curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .

 

Giới thiệu sách:

TÔN GIÁO CỦA HƯ VÔ
Triết gia và Bụt đà
  • Đỗ Thuận Khiêm

            Người Tây phương nghiên cứu Phật giáo ngày càng đông. Số doanh thu trên các sách viết về Phật giáo tăng nhanh. Tại Pháp, cho 6 tháng đầu năm 1997, có 28 quyển viết về Phật giáo đã đăng ký xuất bản. Và chúng tôi xin giới thiệu quyển sách đặc biệt : Le Culte du Néant - Les philosophes et le Bouddha, nxb. Editions du Seuil, Paris, 1.1997 (khoảng 350 trang, khổ 14/22); của Roger-Pol Droit, chuyên gia, của Trung Tâm Nghiên Cứu Khoa Học Quốc Gia - Pháp, trên những tưởng diễn (représentations imagi-naires) trong triết  học Âu châu về Đông phương, và là sử gia biên niên cho nhật báo Le Monde.

            Trong sách này, tác giả khảo sát những tưởng diễn của các triết gia Âu châu thế kỷ 19 có liên hệ đến Phật giáo, hay với Phật giáo là trung tâm, vẽ lại lịch sử khám phá đạo Phật của người Tây phương, và vạch ra từ đó những cớ sự bí ẩn nhất của sự kiện : suốt thế kỷ 19, những triết gia Âu châu đã, không những bóp méo mà còn hủy hoại toàn bộ giáo thuyết nhà Phật, đã huyền thoại hóa "tôn giáo không Thiên Chúa" này thành "tôn giáo của hư vô", thành một hăm dọa đáng ghê tởm, biến Phật thành kẻ phủ nhận sự hiện hữu và cổ xúy sự tiêu hủy tất cả. Sai lầm này, đến nay vẫn thấy xuất hiện rải rác. Và, với sự uyên bác hiếm thấy cùng với sự cẩn trọng khoa học, tác giả chứng minh : khi bóp méo sự thật và huyền thoại hoá đạo Phật thành "tôn giáo của hư vô", trong thực chất, Âu châu đã nói về chính mình.

            Luận đề rất lôi cuốn, được trình bày rất rõ, với đủ viện chứng, tác giả đưa người đọc "theo dấu vết của chủ nghĩa hư vô", với 3 phần : I. Thời kỳ sinh trưởng (1784-1831); II. Thời kỳ hăm dọa (1832-1863); III. Thời kỳ suy tàn (1864-1893). Và xin giới thiệu tóm tắc vài điểm chính thu hoạch được từ sách.

I- Từ hy vọng đến khiếp sợ.

            Từ các năm cuối thế kỷ 18, nghiên cứu về văn minh Ấn Độ và chữ Phạn bắt đầu thành một chuyên ngành, với đối tượng và các phương pháp riêng. Và từ đầu thế kỷ 19, các học hiệu của người Anh, Pháp và Đức - ở Calcutta, Paris (trong Pháp Quốc Học Hội và Hiệp Hội Nghiên Cứu Á châu), Bonn và Berlin -, bắt đầu tiếp cận dần với một lãnh vực rộng lớn, chưa được biết đến. Từ đó, từng bước và khá nhanh, những ngông cuồng của thị hiếu ngữ nguyên học, hay những mơ mộng chuộng điều mới lạ từ xa đến, nhường chỗ cho những tri thức chính xác và những chuyển dịch thận trọng nghiêm ngặt.

            Khi đọc các bản dịch đầu tiên từ chữ Phạn, Âu châu của phái lảng mạn, đặc biệt là ở Đức, tin là đã tìm thấy trong Bà-la-môn giáo ánh sáng cho những lo lắng của họ. Những anh hùng ca, kịch bản, thơ phú Ấn Độ, cùng các tác phẩm của những "triết gia sông Hằng", tạo nên sự chờ đợi một cuộc phục hưng mới. Nhiều tác giả rất khác nhau - như : Schlegel, Schelling, Schopenhauer, Leroux v.v... - cho rằng tư tưởng Âu châu sẽ được tái sinh, với các tác phẩm Phạn ngữ, tựa như lần Phục Hưng trước, với các tác phẩm Hy Lạp được những người theo chủ nghĩa nhân bản tìm thấy lại. Và, trong một thời gian khá dài, nhiều người tin rằng "Phục Hưng Đông phương" (chữ của họ), bởi âm vang đa diện của nó, sẽ phải rộng lớn và sâu sắc hơn lần Phục Hưng Âu châu ở thế kỷ 15 và 16. Cái quá khứ đang mở ra, thật vậy, còn xa xưa hơn những gốc nguồn Hy Lạp. Hầu hết mọi quan điểm đều tin rằng, từ chỗ trở về với gốc nguồn nguyên thủy nhất này, có thể sáng tạo ra một tương lai mới, hoàn toàn khác với hiện tại - nguồn cội và tương lai tương ứng nhau nhưng không giống nhau -, và những rối loạn trước mắt chỉ là đoạn cuối của một dấu ngoặc dài sắp sửa khép lại

            Họ hy vọng nơi Ấn Độ, mà Herder xem là "cái nôi của nhân loại", một sự cứu rỗi của ngày mai. Sự khám phá Bà-la-môn giáo, qua các công trình được dịch từ chữ Phạn, chẳng những đã kích thích óc tò mò mà còn, hơn thế nữa, gây nên sự ngạc nhiên và sự ngưỡng mộ. Cái Ấn Độ vừa mới biết đến tức thì được ước mơ, đầy suy tưởng và thi vị hóa, như quê hương gốc của sự toàn hảo, trật tự, vượt trên mọi thối rửa của lịch sử, và tồn tại như năng lực lớn duy nhất có thể làm sống lại tinh thần, cả thể xác, của Âu châu. Như, trong thư đề ngày 18.12/1806, cho Windischmann, Schelling viết : “Tôi cho rằng việc khôi phục sự hợp nhất Đông-Tây là vấn đề lớn nhất cho giải đáp mà Tinh Thần thế giới đang tìm kiếm. A¼i style="mso-bidi-font-style:normal">u châu là gì, nếu không là thân cây khô héo tự thân, cậy tất cả nơi những tiếp ghép Đông phương và chỉ có thể được hoàn thiện nhờ nơi các tiếp ghép này ?”. — Paris, 1842, Edgar Quinet, trong số nhiều tác giả khác, cũng nêu lên cùng hy vọng : “Cùng lúc thâm nhập vào thi ca, vào chính trị của Tây phương, Á châu cũng len lỏi vào trong các chủ thuyết; siêu thể học, đến lượt nó, củng cố sự liên kết hai thế giới”, trong Le Génie des religion (trg. 71).

            Sự liên kết này, được hy vọng, chờ đợi, loan báo, cuộc phục hưng trên nền tảng Đông và Tây tìm gặp lại, và sự phục sinh, chẳng những đã không diễn ra, mà tất cả mọi kỳ vọng đều sụp đổ. Không phải chỉ đơn giản vì đó là một giấc mơ, mà thực tại tầm thường hẳn nhiên phải khác. Nhưng vì, từ các năm 1820, khi những mảnh tư liệu tản mác, được thu về từ Népal, Trung Quốc, Tích Lan, Tây Tạng, Thái Lan, Nhật Bản, v.v..., bắt đầu được kết tập, phân loại, so sánh, khi các nét chính của thuyết Phật hiện rõ. Sức hấp dẫn hướng về một sự sống tinh nguyên bị lật ngược thành sự khinh ghét đối với một dạng thần chết. Đạo Phật vừa được phát hiện, thì liền bị xem như một phủ định hay một khiêu khích nội thân và bền bỉ trong lòng trật tự xã hội và trật tự tinh thần Bà-la-môn giáo, một loại "nổi loạn luận lý" rất đặc thù chống mọi dạng thần khải và siêu thể học, một đề án hủy diệt mọi tư duy, một phiến loạn, hăm dọa, tác nhân của thối hóa, đồi bại.

            Đạo Phật thường được trình bày như một chủ thuyết lạ đời, không thể lĩnh hội được, cổ võ một kiểu hiện hữu chỉ nhắm đến chỗ "không-là-gì-cả", với mục tiêu tối hậu chỉ là và thuần túy là hư vô - với nhiều trăm triệu con người ngưỡng vọng sự tan biến bất phản hồi của chính mình, dành trọn mọi nổ lực thánh thiện nhất và bền bỉ nhất cho sự hủy diệt chính mình và xem đó là diễm phúc không thể diễn tả được. Làm sao, như họ nói, con người lại có thể mong cầu hư vô ? Điều quái đản này trái ngược với chính sự mong cầu, cũng như với con người, và trái với tính tự nhiên của mọi tôn giáo. Nhiều người đã tin nơi những điều khủng khiếp đó, về đạo Phật, ngay cả khi nhiều nhà thông thái nói khác. Và, trong lo lắng, hy vọng đã nhường chỗ cho khiếp sợ, và giấc mơ cho ác mộng; "Ấn Độ - Thiên đàng" được thay thế bởi "Á châu - Địa ngục".

II- Chiều hướng của sự ngộ nhận.

            Thật vậy, trên bình diện chủ thuyết, đạo Phật rất khác với Bà-la-môn giáo, nên cũng rất mới lạ đối với các học thuyết chính của truyền thống Tây phương. Khi dần dần khám phá giáo thuyết nhà Phật, Âu châu tự hỏi đây là một tôn giáo hay là một triết hệ. Cùng với những thắc mắc về đạo Phật - tôn giáo không có Thiên Chúa, con đường cứu rỗi không có sự sống vĩnh cửa, hạnh phúc không có cấu liệu, luật thiện tách khỏi mọi lời lẽ thần linh, luân lý không bám vào siêu nghiệm... -, óc tò mò của những nhà tư tưởng Âu châu thế kỷ 19 còn bị kích thích bởi một học thuyết từ lâu không được biết đến, chỉ mới được khám phá với những mảnh vụn được kết tập một cách lộn xộn. Họ nắm bắt đạo Phật bằng thị hiếu tưởng tượng hơn là bằng tinh thần khảo nghiệm khoa học. Và, ở mỗi bước của quá trình truy tìm nghiên cứu, những phát hiện mới lại dẫn tới những thắc mắc mới trên những nghịch luận về chủ đề đạo Phật. Từ những tưởng diễn theo thị hiếu đó, các bộ mặt chính của chủ nghĩa hư vô được xác lập và được tô điểm sửa sang từng bước.

            Một số lớn tư tưởng gia thời đó tin rằng thấy trong đạo Phật, như cách nói của họ, một hiểm họa không tên, và như một cái gì không thể có được : tinh thần con người không thể thực sự muốn sự đánh mất chính mình. Thế nhưng, giáo thuyết lớn và xưa này của cả Á châu là một thực tại : tương đương với niên hạng của văn minh Hy Lạp, với số tín đồ còn nhiều hơn tín đồ Kytô giáo. Nhưng họ không thể xếp đạo Phật vào một loại thần học nào cả, nên càng lôi cuốn bao nhiêu, đạo Phật càng làm người ta sợ bấy nhiêu. Và tất cả đều, hoặc ít hoặc nhiều, đã đồng hóa niết bàn với sự triệt tiêu tất cả, đã kết liền đạo Phật với chủ nghĩa bi quan, khô chết và tiêu cực, tất cả những gì của đạo Phật đều bị xem là chống lại trật tự "bình thường" của thế giới - Tây phương, Kytô giáo, sống động, xác định... -, là tôn giáo của hư vô, nghịch thường và ghê tởm. Sự khiếp sợ đối với đạo Phật, nơi hầu hết các triết gia Âu châu thế kỷ 19, tựa như sự khiếp sợ trước ma quái, một sợ hải yêu ma, một khủng bố quỉ ám hiện lộ đó đây, và có thể hủy hoại từ bên trong. Dấu vết của sự khiếp sợ còn lại rất nhiều trong những tác phẩm của các triết gia Đức - Hegel, Schopenhauer, Schelling, Nietzsche... -, và nơi các học giả Pháp - Cousin, Taine, Renan, Saint-Hilaire, Quinet, Comte,..., nhất là Renouvier.

            Dĩ nhiên, đó là ngộ nhận. Và Roger-Pol Droit đã vạch rõ lý lẽ của sự sai lạc đó, của ảo tượng đã ám ảnh Ău châu thế kỷ 19, cho thấy bằng cách nào, tại sao, bởi sức cám dỗ nào mà, khi nói về kẻ khác, phương xa, Á châu, Phật, người ta lại khiếp sợ trước, ở Âu châu, về những gì sẽ đến cho sự sống; đồng thời, cho thấy làm thế nào mà, trong khi những nhà ngữ học và Đông phương học, thời đó, cố gắng xác định ý nghĩa của từng câu trong các bản kinh, các tác phẩm thu thập được từ các cuộc viễn du và cố dựng lại từng bước lịch sử và những đặc điểm của đạo Phật, thì các triết gia lại tuyển chọn một số dữ kiện trong thuyết nhà Phật, do những nghiên cứu Đông phương học cung cấp, rồi dựng nên và phổ biến một hình ảnh ghê tởm quái gỡ của một "tôn giáo của hư vô". Một kiến thức mới có khi lại sinh ra một loạn tâm mới, như thỉnh thoảng một khoa học mới được sinh ra, đoạn tuyệt với một quá khứ, bổng nhiên trở nên mập mờ, khó hiểu và hăm dọa.

            Và với những trích dẫn cụ thể từ những ấn bản được phát hành giữa 1820 và 1890, tác giả cho thấy : với cái cớ là nói về Á châu, về Phật, về sự phản biện của Phật đối với giai hệ Bà-la-môn giáo truyền thống, về chỗ đứng của "trống không" và "vô thần luận" trong giáo thuyết nhà Phật, những nhà tư tưởng Âu châu đã nói về chính mình, về trật tự quyền lực cũ đang rung rinh sắp ngã, về sự kiện siêu thể học truyền thống đang vỡ vụn, về cái chết của Thiên Chúa; nói chung, về Âu châu của thế kỷ 19 - hậu Kant, hậu cách mạng, bị khuấy động bởi đủ thứ giác loạn -, hay về chủ nghĩa hư vô của chính mình.

            Sự thành hình của chủ nghĩa hư vô, trong tư tưởng triết học Tây phương, thật vậy, có quan hệ nhân quả, kiểu con gà với trứng gà, với sự chế định lại đạo Phật thành một thứ tôn giáo không thể lĩnh hội được. Ý tưởng cho rằng có một dạng hư vô nào đó của đạo Phật - bất luận đó là một tưởng tượng triết học hay một mê sảng bệnh hoạn - đã có thể ảnh hưởng làm thay đổi tinh thần người Âu châu, chính nó, là tàn dư của chủ nghĩa hư vô. Đúng hơn, trong bối cảnh của Âu châu thời đó, đã có đủ những yếu tố để kết tinh thành một tôn giáo của hư vô, sự khám phá đạo Phật, tự nó, không đem lại một xáo trộn thêm nào cả, nhưng nó xuất hiện như một chất xúc tác, theo nghĩa hóa học. Và "tôn giáo của hư vô", theo R-P. Droit, đã kéo dài đến thế kỷ 20, với các cuộc chiến và những sát hại chưa từng thấy; đến nay, nó vẫn chưa chấm dứt, mà còn vững mạnh hơn.

III- Ít nhất, có chủ nghĩa hư vô.

            Tất cả những suy tưởng Âu châu nói trên xoay quanh ba bộ mặt chính của chủ nghĩa hư vô. Theo nghĩa thứ nhất, có thể nói là siêu thể học, hay bản thể học, chủ nghĩa hư vô quan niệm :  sau cái nhìn hời hợt, giữa tính thể (être) và hư vô (néant), không có sự khác biệt nền tảng, chúng "tương đương" nhau và có thể thay thế lẫn nhau. Dẫn đến kết luận : 1/ chỉ có hư vô, sau những sáng loáng bề ngoài của thế giới hiện tượng; 2/ vượt khỏi những sự kiện đặc thù và giới hạn cho ta sự sống, chỉ có cái Tuyệt Đối, cái Tính Thể tinh thuần, vô giới hạn và không có những đặc tính xác định.

            Với nghĩa thứ hai, nó được hiểu như một khước từ tích cực chống lại sự sống, một tiếng "không" thốt ra trước tất cả mọi cố gắng lưu tồn sự hiện hữu, trước những gì giúp cho sự hiện hữu triển sinh và dẫn đến sự khao khát bám giữ nơi sự có mặt của nó. - đây, lựa chọn hướng về hư vô được xem là ưu đẳng : tốt hơn, sự sống nên tự phủ nhận, tự tắt, tự xóa, tự hủy và tự giải thể cho mãi mãi, vì sự sống không hề là hạnh phúc cũng không là an lạc bền lâu. Hiện hữu chỉ là một cạm bẩy giả hình của đau khổ; vậy, tìm cách chấm dứt nó rõ ràng là chánh đáng và thông minh. Chủ nghĩa hư vô bi quan này xem chủ nghĩa lạc quan là đối lập của nó, và xem sự thỏa thuận "vâng" với sự sống là đối nghịch với sự sáng suốt. Trong mắt những người theo chủ nghĩa bi quan, ước vọng mù quáng nơi hạnh phúc, và nơi sự trở đi lặp lại của nó, chỉ là ảo tưởng, nhưng là một ảo tưởng bền bĩ khó thoát. Chủ nghĩa hư vô này còn cho ra đời sự đối đầu giữa cái chân thật và cái giả tạm.

            Nghĩa cuối cùng lại loại trừ sự đối đầu này. - đây, nó không còn có nghĩa là sự chối sống, hay sự phủ nhận đối với tất cả những giá trị tích cực dính liền với thế giới. Không xác định là sự sống không giá trị gì cả, cũng không phải tất cả đều có giá trị; nhưng tất cả những gì không thuộc về hay độc lập với thế giới này, thuộc về một thế giới bên kia nào đó, hoặc sau cái chết, đều bị phủ nhận; và cả ý tưởng về chân lý cũng được xem là một thị hiếu hoang đường có hại. Trong hướng nhìn này, chủ nghĩa hư vô phủ nhận mọi phê phán, có ý đồ muốn áp đặt một qui luật đến từ bên ngoài, trên thực tại vừa oan nghiệt vừa ưu ái, và chống mọi ý định đối nghịch với trật tự được mến chuộng của thế giới đang là bằng một trật tự phải là nào đó.

            Ba bộ mặt chính này của chủ nghĩa hư vô được thấy rõ trong những bản văn miêu tả đạo Phật của tư tưởng Ău châu thế kỷ 19. Những tỏ bày ý tưởng về đạo Phật : tôn giáo của hư vô, hệ thống tư tưởng gớm ghiết, sự dấy loạn của hàng tiện dân, giấc ngủ mê nguy hiểm, sáng tạo của sự nhu nhược, sự mệt mõi chán sống..., được nêu ra rõ ràng và với sự nhấn mạnh; không phải được che đậy, hay lẫn lộn trong những ý tưởng khác, cũng không là những ý tưởng ẩn tàng nằm dưới những nội dung chính của diễn văn, nên không cần phải suy diễn hay phải kết cấu lại từ những yếu tố tản mác, những chỉ dấu mờ nhạt. Mà chỉ cần bước vào diễn trình của chúng, bỏ công theo dõi những chỗ quanh co và đọc kỹ những lối diễn tả ngữ pháp của câu, chứ không chỉ vừa ý với các từ vựng được góp nhặt nơi này chỗ nọ.

IV- Sự khám phá đạo Phật

            Chữ khám phá ở đây rất chính xác. Và tuy người Ău châu khám phá đạo Phật rất trể, nhưng là sự khám phá vô cùng lý thú. Thật vậy, khi trong đầu đã có một ý niệm về sự hiện hữu của đạo Phật, thì sự khám phá đạo Phật tương đối khá dễ. Một xác định thế nào là đạo Phật tự nhiên sẽ được khám phá, khi nêu ra các câu hỏi, kiểu như : Ai được gọi là Phật ? Phật có nghĩa là gì ? Phật sống khi nào ? Giáo thuyết của Phật ra sao ? Nó khác với giáo thuyết Bà-la-môn giáo thế nào ? Phật có phải là một Thiên Chúa không ? Có phải là một triết gia không ? Hay là một nhà luân lý ? Tại sao đệ tử của Phật sau này phải rời khỏi Ắn Độ ? Làm thế nào đạo Phật truyền bá khắp Á châu ? Vào thời nào ? Lịch sử ra sao ? Bị thay đổi như thế nào ? Đâu là các kinh điển gốc, các bình giải, bằng thứ tiếng gốc nào, các bản dịch ? Gồm các học phái nào, và họ không đồng ý nhau trên những điểm chính yếu nào ? Và nhiều câu hỏi khác. Bất luận những câu hỏi đó sẽ tìm được trả lời sớm hay muộn; có thể một số câu hỏi trong thời gian dài vẫn không có trả lời thỏa đáng; điều quan trọng là chúng được nêu ra để trả lời. Nhưng, người Âu châu đã nêu lên những câu hỏi như vậy, trong ý muốn tìm cách trả lời chúng một cách xác đáng nhất có thể được, từ lúc nào ?

            Suốt thời gian rất dài, người Âu châu không có một ý niệm nào cả về sự có mặt của "đạo Phật". Tri thức Âu châu, từ các học giả Hy Lạp cổ thời, đến những giáo sĩ dòng Tên và dòng Francisco cận đại, cả các quan cai trị người Anh và các nhà nghiên cứu thời Ánh Sáng, khi khảo sát và ghi chú nhiều đặc điểm về tâm tính và các đức tin của những sư sải hay của những du tăng khổ hạnh, tất cả, chỉ đề cập đến những nghi thức tín ngưỡng manh mún tản mác, sùng bái những thần tượng thương thích, của các giáo phái bí ẩn, và tất cả đều không lĩnh hội được một hợp nhất thể nào, có tính hệ thống, trong giáo thuyết và trong thực hành, để có thể gọi đó là một tôn giáo. Khi người Anh, người Hà Lan, người Pháp dần dần đến Ấn Độ vào thế kỷ 17 và 18, đã không gặp một đệ tử nào của Phật, mà chỉ thấy những đền thờ vắng vẻ điêu tàn. Vì, đạo Phật, được sinh ra tại Ấn Độ, đã phát triển và phổ biến ở đó ít nhất suốt từ thế kỷ thứ 5 trước Kytô đến thế kỷ 10, nhưng đã biến mất ở Ấn Độ từ khoảng thế kỷ 11 hay 12, bởi những lý do đến nay vẫn chưa có trả lời thỏa đáng.

             Những người Âu châu đầu tiên biết chữ Phạn có thể vào thẳng các bản văn nguyên gốc Bà-la-môn giáo; nhưng với Phật giáo, ngược lại, phải gây dựng lại từng bước, từ những dấu tích tản mác, manh mún, và những dữ kiện thu thập được một cách lủng củng, lộn xộn. Vì những bản kinh Phật giáo đã biến mất khỏi lãnh thổ Ấn Độ từ lâu; chỉ nơi các sườn núi Hi-mã, nhất là ở Nepal, còn giữ vài bản kinh Phật giáo viết bằng chữ Phạn; nhiều bản khác đã mất bản gốc, chỉ còn lại trong những bản dịch tiếng Tây Tạng hay tiếng Trung Hoa. Thêm nữa, suốt nhiều thế kỷ, đạo Phật đã trương ra khắp Á châu, không bao giờ đồng dạng và hợp nhất. Ngay trong hai nhánh chính, Đại Thừa và Tiểu Thừa, cũng đã hiện hữu từ rất sớm nhiều học phái và tông phái đối chấp nhau trong những diễn giải khác nhau về giáo thuyết Phật. Sự đa dạng này còn kết hợp với những tôn giáo, đức tin đã hiện hữu trước tại các vùng mà Phật giáo đã tuần tự bám rễ : Tiểu Thừa ở Tích Lan, ở Miến Điện, ở Ai Lao... không hoàn toàn giống nhau; cũng vậy, Đại Thừa ở Trung Quốc (từ khoảng thế kỷ thứ 1), ở Nhật Bản (thế kỷ thứ 6), ở Tây Tạng (thế kỷ thứ 8), ở Mông Cổ (thế kỷ 12), v.v...

            Mãi đến khoảng năm 1800, tri thức Âu châu về đạo Phật vẫn ở dạng, đầy phán xét cảm tính : hoặc là những đánh giá tổng quát về các nghi thức sùng bái Đấng Tạo Hóa, về sự hủ bại tôn giáo, về các nghi thức thờ mặt trời, mặt trăng, tinh tú, trời, đất, núi, sông, rừng, người và thú; hoặc là những đồng hóa các nghi thức bề ngoài của đạo Phật với những cái đã có trong văn minh Hy Lạp hay Kytô giáo. Phật được đồng hóa với thần Mercure (La Tinh), thần Hermès (Hy Lạp), thần Odinn (Bắc Âu), thần Thot (Ai Cập), thần Visnu (Ắn Độ) v.v... Từ vựng để chỉ Phật vẫn cứ tùy tác giả : Buddou, Bouddou, Bodh, Budh; liên hệ giữa những "Bút" đó với Xắc-Ca (Nhật Bản), với Sammonacodom (Thái Lan) hay với Fô (Trung Quốc) cũng chưa được thấy rõ. Nói chung, đạo Phật chưa thực sự hiện hữu trong tri thức châu Âu. Và khúc quanh trọng đại trong lịch sử người Tây phương khám phá đạo Phật được đánh dấu một cách đơn giản bởi sự ra đời của từ "Bouddhisme - buddhism - buddhismus", vào thập niên 1820.

            Sự vắng mặt của từ vựng tương ứng với sự vắng mặt của đối tượng; và chẳng ai lại nghĩ đến việc đặt ra một từ vựng mới cho một đối tượng hoàn toàn không được biết. Trước khi nhận được một tên gọi, "đạo Phật" chưa hiện hữu; và sự khai sinh ra nó đánh dấu sự thành hình một đối tượng của tri thức. Thật vậy, phải đến quanh thời điểm của năm 1820, mới có các nổ lực trí thức nhằm xác định thế nào là "đạo của Phật", xuất phát từ khả năng ngữ học của các nhà nghiên cứu Đông phương học : dù đã có một số người Âu châu đọc được chữ Phạn từ thập niên 1780, nhưng các bản văn Phật giáo bằng chữ Phạn chỉ được khám phá ở Népal, bởi Brian Houghton Hodgson, vào thập niên 1820; cùng thời này, chỉ có E. Burnouf và C. Lassen đọc được chữ Pâli, và những bản kinh Phật giáo tiếng Trung Quốc chỉ mới được nghiên cứu bởi JP. Abel-Rémusat; và sau đó ít lâu, chữ Tây Tạng được bắt đầu biết đến bởi một người Hung-ga-ri là Alexandre Csoma de Kởrởs. Một số nổ lực đầu tiên được đưa ra và đã chịu nhiều bàn cải. Nhưng, rất nhanh sau đó, tri thức Âu châu đã nhận biết được sự hiện hữu của một giáo thuyết đặc biệt, nằm giữa tôn giáo và triết học, có một tiêu đề và một lịch sử riêng. Đối tượng của tri thức đã có mặt, và tên gọi cho đối tượng này được đặt ra.

            Xin nêu vài dấu chỉ của sự chuyển biến đã diễn ra trong tri thức Âu châu, qua cách sử dụng từ. Tại Paris, 1817, M.J.F. Ozeray cho ra quyển Recherches sur Buddou ou Bouddou, Instituteur religieux de l'Asie orientale (nxb. Brunot-Labbé); đến 1827, B. Constant dùng "bouddhaisme", trong De la religion considérée dans sa source, ses formes et ses développements (Béchet-Aýné, 3 tập); Ẹ Burnouf và C. Lassen dùng từ "bouddhisme", năm 1826, trong Essai sur le Pali, ou Langue sacrée de la presqu'ýle au-delà du Gange (Dondey-Dupré - tiện đây, tự điển Robert ghi sai là từ "bouddhisme" xuất hiện trong tiếng Pháp từ năm 1830). — Londres, Sketch of buddhism (J.L. Cox), của BH. Hodgson, ra đời năm 1828; The History and Doctrine of Buddhism (R. Ackermann), của E. Upham, 1829. Trong tiếng Đức, Schopenhauer dùng "buddhaismus", từ 1819 cho đến giữa thế kỷ 19; và Hegel dùng từ "buddhismus", lần đầu, vào năm 1827.

V- Xử lý tư liệu.

            Ngắn gọn, trong sách này, R-P. Droit vẽ lại lịch sử của "tôn giáo của hư vô" đã ám ảnh tư tưởng Ău châu thế kỷ 19, song song với quá trình khám phá đạo Phật của những nhà nghiên cứu ngữ học và Đông phương học, vì thế việc sử dụng tư liệu đã rõ. Các khối tư liệu khác, hoặc xưa hoặc cùng thời, chỉ được ông sử dụng làm hậu cảnh, giúp làm nổi bật sự khó khăn và sự kiên trì của công trình khám phá đúng nghĩa. Vì, thật vậy, công việc xây dựng những kiến thức mới về đạo Phật luôn luôn bị những định kiến và những dư luận đó đây gây trở ngại; đôi khi bị bóp nghẹt trong một thời gian, nhưng cuối cùng nó vẫn luôn luôn trổi dậy.

            Trong số các nhóm tư liệu khác đó, đáng kể nhất là khối tư liệu đồ sộ của những nhà truyền giáo, nhất là của giáo sĩ dòng Tên, khi họ khám phá các quốc gia theo đạo Phật, từ giữa thế kỷ 16. Khối tư liệu này, nói chung, đều cho thấy một ngộ nhận : tất cả những tương tự bề ngoài, như những tu viện, những gát chuông, những qui định giờ giấc, những buổi đọc kinh và cầu nguyện với giọng đều buồn tẻ, lễ cạo đầu, cuộc sống thanh đạm v.v... đều được suy diễn như sắc thái tín ngưỡng Kytô giáo ẩn tàng. Dẫn tới xác tín : có những người anh em mất dấu, cô lập ở tận miền viễn Đông xa xôi, đã một mực cố gắng giữ đạo và lưu truyền những nghi lễ nhận được đã lâu từ một tiên tri Kytô giáo nào đó, nhưng vì đã trải qua nhiều thế kỷ, nên các văn bản và biểu tượng bị sai lạc xuống cấp, chỉ cần làm sáng tỏ lại bằng cách dẹp bỏ sự hôn mê mất trí.

            Hướng định này đã khích lệ các đoàn truyền giáo lớn, giúp họ vượt qua các đại dương và bao ngọn núi của dãy Hy-mã. Thế nhưng, có hai giả luận cùng có mặt, sinh ra những chấp vấn, do dự và bất quyết, tùy theo cách nhìn thân thiện hay xa cách : 1/ hoặc cho rằng những "Phật tử" đó là những Kytô hữu biến chất, hư hỏng, bị bỏ quên và vì thế dần dần quên bẳng đi bản sắc tín ngưỡng của mình; 2/ hoặc cho đó là những kẻ ngoại đạo, từ một hôm nào đó, đã vay mượn, với ý đồ giả mạo và không hiểu gì cả, những động tác và những biểu tượng của đức tin Kytô giáo mà họ không hề chia xẻ. Trong trường hợp sau, họ không còn là những người anh em mất dấu nữa, nhưng rõ ràng là những người anh em giả dạng, những kẻ lừa bịp, hay những đạo tặc.

            Thử đọc điều mà thánh Franc,ois-Xavier gởi cho thánh Ignace de Loyola (cha đẻ và là tổng quản đầu tiên của dòng Tên), từ Nhật Bản vào năm 1552. Các bức thư trứ danh này được viết bằng một sự hung bạo hiếm có. Trong đó, các sư Phật giáo quả thật bị sỉ nhục bằng những từ vựng hết sức hiểm độc : “[...] nếu cao vọng điên rồ và ngạo mạn của chúng bị vạch trần, nền tảng chủ chốt cho sự thắng lợi của chúng sẽ không còn tồn tại. Nếu tội phạm nhục nhã của chúng, nếu những luông tuồng gớm ghiếc mà trong mắt chúng chỉ là điều khinh khoái, như thể một danh hiệu hiển vinh, bị bêu diểu bởi sự bài xích đúng đắn và sống động, ta sẽ thấy chúng, những con heo rừng hăng tiết đó, tự cảm thấy như bị đâm bằng mác vào nơi ô uế [vào đít] của chúng, tự xông lên với sự cuồng nộ và xé nát những kẻ đã bày biện trước họ những chuổi hạt tròn” (theo bản Pháp ngữ, của Léon Paques, Lettres de saint Franậois-Xavier de la Compagnie de Jésus, apôtre des Indes et du Japon, Paris, 1855, t. 2, tr. 209). Cả hai giả luận đều có chung một tiền kiến sai lạc về Phật giáo và đều là những phán xét cảm tính quả đoán; tranh luận này kéo mãi đến giữa thế kỷ 19, dưới nhiều hình thức.

            Ngoài ra, còn nhiều sưu tập khác được ấn hành ở đại học Louvain (Bỉ), ở Anvers (Bỉ), ở Amsterdam (Hà Lan), trong đó De christiana expeditione apud Sinas (Anvers, 1615), của giám mục Nicolas Trigaut, được dịch ra nhiều thứ tiếng và được phổ biến khắp Ău châu. Nhưng, nói chung, tất cả đều tìm những viện dẫn để phán xét và để cải đạo, nhằm biện hộ trước Giáo Quyền Vatican và dư luận Ău châu cho việc theo đuổi công cuộc viễn chinh truyền giáo đại qui mô và nhiều tốn kém, nên tương đối khá nghèo dữ kiện bổ ích cho việc khám phá thực sự về đạo Phật. Nội dung chính xác của các chủ thuyết Phật giáo, những bản kinh nền tảng hay những tiến hóa về sau của chúng, không được các tác giả này lưu ý nghiên cứu nghiêm chỉnh, nên cũng không thuộc vào lịch sử khám phá thực sự đạo Phật của người Tây phương.

VI- Phần thư mục.

            Sau phần luận đề rất thuyết phục, sách còn có hơn 100 trang là thư mục chi tiết (ghi rõ số chương và số trang) của 1345 tựa sách viết về hay có đề cập đến đạo Phật, bằng các ngôn ngữ Âu châu, xếp theo niên đại, từ năm 1638 đến 1890. Kèm với thư mục của 23 tác phẩm triết học của Âu châu, hậu bán thế kỷ 19, có đề cập đến Phật giáo; và với 50 tựa sách viết về Phật giáo ở thời hiện đại.

            Tại sao có một thư mục chi tiết như vậy ? Theo R-P. Droit, là để : 1. phục vụ công việc nghiên cứu thời nay; và 2. góp phần tưởng niệm GS. Shinsho Hanayama, người đã sống với ước nguyện làm thống kê tất cả các sách có nghiên cứu về đạo Phật. Ước nguyện này thấy trước là sẽ thất bại, vì ngay cả có được sự cộng tác của các thư viện trên toàn thế giới cũng vẫn là việc rất khó khăn - các thư viện xếp loại sách theo luận đề nên phải đọc mới biết có chương nào, đoạn nào đề cập đến đạo Phật. Thế nhưng, với cả một đời làm việc, GS. Hanayama đã thực hiện được một công trình vĩ đại. Và thư mục đồ sộ này - Bibliography on Buddhism (nxb. The Hokuseido Press), 870 trang, 15.073 tựa, trình bày theo mẫu tự, rất giàu thông tin, đầy đủ và chính xác nhất đến nay chưa từng thấy, được những học trò và bạn hữu của Hanayama cho xuất bản, năm 1961 ở Tokyo, để tưởng niệm người quá cố. Tiếc thay, nó vẫn rất ít được biết đến, cả trong giới chuyên môn !

            Trân trọng giới thiệu quyển sách giá trị và nhiều bổ ích này./. Đỗ Thuận Khiêm - Paris, 4.1997.

Chú thích: Chúng tôi xin dịch chữ 'culte' là 'tôn giáo'. Thật vậy, vì không hiểu rõ thế nào là một religion, nên người trước đã dùng từ 'tôn giáo', vốn đã có từ rất lâu trong tiếng Việt và gần nghĩa với chữ 'culte' hơn, để dịch cách sai lầm chữ 'religion' (culte bao gồm religion - cặp 'LE culte\LA culture' có quan hệ nội tại tựa như cặp 'LE concept\LA conception'). Cách dịch sai lầm này làm cho người Việt hiểu khác nhau về chữ 'tôn giáo' của mình; dẫn tới tình trạng nhiều người Việt Nam đã hành động một cách tràn lan và máy móc quanh các vấn đề : "tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân" và "tự do tôn giáo", như mọi người đều biết; hoặc như, trưới kia, chính quyền Ngô Đình Diệm không xem Phật giáo là một tôn giáo (Đạo Dụ số 10), đã đẩy Phật giáo Việt Nam đến chỗ phải đấu tranh chống lại điều đó.

Ngày nay, khi tiếp cận với nhận định đúng đắn của người Tây phương : Phật giáo không phải là một religion, nhưng thay vì điều chỉnh cách dịch sai lầm nêu trên, lại ngày càng thấy phổ biến, trên các bài viết tiếng Việt, quan điểm : Phật giáo không phải là tôn giáo. Sự kiện này, một cách vô tình hay hữu ý, đưa đến hai hậu quả trước mắt : 1/ đào sâu thêm sự cách biệt đã quá trầm trọng giữa cách hiểu tiếng Việt của đại đa số người Việt, một bên, và của thiểu số người bị ảnh hưởng Tây học, bên khác; 2/ tiếp tay cho chiến lược 'xâm nhập văn hóa'; cũng là thừa nhận việc các religions độc chiếm lãnh vực tôn giáo (tại Việt Nam).

Cách đúng nhất là phải trả lại cho từ 'tôn giáo' của tiếng Việt ý nghĩa của nó, theo cách hiểu của đa số, và chúng tôi tiếp tục xác định : Phật giáo, Không giáo, Lão giáo, cũng như Đạo Gia Tiên là các tôn giáo; và cố tìm từ vựng khác để dịch chữ religion. Hiện nay, người Âu-Mỹ có rất nhiều cách hiểu khác nhau về chữ religion của họ, nhưng theo phần lớn và theo từ nguyên học : một religion phải có niềm tin nơi một Đấng Sáng Thế, hay một Nguyên Nhân Khởi Đầu của Sự Sống, dù với những tên gọi khác nhau, như : Dieu, God, Jahvé, Allah... - đều có nghĩa tương đương với chữ 'Thiên Chúa' đã có trong tiếng Việt (Thượng đế và Thiên đế, không có nghĩa Đấng Sáng Thế). Vì vậy, chúng tôi dùng 'Thiên Chúa giáo' để dịch chữ religion, tức là bao gồm cả Hồi giáo, Do-thái giáo...

Trong khi chúng tôi dùng cách phiên âm, từ chữ Christo, chuyển chữ Christianisme thành 'Kytô giáo', để chỉ tất cả các tôn giáo đặt niềm tin nơi đấng Giêsu-Kytô, tức là gồm cả Phản Thệ giáo (Protestant) và Chính Thống giáo (Orthodoxe). Cũng bằng cách phiên âm, chúng tôi chuyển chữ Catholique thành 'Catô giáo', thay vì đọc là 'Gia tô giáo' theo cách phiên âm của người Trung Hoa (người Hoa không đọc được các vần 'kờ', 'rờ'...). Và chuyển Catholique romaine thành Catô giáo Rôma (không đọc là La mã như người Trung Hoa) để chỉ bộ phận của Thiên Chúa giáo và của Ky-tô giáo trực thuộc Giáo quyền Vatican (Rôma), khác với Catholique calvinisme do Calvin sáng lập.

Mark_03.gif (833 bytes)Về trang nghiên cứu & đối thoại tháng 7-2003 

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........