đã nội trú, thường trú thực tập
của 40 năm về trước. Sự say mê làm việc và lòng yêu thương bệnh nhân
đã được các bạn trẻ đặt cao hơn hết với những kiến thức y học
hiện đại mà chúng tôi không ngờ tới. Bác sĩ và điều dưỡng viên bây
giờ là một chỉ phục vụ cho người bệnh. Cái oai , cái hách của ông thầy
thành thực mà nói đã lắng xuống tận cùng. Những dẫy nhà tây xưa kia là
khu bệnh nhân nằm đã thay thế bằng những cao ốc tân trang tương đối sạch
sẽ và khang trang như những ông lão cố cựu được thay thế bằng lớp trẻ
tài ba. Hầu hết các phòng mổ hoạt động liên miên, khu cấp cứu bận rộn
hơn bao giờ hết, các máy móc tinh vi kiểm soát không ngừng... Đến như bệnh
viện Chấn Thương Chỉnh Hình, chúng tôi đã có những ngạc nhiên này đến
ngạc nhiên khác. Với phương tiện eo hẹp như thế bác sĩ và nhân viên
điều dưỡng phẫu thuật đã có những ca tháp nối cánh tay, bàn tay thành
công theo tiêu chuẩn quốc tế. Đó có phải là sự hăng say phục vụ người
bệnh không ? Thật vậy, chỉ giản tiện như thế thôi . Trào lưu hiện đại
hóa y khoa toàn quốc đưa đến thăng hoa của các bệnh viện tư nhân quản
trị và điều hành được mang danh ngoài công lập. Từ clinic bước tới cấp
số bệnh viện đa khoa, chuyên khoa đã là những bước tiến liên tục.
Ngay tại Sài Gòn, Hà Nội, số bệnh viện tư mọc lên đếm vượt ngoài
ngón tay chân. Bệnh viện Quốc Tế, bệnh viện Pháp Việt ( FV ) sắp khai
trương, bệnh viện Hoàn Mỹ I/ II/ III lan tới cả Đà nẵng, bệnh viện
Nhân Ai hoạt động cho các công ty xí nghiệp, bệnh viện Mắt Nguyễn Thi
Minh Khai, bệnh viện tim Alan Carpentier, bệnh viện Vạn Hạnh, bệnh viện Hồng
Đức, bệnh viện International Obstretrics-Gynaecology...và còn nhiều nhiều nữa.
Do mãnh lực tài chánh dồi dào, đa số các bệnh viện này tổ chức hoàn
hảo, quy củ hơn, sạch sẽ hơn, nhiều máy móc chẩn đoán hơn...và tiếp
đón nồng hậu hơn. Tổ chức bệnh viện nửa nghiêng về phía cố cựu
Pháp, nửa muốn theo lối điều hành Mỹ, đôi khi hơi Tầu một chút.
Riêng tại Sài Gòn, chỉ số tư nhân lên tới 12 bệnh viện, gần 5,000
clinic và 10,300 phòng khám bệnh. Nhiều câu hỏi đặt ra tại sao lại mọc
nhiều bệnh viện tư đến như thế ? Tại sao ? Có thể là dân số gia tăng,
có thể là dân dư giả không ai thích đi nhà thương thí, có thể là thể
chế bảo hiểm sức khỏe đã là nguồn lợi nhuận đáng kể, có thể...
Giải Phẫu Thẩm Mỹ, làm đẹp, là những nơi nhà cao cửa rộng, hái ra tiền,
nườm nượp khắp hang cùng ngõ hẻm. Quy luật nơi này ra sao ? Phòng mổ
có chuẩn không ? Ít phụ nữ để ý tới. Đã có những Việt kiều về nước
sửa sắc đẹp vì rẻ tiền hơn, kể cả về nước sinh nở vì không có bảo
hiểm y-tế ở nước ngoài. Việt Nam đã có những công ty sản xuất thuốc
nội không thua kém hàng ngoại từ trụ sinh cho tới nước biển, hóa trị
liệu... Và gần đây nhất đang cố gắng bào chế dưới nhãn thuốc
Lamizidar ( Lamzidivir ) trị bệnh HIV/ AIDS, rẻ hơn ( 1.30 USD/ viên ), tiện hơn,
dễ lôi cuốn người bệnh theo lịch chữa trị. Thống kê mới nhất cho biết
60,000 trường hợp dương HIV, 1,580 bệnh tử vong trên toàn quốc. Riêng tại
Sài Gòn, 12,731 ca HIV dương, 3,830 phát triển AIDS. Chúng tôi cũng thấy
Tenamyd-Canada của DS Bùi Đình Nam tái xuất hiện, ngoài thuốc thông thường
còn bào chế mỹ phẩm. Các thuốc mỹ phẩm tràn ngập thị trường sang từ
Trung Quốc, Nhật, Mỹ...Nhớ nhất, là nhãn hiệu thuốc Panadol, trị nóng lạnh
cảm cúm lỗi thời, 40 năm về trước, vẫn còn thông dụng tại Việt Nam.
VÀI NHẬN XÉT: Thóang qua những ĐH Y như trường Y-Dược Sài Gòn, Thái
Bình, Hà-Nội, Huế...sinh viên rất trẻ, rất cần mẫn, rất hiếu học.
Các lớp học khang trang, đầy đủ học liệu tiếp cận với các bệnh viện
đại học hay đa khoa để thực tập. Lớp giáo sư tận tâm chỉ dẫn, hướng
vào trọng điểm thực tiễn theo lối Mỹ, theo sách Mỹ, theo kiến thức
y-học hiện đại trên thế giới. Đó là một điểm son đáng khen, không
vòng vo lý thuyết xuông như chục năm về trước. Phòng mạch bác sĩ (
10,300 tại SG ) lại là một vấn đề nan giải dù đã được lưu ý cải
tiến. Đã có những báo cáo một ngày ( 24 giờ / 1440 phút ), có phòng khám
tới 100-400 bệnh nhân. Nghĩa là không ăn, không ngủ, không làm vệ sinh cá
nhân, bác sĩ chỉ dành 4-5 phút khám vội vàng cho mỗi bệnh nhân ngày nọ
sang ngày kia. Hồ sơ bệnh lý không lập. Dụng cụ y khoa nhất là kim chích
khử trùng cẩu thả. Toa thuốc ngắn hạn chỉ dùng 1-2 ngày với hàng chục
loại chẳng cần có tiêu chuẩn. Rác dịch thể bừa bãi...Tránh né đi dự
lớp học thêm hàng năm để trau dồi nghề nghiệp. Cách chữa trị thay vì
tận gốc, thì chỉ theo phỏng đoán và theo triệu chứng, đánh võ tứ phương,
dựa vào mát tay. Và có thể chủ yếu là nuôi bệnh để bệnh lây truyền
tứ tung ( ? ). Ngay cả những trung tâm giải phẫu thẩm mỹ, bác sĩ vừa làm
phẫu thuật viên vừa gây mê. Tiêu chuẩn của một phòng mổ và dụng cụ
vô trùng thấp kém. Các bệnh viện tư đua nhau mua máy móc tối tân và
phát huy công cuộc y-khoa chẩn đoán dự phòng. Lấy một thí dụ để truy
lùng bệnh động mạch vành tim, hệ thống chụp và nông thông mạch (
coronary angiogram, angioplasty ) trên 1 triệu USD được trang bị. Các bác sĩ
được gửi đi Mỹ quan sát nhiều tháng về thực hành. Theo báo cáo, trung
bình 30 ca ( ? ) thông tim mỗi ngày. Hỏi: " Có ca nào tai biến không ?.
" Đáp: " Chưa thấy ". Hỏi: " Nếu catheter làm bể hoặc tắc
động mạch vành nguy ngập cấp tính, có nhóm phẫu thuật viên và phòng mổ
can thiệp lập tức không? ". Đáp: " Nếu thế, bệnh nhân sẽ được
tản thương ngay về bệnh viện Chợ Rẫy để mổ ...". Dữ kiện này
khiến chúng tôi hơi kinh hoàng, nhất là lưu thông nghìn nghịt người ở Sài
Gòn không đễ lưu thoát. Các bệnh viện Mỹ, có cấp số thông tim phải
có nhóm phẫu thuật tim túc trực bất kỳ lúc nào để can thiệp tại chỗ
tức thì. Tại các bệnh viện tư như Fountain Valley, quận Cam, hay Samatarian,
LA, hàng tháng có tới dăm ba ca phải mổ cấp cứu vì tai biến thông tim. Tại
sao không dùng số tiền này để trang bị đơn giản nhưng tối ư cần thiết
như mua máy theo dõi tim mạch, dưỡng khí, não bộ... cho phòng cấp cứu và
hậu giải phẫu có tốt và giản tiện hơn không ? Tại sao không một ai
nghĩ tới tích cách an toàn cho người bệnh ? Hệ thống kiểm soát thống
kê để học hỏi rất ít bệnh viện thực hành. Những báo cáo hội chẩn
hàng tháng về tai biến và tử vong ( Morbility/ Mortality ) hình như ít thấy
hay được ngụy trang hoặc không hay biết. Học qua những sai lầm không có
gì là xấu hổ. Bởi thế, hàng tháng, các bệnh viện Mỹ đều đưa các
ca khó, tử vong, tai biến trình làng hơn là dấu diếm. Bộ y-tế đã phát
động các chiến dịch ngăn chặn, truy lùng thuốc ngoại rởm, thuốc giả
và các mỹ phẩm có tác hại cao từ bên Trung Quốc tràn sang. Thuốc giả
trên thị trường đã giảm từ 1,67% ( 1993 ) xuống còn 0,18% ( 2002 ). Điều
đó chứng tỏ nhà nước đã nhìn thấy sự nguy hại " dịch thuốc
". Tiếng thì thầm của thiên hạ sợ hãi thuốc giả may ra bớt đi
được chăng ? Thế nhưng, mọi loại thuốc từ trụ sinh đến thuốc ngủ,
thuốc gốc narcotic được bán tự do không kiểm soát, không cần toa bác sĩ.
Dựơc sĩ hăng hái bán thuốc, kê toa, trị bệnh luôn cho người dân theo sự
hiểu biết nông cạn của mình và làm giầu trên lòng tin của khách hàng.
GÓP Ý: Tân Bộ trưởng Y-Tế thẳng thắn đưa ra chương trình cổ võ cho
công tác dự phòng ( Preventive medicine ) và y-tế Công Cộng ( Public Health ),
khuyến khích các sinh viên sang Mỹ du học về chuyên ngành. Chắc chắn ai
đó cũng đã nghĩ tới vấn đề quản trị y-tế theo chiều hướng trên
và học hỏi áp dụng theo các nước tân tiến trên thế giới. Muốn đạt
được tiêu chuẩn đặt ra, thiết nghĩ chẵng cần dương đông kích tây,
hò hét ồn ào để tự mang danh thùng rỗng kêu to, một vài vấn đề cần
giải quyết ngay trước mắt: Lập hệ thống ( vi tính ) kiểm soát thuốc
men, toa, phương cách khám chẩn và lý lịch ( C.V ) của các người hành nghề
dịch vụ y-tế. Các bác sĩ có phòng mạch tư là những người tối ư quan
trọng để hướng dẫn bệnh nhân về phòng bệnh, tìm kiếm bệnh, trị bệnh
... và chuyển bệnh tới các chuyên khoa hoặc bệnh việân. Những dịch thể
nguy hiểm ( biohazard ) nhơ nhớp dính vào bông băng, bao tay, kim, dao, kéo nhọn...nên
biệt lập với thùng rác riêng, và được tiêu hủy đặc biệt. Kiểm soát
sự khử trùng theo đúng tiêu chuẩn. Ổ truyền nhiễm, nhất là bệnh HIV/
AIDS và viêm gan không đâu xa, chính từ phòng mạch bác sĩ và bệnh viện nếu
không để ý tới. Quy định lề lối thiết bị bệnh viện với cấp số.
Không thể vì sự cạnh tranh, xả láng, mua máy móc kỹ thuật tinh vi, để
chỉ chẩn đoán bệnh suông nhưng gặp phút tai biến khẩn cấp chẳng thể
nào kịp xoay sở như trường hợp chụp hình dộng mạch vành và nông
thông tim kể trên. Bởi vì tìm kiếm bệnh tim bằng phương tiện đơn giản
( non-invasive ) như tâm ký 24 giờ ( Holter monitor ), Siêu âm tim ( echocardiogram
), đo tim khi chạy bộ ( Treadmill/ Stress test )...đủ để lọc tìm và an
toàn hơn. Khuyến khích những báo cáo đứng đắn, chính trực, về thống
kê bệnh lýâ, về tai biến, về tử vong, nhất là từ các bệnh viện tư,
ngay cả từ các trung tâm thẩm mỹ nếu có phòng mổ. Dân luôn luôn tin tưởng
vào thầy thuốc. Dân chẳng thể nào thông suốt được vấn đề bệnh tật,
truyền nhiễm và những tác hại của thiết bị kỹ thuật cao ( high tech ).
Dân chỉ cần sức khỏe an bình. Xin hãy chỉ dẫn tường tận y học dự
phòng và công cộng, bệnh lý khúc mắc cho họ. Xin ngăn ngừa những lạm dụng
quá đáng, những hăng say ham vượt trội của người hành nghề y-tế vội
vàng, quên đi tai biến có thể xẩy ra cho chính mình, cho dân, cho người bệnh
kém may mắn, ở bất cứ thời điểm nào bất cứ, nơi nào. Xin ra công bảo
vệ người dân khi phát bệnh ( ốm ). Con đường phòng bệnh hơn chữa bệnh
luôn luôn lắm trông gai, muốn khắc phục không phải chỉ trong chốc lát.
Về trang
Nghiên cứu & đối thoại tháng 3-2003
Home | Top Page | Về trang mục lục