Cứu trợ nhân đạo ?
Hà Giang
Ngày xưa, người Việt Nam thường
hay bảo nhau rằng thực dân Pháp vào Việt Nam bằng quyển Kinh thánh đi
trước và cây súng theo sau. Nhưng ngày
nay, hình như cái thứ tự này đã được sửa đổi ngược lại: súng đạn
đi trước, rồi mới đến quyển Thánh kinh theo sau. Điển hình nhất cho qui luật mới này là
sự dính dáng của một số nhóm cứu trợ Ki-tô giáo trong các công tác “cứu
trợ” và truyền đạo ở các nước trong khối xã hội chủ nghĩa trước
đây, kể cả Nga, và một số nước dưới sự xâm chiếm của Mỹ.
Có thể lấy tình hình ở Iraq để minh họa cho sách lược họng súng
– quyển Thánh kinh trên. Một trong
những hình ảnh người ta thường hay thấy trong thời hậu chiến Iraq là sự
có mặt của các tổ chức cứu trợ (humanitarian aid agencies) thuộc các nước
Tây phương, mà chủ yếu là các tổ chức huộc các giáo hội Phản thệ
giáo (protestantism, hay còn gọi là Tin Lành) của Mỹ ở Iraq. Họ có mặt ở Iraq, trên danh nghĩa chính
thức, để cung cấp quần áo, thuốc men, thực phẩm, v.v… cho người dân
Iraq sau nhiều năm khốn khổ vì chiến tranh và chế độ bạo ngược của
Saddam Hussein. Nhưng gần đây, giới
trí thức Tây phương bắt đầu đặt vấn đề về sự có mặt của các tổ
chức này, vì qua hành động thực tế của họ, người ta cảm thấy tàng
ẩn đằng sau cái lí do “cứu trợ nhân đạo” đó là một mục tiêu
tuyên truyền nhằm thu phục thêm tín đồ hay cải đạo. Nói một cách thẳng thừng hơn, những tổ
chức tôn giáo này nhìn Iraq như là một mặt trận mới trong cuộc thánh
chiến lâu dài, và chiến tranh là một cơ hội để họ cải hóa người Hồi
giáo thành người Ki-tô giáo.
Trong hàng chục nhóm “cứu trợ nhân đạo” này, người ta đặc biệt
chú ý đến nhóm Samaritan’s Purse do Franklin Graham cầm đầu. Franklin Graham là một nhà truyền giáo
(qua hệ thống ti-vi) nổi tiếng ở Mỹ, và là cố vấn tinh thần cho Tổng
thống George W. Bush. Chính Franklin
Graham là người đứng ra chủ trì buổi lễ cầu nguyện nhân dịp ông Bush
nhậm chức tổng thống. Franklin
Graham là con trai của Billy Graham, cũng là một nhà truyền giáo nổi tiếng
và cũng là một cố vấn tinh thần cho Tổng thống Bush cha. Người ta chú ý đến Samaritan’s Purse và
Franklin Graham là vì ông này ăn nói rất thẳng thắn và xúc phạm đến
người Hồi giáo. Sau ngày 11 tháng 9
năm 2001, Franklin Graham tuyên bố trước công chúng Mỹ rằng: “Chúng ta
đâu có tấn công Hồi giáo, nhưng Hồi giáo tấn công chúng ta. Thượng đế của Hồi giáo khác với Thượng
đế của chúng ta. Ông ấy không phải
là con của Đức chúa cha. Tôi tin rằng
Hồi giáo là một tôn giáo rất đồi bại và xấu xa. Tôi không tin Hồi giáo là một tôn giáo
hòa bình. Khi đọc kinh Koran, chúng ta
thấy toàn những đoạn văn chỉ thị cho người Hồi giáo tàn sát người
ngoại đạo.” Lời phát biểu
này làm cho nhiều người rất tức giận. Nhưng
khi được đài NBC hỏi lại một lần nữa để ông có cơ hội đính
chính, Franklin Graham chẳng những không đính chính mà còn chỉ thẳng rằng
những người chủ mưu và thực thi cuộc tấn công vào New York hôm 11/9/2001
là những người Hồi giáo.
Trong trang nhà của nhóm Samaritan’s Purse, họ tuyên bố một cách
không úp mở rằng: “Sứ mệnh của chúng ta là nhân danh Thượng đế,
niềm hi vọng thực sự cho nhân loại, giúp đỡ những ai đang trong cảnh
đọa đày. Thực phẩm, thuốc men, nước
uống, và nông phẩm. Kinh thánh và
tài liệu Kitô giáo. Bằng cách dấn
thân vào những vùng bị ảnh hưởng và làm việc cùng với các tổ chức
Kitô giáo khác, chúng ta xây dựng mối quan hệ với địa phương và có cơ
hội chia sẻ Phúc âm của Jesus Christ.”
Với tôn chỉ đó, Graham không dấu diếm gì ý đồ của công cuộc
“cứu trợ nhân đạo” của nhóm ông: đi kèm với những thùng thực phẩm
và thuốc men là những quyển kinh thánh viết bằng tiếng Ả Rập. Graham cho rằng người Iraq, sau nhiều năm
kinh qua chiến tranh và thống khổ, họ cần phải được cứu rỗi tinh thần.
Nhưng người Iraq tiếp nhận những giúp đỡ này ra sao? Trong một chương trình phát hình trên đài
truyền hình Al-Jazeera, một cụ già ở thành phố Al-Nasiriya giận dữ nói
trong nước mắt: “Chúng tôi không cần nước uống của các ông; chúng
tôi không cần thực phẩm của các ông. Chúng
tôi muốn lính Mỹ phải có thái độ tôn trọng phẩm giá của người
Iraq. Trời ơi! Họ bắt buộc phụ nữ chúng tôi phải cởi
quần áo cho họ khám xét.” Một tờ
báo Ả Rập khác nhận xét: “Chiến dịch cứu trợ hiện nay không phải
là một nỗ lực chân thật nhằm xoa dịu nỗi đau khổ của người dân
hay ngăn ngừa một thảm họa xã hội. Nó
chẳng có gì khác hơn là một công cụ tuyên truyền được dàn dựng để
tạo điều kiện cho Tây phương thực thi một số mục tiêu riêng biệt
trong cuộc Thập tự chinh chống lại Hồi giáo” (nguyên văn: “The
current aid campaign is not a genuine effort to alleviate human suffering and prevent a
humanitarian disaster. It is nothing short of
a propaganda tool which has been orchestrated to facilitate specific Western policy
objectives in the Crusader war against the Islamic Ummah.”)
Đối với các tổ chức Ki-tô giáo, lợi dụng tình huống khốn khổ
để truyền đạo núp dưới chiêu bài “cứu trợ nhân đạo” không phải
là một chiến lược mới; đó là một kế sách mang tính cổ điển mà họ
đã từng thực thi ở Á châu nói chung, và Việt Nam nói riêng hơn 100 năm về
trước. Tình trạng xáo trộn chính trị
và nạn đói vào đầu thế kỉ 20 ở Việt Nam, nhất là ở các tỉnh như
Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, v.v... được giới truyền giáo Tây phương xem
như là một cơ hội lí tưởng để bành trướng đạo Ki-tô.
Nhiều văn thư trao đổi giữa các giáo sĩ, và giữa các quan chức
Pháp thời đó cho thấy rõ ràng chiến lược lợi dụng sự nghèo khổ của
người Việt Nam để truyền đạo. Chẳng
hạn như một một thư của Đức cha Marcou, giám mục địa phận Miền biển
Đàng ngoài gửi cho “Bề trên” (đề ngày 14 tháng Chín năm 1902), viết
[trích đoạn]: “Hiện tại phương pháp hoạt động tông đồ tốt nhất
có lẽ là tăng gấp bội hoạt động từ thiện và giúp đỡ về vật chất
càng nhiều càng tốt.” Một thư
khác đề ngày 8 tháng Tư năm 1899 của một nhóm gồm 17 người xin phép bỏ
đạo Công giáo để trở lại với Phật giáo viết [trích đoạn]: “Chúng
tôi trước đây là tín đồ Phật giáo. Vào
năm 1886, người ta nói chúng tôi được tự do làm người Phật giáo hoặc
Công giáo. Hơn nữa, vị cha xứ người
địa phương bảo chúng tôi rằng nếu chúng tôi đón nhận Công giáo,
chúng tôi sẽ được miễn sưu thuế mà người Phật giáo phải đóng. Đó là lí do chúng tôi rửa tội theo
Công giáo” [1].
Sách lược truyền đạo này còn được thực thi trong chế độ đệ
nhất và đệ nhị cộng hòa ở Việt Nam. Trong
các làng quê, giới truyền đạo thường đi từng nhà phân phát bánh mì
(thời đó bánh mì là một thực phẩm xa xỉ đối với người dân trong
quê) và nhân dịp kêu gọi bà con đi nhà thờ sinh hoạt hay xa hơn chút nữa
là “rửa tội”. Do đó, người dân
trong làng quê thời đó có câu “Theo đạo có gạo mà ăn” mà hầu như một
người lớn tuổi nào cũng nghe qua.
Ở thị xã hay thị trấn thì hình thức có khác đôi chút. Thay vì dùng bánh mì và gạo, giới truyền
đạo, nhất là giới Phản thệ giáo (Tin lành), dùng những lớp dạy nhạc
hay dạy ngoại ngữ miễn phí để thu hút thanh thiếu niên ham học, và một
khi đã thu hút được những người trẻ này, họ tiến thêm một bước là
tham gia sinh hoạt trong nhà thờ, và ... rửa tội.
Đọc đến đây chắc có người sẽ nói: “Thế thì đã sao? Họ có lòng về cứu trợ, giúp đỡ đồng
bào là quí rồi. Có gì sai quấy đâu?” Nhưng xét cho cùng, có lẽ đây là một
suy nghĩ hơi ngây thơ. Lợi dụng tình
huống khốn khổ để truyền đạo núp dưới chiêu bài “cứu trợ nhân
đạo” là một điều phi đạo đức, bởi vì hành động này không những
đi ngược lại với lí tưởng của cứu trợ nhân đạo, mà còn là một
hình thức ép buộc tinh thần để người nhận quà phải công nhận hay
vâng theo niềm tin của người cho quà. Đó
là một mánh khóe xâm lấn tín ngưỡng. Hay
nói cách khác, đó là một sự cưỡng bức niềm tin.
Ngày nay, mỗi khi có bão lụt
ở trong nước là mỗi cơ hội để giới truyền đạo phô trương lòng
nhân từ của mình. Một số nhóm “theo
đóm ăn tàn” khác nữa là nhân danh các hội đoàn Việt kiều. Họ về Việt Nam, mướn xe đi đây đi đó
phát tiền, cấp quà, và quan trọng hơn hết là tìm cách chụp cho được vài
tấm ảnh, quay cho được vài cuộn phim video, mà trong đó tấm biểu ngữ
đề cơ quan của họ luôn luôn được phô trương một cách nổi bật. Do đó, trong thực tế, “cứu trợ” trở
thành một photo-op, một cơ hội để đóng kịch; và bão lụt được biến
thành một cơ hội để quảng bá tên tuổi của Chúa, danh xưng của hội nọ
đoàn kia. Những cảnh ghi nhận về đồng
bào càng khốn khổ chừng nào càng có hiệu quả chừng nấy. Thời đại của ống kính và hình ảnh. Ống kính và hình ảnh là một phương tiện
để đề cao đạo đức và tranh thủ yểm trợ của quần chúng. Những người này hiểu được sức mạnh
của hình ảnh, nên họ không ngần ngại biến những tai họa thiên nhiên
trong nước thành những màn tuyên truyền rẻ tiền mà ai có chút lương tâm
đều phải thấy ngượng. Rồi đến
khi xong việc, họ về lại Mỹ, Âu châu, Úc … và bi bô khoe công cán. Tất nhiên, họ không quên mỉa mai về
cái nghèo của Việt Nam và kèm theo câu thần chú đại khái như “Việt Cộng
không biết thương dân”.
Những dạng “cứu trợ” như thế không nhằm đáp ứng nhu cầu cấp
bách của người dân trong tình huống hiểm nghèo, mà đó là một sự mua
chuộc, hối lộ tinh thần. Khi thò tay
cho quà, người cho quà, tự trong tiềm thức, muốn người nhận phải đồng
cảm với niềm tin tôn giáo của họ để nhận quà; và khi một em bé nhận
quà, em có ấn tượng rằng có người
lo lắng, chăm sóc cho mình, và mình mang ơn họ, phải làm một cái gì để
trả ơn, như cải đạo chẳng hạn. Món
quà khiêm tốn đó sẽ chẳng làm cải thiện tình trạng nghèo khó của em,
sẽ không làm thay đổi cuộc đời của em, nhưng nó làm cho người nhận
quà và ngay cả người cho quà cảm thấy mình là kẻ “nhân từ”, “bác
ái”, là những người cấp cao, giỏi hơn, lớn hơn, và tốt hơn [2].
Cái tâm lí kẻ cả này dẫn đến ảnh hưởng chính trị. Trong những năm đầu thế kỉ 20, giới
truyền đạo người Pháp tự ý đến chiếm đất, xây nhà ở những làng
xã của người Mường ở Thanh Hóa. Các
thủ lĩnh người Mường hay phàn nàn rằng hành xử của các giáo sĩ đã tạo
nên tình trạng xáo trộn sâu xa cho làng xã của họ. Và điều này cũng được ghi nhận trong một
lá thư của ông Moulié (Công sứ tại Thanh Hóa) gửi cho ông Auvergne (Khâm sứ
An-nam), trong đó có đoạn viết: “Lịch sử trong những năm vừa qua, đã
chứng tỏ rằng nỗ lực của các thừa sai tại xứ Mường thường dẫn
đến những rối ren thật đẫm máu, mỗi khi sự lạm dụng của các thầy
giảng trở nên quá mức” [1].
Mấy năm gần đây, tình trạng trên xem ra vẫn còn tiếp diễn ở Việt
Nam. Chúng ta thường nghe đến những
nhà truyền giáo thuộc nhóm Phản thệ giáo Mỹ lặn lội lên các vùng Cao
nguyên miền Trung và Bắc Việt Nam để thực hiện những chuyến “cứu trợ
nhân đạo.” Nhưng trong thực tế,
ngoài việc cho quà cáp, họ còn tìm cách cải đạo, và hứa hẹn thành lập
một vương quốc Chúa trong nước Việt Nam dưới sự bảo trợ của Mỹ. Nếu chính quyền Việt Nam phản đối việc
làm của họ, họ liền tri hô khẩu hiệu “nhân quyền” và “tự do
tính ngưỡng” làm như họ là nạn nhân, thay vì là những kẻ gây rối loạn
cho cộng đồng. Tiếng nói của họ
được các thế lực Tây phương Ki-tô giáo, đặc biệt là Mỹ, chú ý. Từ chú ý sang can thiệp. Không ai ngạc nhiên khi thấy vài năm gần
đây, chính phủ Mỹ dùng cái cớ “nhân quyền” và “tự do tín ngưỡng”
để can thiệp vào nội bộ Việt Nam. Cứu
trợ và truyền đạo, do đó, trở thành một diễn biến chính trị cũng
như kinh tế và xã hội. Nói cho đúng
hơn, nó là một sách lược của giới Tây phương muốn chi phối đến hệ
thống chính trị và xã hội các nước nghèo như Việt Nam.
Điều đáng nói là sự can thiệp của ngoại bang dựa trên những
nhãn hiệu như thế lại có khi được sự tiếp tay của một số người
Việt ở hải ngoại. Những người Việt
này không ngần ngại bỏ công chầu chực ngoài những hành lang quyền lực,
và kì kèo vận động các thế lực chính trị Mỹ để những người ngoại
quốc tiếp tục can thiệp, gây khó khăn cho Việt Nam. Những người Việt này, lòng nhiệt thành
cộng với tâm lí nô lệ ngoại bang đã biến họ thành những người mà
tôi tạm gọi là “Việt gian lí tưởng”.
Tính từ “lí tưởng” ở đây thích hợp, bởi vì chống Việt Nam
và phò ngoại bang là một lí tưởng sống của họ. Phò ngoại bang để trả ơn Mỹ, Úc, Tây,
v.v... có công nuôi nấng họ (hay ơn cứu rỗi), và vì thế không ai ngạc
nhiên khi thấy những người Việt này có thái độ “bảo hoàng hơn vua”,
sẵn sàng bỏ mạng cho và vì người chủ mới.
Đối với người chủ mới, họ cũng là những đạo quân lí tưởng,
bởi vì họ được sinh đẻ và lớn lên ở Việt Nam, , họ nắm được tâm
lí, họ biết được đường đi nước bước của đồng bào Việt, và có
thể đóng vai những người phản bội dân tộc hết sức xuất sắc. Những người này, một khi được trưng dụng
đóng vai những người đi “cứu trợ nhân đạo”, có thể còn nguy hiểm
hơn cả những nhóm giáo sĩ Tây phương.
Nói tóm lại, dù cái móc xích là “Gây chiến → truyền giáo → diễn
biến chính trị”, hay “Truyền giáo → gây chiến → diễn biến chính trị”,
mục tiêu tối thượng của những nhóm núp dưới danh nghĩa “cứu trợ nhân
đạo” có một mẫu số chung: Khuynh đảo chính trị. Cố nhiên, không phải tất cả các nhóm cứu
trợ đều hành động vì mục tiêu chính trị; trong thực tế, cũng có một
số ít cứu trợ thực sự vì lí do nhân đạo.
Để tránh khỏi những nhập nhằng giữa người thật và kẻ giả,
có lẽ đã đến lúc cộng đồng người Việt hải ngoại nên có một tổ
chức cứu trợ thực sự nhằm mục tiêu xoa dịu nỗi khổ của đồng bào,
thay vì phục vụ cho quyền lợi của ngoại bang.
Chú thích:
[1]
Có thể xem các thư từ này trong cuốn “French Catholic Missionaries and
the Politics of Imperislaim in Vietnam 1857-1914” (“Thừa sai công giáo Pháp
và các chính sách của đế quốc tại Việt Nam 1857 – 1914”) của
Patrick J. N. Tuck, Nhà xuất bản Liverpool University Press, 1987.
[2]
Chính cái cảm giác nhân từ, bác ái, và lòng tự mãn tài cao đức
trọng này là một trong những động cơ làm cho nhiều tổ chức Kitô giáo
của người Việt ở hải ngoại đua nhau về cứu trợ đồng hương mỗi
khi có dịp. Có một nhóm y sĩ gốc Việt
trong một nhóm chống Cộng có tiếng ở nước ngoài hiện đang lăm le về
Việt Nam để tiến hành những công tác “thiện nguyện” như phẫu thuật
mổ mắt. Khi được hỏi mục đích
thực sự, thì họ trả lời rằng họ muốn chứng tỏ rằng họ có trình
độ chuyên môn cao hơn “đám bác sĩ cộng sản” trong nước. Nói một cách khác, cái mục tiêu thực sự
của họ không phải là đi làm từ thiện, mà là muốn khoe khả năng, một
chuyện cực kì trẻ con. (Thực ra,
ngay cả điều này cũng là một điều rất khôi hài, bởi vì 99% những y sĩ
này chưa bao giờ cầm con dao trong phòng giải phẫu ở các bệnh viện Mỹ
hay Úc.)
Về
trang Nghiên cứu & đối thoại tháng 7-2003
Home | Top Page | Về trang mục lục