curley_sw_03.gif (1967 bytes)   Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .


Cứu trợ nhân đạo ?

Hà Giang

          Ngày xưa, người Việt Nam thường hay bảo nhau rằng thực dân Pháp vào Việt Nam bằng quyển Kinh thánh đi trước và cây súng theo sau.  Nhưng ngày nay, hình như cái thứ tự này đã được sửa đổi ngược lại: súng đạn đi trước, rồi mới đến quyển Thánh kinh theo sau.  Điển hình nhất cho qui luật mới này là sự dính dáng của một số nhóm cứu trợ Ki-tô giáo trong các công tác “cứu trợ” và truyền đạo ở các nước trong khối xã hội chủ nghĩa trước đây, kể cả Nga, và một số nước dưới sự xâm chiếm của Mỹ.

          Có thể lấy tình hình ở Iraq để minh họa cho sách lược họng súng – quyển Thánh kinh trên.  Một trong những hình ảnh người ta thường hay thấy trong thời hậu chiến Iraq là sự có mặt của các tổ chức cứu trợ (humanitarian aid agencies) thuộc các nước Tây phương, mà chủ yếu là các tổ chức huộc các giáo hội Phản thệ giáo (protestantism, hay còn gọi là Tin Lành) của Mỹ ở Iraq.  Họ có mặt ở Iraq, trên danh nghĩa chính thức, để cung cấp quần áo, thuốc men, thực phẩm, v.v… cho người dân Iraq sau nhiều năm khốn khổ vì chiến tranh và chế độ bạo ngược của Saddam Hussein.   Nhưng gần đây, giới trí thức Tây phương bắt đầu đặt vấn đề về sự có mặt của các tổ chức này, vì qua hành động thực tế của họ, người ta cảm thấy tàng ẩn đằng sau cái lí do “cứu trợ nhân đạo” đó là một mục tiêu tuyên truyền nhằm thu phục thêm tín đồ hay cải đạo.  Nói một cách thẳng thừng hơn, những tổ chức tôn giáo này nhìn Iraq như là một mặt trận mới trong cuộc thánh chiến lâu dài, và chiến tranh là một cơ hội để họ cải hóa người Hồi giáo thành người Ki-tô giáo.

            Trong hàng chục nhóm “cứu trợ nhân đạo” này, người ta đặc biệt chú ý đến nhóm Samaritan’s Purse do Franklin Graham cầm đầu.   Franklin Graham là một nhà truyền giáo (qua hệ thống ti-vi) nổi tiếng ở Mỹ, và là cố vấn tinh thần cho Tổng thống George W. Bush.  Chính Franklin Graham là người đứng ra chủ trì buổi lễ cầu nguyện nhân dịp ông Bush nhậm chức tổng thống.   Franklin Graham là con trai của Billy Graham, cũng là một nhà truyền giáo nổi tiếng và cũng là một cố vấn tinh thần cho Tổng thống Bush cha.  Người ta chú ý đến Samaritan’s Purse và Franklin Graham là vì ông này ăn nói rất thẳng thắn và xúc phạm đến người Hồi giáo.  Sau ngày 11 tháng 9 năm 2001, Franklin Graham tuyên bố trước công chúng Mỹ rằng: “Chúng ta đâu có tấn công Hồi giáo, nhưng Hồi giáo tấn công chúng ta.  Thượng đế của Hồi giáo khác với Thượng đế của chúng ta.  Ông ấy không phải là con của Đức chúa cha.  Tôi tin rằng Hồi giáo là một tôn giáo rất đồi bại và xấu xa.  Tôi không tin Hồi giáo là một tôn giáo hòa bình.   Khi đọc kinh Koran, chúng ta thấy toàn những đoạn văn chỉ thị cho người Hồi giáo tàn sát người ngoại đạo.  Lời phát biểu này làm cho nhiều người rất tức giận.  Nhưng khi được đài NBC hỏi lại một lần nữa để ông có cơ hội đính chính, Franklin Graham chẳng những không đính chính mà còn chỉ thẳng rằng những người chủ mưu và thực thi cuộc tấn công vào New York hôm 11/9/2001 là những người Hồi giáo.

            Trong trang nhà của nhóm Samaritan’s Purse, họ tuyên bố một cách không úp mở rằng: “Sứ mệnh của chúng ta là nhân danh Thượng đế, niềm hi vọng thực sự cho nhân loại, giúp đỡ những ai đang trong cảnh đọa đày.  Thực phẩm, thuốc men, nước uống, và nông phẩm.  Kinh thánh và tài liệu Kitô giáo.  Bằng cách dấn thân vào những vùng bị ảnh hưởng và làm việc cùng với các tổ chức Kitô giáo khác, chúng ta xây dựng mối quan hệ với địa phương và có cơ hội chia sẻ Phúc âm của Jesus Christ.  Với tôn chỉ đó, Graham không dấu diếm gì ý đồ của công cuộc “cứu trợ nhân đạo” của nhóm ông: đi kèm với những thùng thực phẩm và thuốc men là những quyển kinh thánh viết bằng tiếng Ả Rập.   Graham cho rằng người Iraq, sau nhiều năm kinh qua chiến tranh và thống khổ, họ cần phải được cứu rỗi tinh thần. 

            Nhưng người Iraq tiếp nhận những giúp đỡ này ra sao?  Trong một chương trình phát hình trên đài truyền hình Al-Jazeera, một cụ già ở thành phố Al-Nasiriya giận dữ nói trong nước mắt: “Chúng tôi không cần nước uống của các ông; chúng tôi không cần thực phẩm của các ông.  Chúng tôi muốn lính Mỹ phải có thái độ tôn trọng phẩm giá của người Iraq.  Trời ơi!  Họ bắt buộc phụ nữ chúng tôi phải cởi quần áo cho họ khám xét.”  Một tờ báo Ả Rập khác nhận xét: “Chiến dịch cứu trợ hiện nay không phải là một nỗ lực chân thật nhằm xoa dịu nỗi đau khổ của người dân hay ngăn ngừa một thảm họa xã hội.  Nó chẳng có gì khác hơn là một công cụ tuyên truyền được dàn dựng để tạo điều kiện cho Tây phương thực thi một số mục tiêu riêng biệt trong cuộc Thập tự chinh chống lại Hồi giáo” (nguyên văn: “The current aid campaign is not a genuine effort to alleviate human suffering and prevent a humanitarian disaster.  It is nothing short of a propaganda tool which has been orchestrated to facilitate specific Western policy objectives in the Crusader war against the Islamic Ummah.”) 

            Đối với các tổ chức Ki-tô giáo, lợi dụng tình huống khốn khổ để truyền đạo núp dưới chiêu bài “cứu trợ nhân đạo” không phải là một chiến lược mới; đó là một kế sách mang tính cổ điển mà họ đã từng thực thi ở Á châu nói chung, và Việt Nam nói riêng hơn 100 năm về trước.  Tình trạng xáo trộn chính trị và nạn đói vào đầu thế kỉ 20 ở Việt Nam, nhất là ở các tỉnh như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, v.v... được giới truyền giáo Tây phương xem như là một cơ hội lí tưởng để bành trướng đạo Ki-tô.  

          Nhiều văn thư trao đổi giữa các giáo sĩ, và giữa các quan chức Pháp thời đó cho thấy rõ ràng chiến lược lợi dụng sự nghèo khổ của người Việt Nam để truyền đạo.  Chẳng hạn như một một thư của Đức cha Marcou, giám mục địa phận Miền biển Đàng ngoài gửi cho “Bề trên” (đề ngày 14 tháng Chín năm 1902), viết [trích đoạn]: “Hiện tại phương pháp hoạt động tông đồ tốt nhất có lẽ là tăng gấp bội hoạt động từ thiện và giúp đỡ về vật chất càng nhiều càng tốt.  Một thư khác đề ngày 8 tháng Tư năm 1899 của một nhóm gồm 17 người xin phép bỏ đạo Công giáo để trở lại với Phật giáo viết [trích đoạn]: “Chúng tôi trước đây là tín đồ Phật giáo.  Vào năm 1886, người ta nói chúng tôi được tự do làm người Phật giáo hoặc Công giáo.  Hơn nữa, vị cha xứ người địa phương bảo chúng tôi rằng nếu chúng tôi đón nhận Công giáo, chúng tôi sẽ được miễn sưu thuế mà người Phật giáo phải đóng.   Đó là lí do chúng tôi rửa tội theo Công giáo” [1].

          Sách lược truyền đạo này còn được thực thi trong chế độ đệ nhất và đệ nhị cộng hòa ở Việt Nam.  Trong các làng quê, giới truyền đạo thường đi từng nhà phân phát bánh mì (thời đó bánh mì là một thực phẩm xa xỉ đối với người dân trong quê) và nhân dịp kêu gọi bà con đi nhà thờ sinh hoạt hay xa hơn chút nữa là “rửa tội”.  Do đó, người dân trong làng quê thời đó có câu “Theo đạo có gạo mà ăn” mà hầu như một người lớn tuổi nào cũng nghe qua. 

          Ở thị xã hay thị trấn thì hình thức có khác đôi chút.  Thay vì dùng bánh mì và gạo, giới truyền đạo, nhất là giới Phản thệ giáo (Tin lành), dùng những lớp dạy nhạc hay dạy ngoại ngữ miễn phí để thu hút thanh thiếu niên ham học, và một khi đã thu hút được những người trẻ này, họ tiến thêm một bước là tham gia sinh hoạt trong nhà thờ, và ... rửa tội. 

          Đọc đến đây chắc có người sẽ nói: “Thế thì đã sao?  Họ có lòng về cứu trợ, giúp đỡ đồng bào là quí rồi.  Có gì sai quấy đâu?”  Nhưng xét cho cùng, có lẽ đây là một suy nghĩ hơi ngây thơ.  Lợi dụng tình huống khốn khổ để truyền đạo núp dưới chiêu bài “cứu trợ nhân đạo” là một điều phi đạo đức, bởi vì hành động này không những đi ngược lại với lí tưởng của cứu trợ nhân đạo, mà còn là một hình thức ép buộc tinh thần để người nhận quà phải công nhận hay vâng theo niềm tin của người cho quà.  Đó là một mánh khóe xâm lấn tín ngưỡng.  Hay nói cách khác, đó là một sự cưỡng bức niềm tin.

          Ngày nay, mỗi khi có bão lụt ở trong nước là mỗi cơ hội để giới truyền đạo phô trương lòng nhân từ của mình.  Một số nhóm “theo đóm ăn tàn” khác nữa là nhân danh các hội đoàn Việt kiều.  Họ về Việt Nam, mướn xe đi đây đi đó phát tiền, cấp quà, và quan trọng hơn hết là tìm cách chụp cho được vài tấm ảnh, quay cho được vài cuộn phim video, mà trong đó tấm biểu ngữ đề cơ quan của họ luôn luôn được phô trương một cách nổi bật.  Do đó, trong thực tế, “cứu trợ” trở thành một photo-op, một cơ hội để đóng kịch; và bão lụt được biến thành một cơ hội để quảng bá tên tuổi của Chúa, danh xưng của hội nọ đoàn kia.  Những cảnh ghi nhận về đồng bào càng khốn khổ chừng nào càng có hiệu quả chừng nấy.  Thời đại của ống kính và hình ảnh.  Ống kính và hình ảnh là một phương tiện để đề cao đạo đức và tranh thủ yểm trợ của quần chúng.  Những người này hiểu được sức mạnh của hình ảnh, nên họ không ngần ngại biến những tai họa thiên nhiên trong nước thành những màn tuyên truyền rẻ tiền mà ai có chút lương tâm đều phải thấy ngượng.  Rồi đến khi xong việc, họ về lại Mỹ, Âu châu, Úc … và bi bô khoe công cán.  Tất nhiên, họ không quên mỉa mai về cái nghèo của Việt Nam và kèm theo câu thần chú đại khái như “Việt Cộng không biết thương dân”. 

          Những dạng “cứu trợ” như thế không nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách của người dân trong tình huống hiểm nghèo, mà đó là một sự mua chuộc, hối lộ tinh thần.  Khi thò tay cho quà, người cho quà, tự trong tiềm thức, muốn người nhận phải đồng cảm với niềm tin tôn giáo của họ để nhận quà; và khi một em bé nhận quà, em có ấn tượng rằng có người lo lắng, chăm sóc cho mình, và mình mang ơn họ, phải làm một cái gì để trả ơn, như cải đạo chẳng hạn.  Món quà khiêm tốn đó sẽ chẳng làm cải thiện tình trạng nghèo khó của em, sẽ không làm thay đổi cuộc đời của em, nhưng nó làm cho người nhận quà và ngay cả người cho quà cảm thấy mình là kẻ “nhân từ”, “bác ái”, là những người cấp cao, giỏi hơn, lớn hơn, và tốt hơn [2]. 

          Cái tâm lí kẻ cả này dẫn đến ảnh hưởng chính trị.  Trong những năm đầu thế kỉ 20, giới truyền đạo người Pháp tự ý đến chiếm đất, xây nhà ở những làng xã của người Mường ở Thanh Hóa.  Các thủ lĩnh người Mường hay phàn nàn rằng hành xử của các giáo sĩ đã tạo nên tình trạng xáo trộn sâu xa cho làng xã của họ.  Và điều này cũng được ghi nhận trong một lá thư của ông Moulié (Công sứ tại Thanh Hóa) gửi cho ông Auvergne (Khâm sứ An-nam), trong đó có đoạn viết: “Lịch sử trong những năm vừa qua, đã chứng tỏ rằng nỗ lực của các thừa sai tại xứ Mường thường dẫn đến những rối ren thật đẫm máu, mỗi khi sự lạm dụng của các thầy giảng trở nên quá mức” [1]. 

          Mấy năm gần đây, tình trạng trên xem ra vẫn còn tiếp diễn ở Việt Nam.  Chúng ta thường nghe đến những nhà truyền giáo thuộc nhóm Phản thệ giáo Mỹ lặn lội lên các vùng Cao nguyên miền Trung và Bắc Việt Nam để thực hiện những chuyến “cứu trợ nhân đạo.”  Nhưng trong thực tế, ngoài việc cho quà cáp, họ còn tìm cách cải đạo, và hứa hẹn thành lập một vương quốc Chúa trong nước Việt Nam dưới sự bảo trợ của Mỹ.  Nếu chính quyền Việt Nam phản đối việc làm của họ, họ liền tri hô khẩu hiệu “nhân quyền” và “tự do tính ngưỡng” làm như họ là nạn nhân, thay vì là những kẻ gây rối loạn cho cộng đồng.  Tiếng nói của họ được các thế lực Tây phương Ki-tô giáo, đặc biệt là Mỹ, chú ý.  Từ chú ý sang can thiệp.  Không ai ngạc nhiên khi thấy vài năm gần đây, chính phủ Mỹ dùng cái cớ “nhân quyền” và “tự do tín ngưỡng” để can thiệp vào nội bộ Việt Nam.  Cứu trợ và truyền đạo, do đó, trở thành một diễn biến chính trị cũng như kinh tế và xã hội.  Nói cho đúng hơn, nó là một sách lược của giới Tây phương muốn chi phối đến hệ thống chính trị và xã hội các nước nghèo như Việt Nam. 

          Điều đáng nói là sự can thiệp của ngoại bang dựa trên những nhãn hiệu như thế lại có khi được sự tiếp tay của một số người Việt ở hải ngoại.  Những người Việt này không ngần ngại bỏ công chầu chực ngoài những hành lang quyền lực, và kì kèo vận động các thế lực chính trị Mỹ để những người ngoại quốc tiếp tục can thiệp, gây khó khăn cho Việt Nam.  Những người Việt này, lòng nhiệt thành cộng với tâm lí nô lệ ngoại bang đã biến họ thành những người mà tôi tạm gọi là “Việt gian lí tưởng”.  Tính từ “lí tưởng” ở đây thích hợp, bởi vì chống Việt Nam và phò ngoại bang là một lí tưởng sống của họ.  Phò ngoại bang để trả ơn Mỹ, Úc, Tây, v.v... có công nuôi nấng họ (hay ơn cứu rỗi), và vì thế không ai ngạc nhiên khi thấy những người Việt này có thái độ “bảo hoàng hơn vua”, sẵn sàng bỏ mạng cho và vì người chủ mới.   Đối với người chủ mới, họ cũng là những đạo quân lí tưởng, bởi vì họ được sinh đẻ và lớn lên ở Việt Nam, , họ nắm được tâm lí, họ biết được đường đi nước bước của đồng bào Việt, và có thể đóng vai những người phản bội dân tộc hết sức xuất sắc.  Những người này, một khi được trưng dụng đóng vai những người đi “cứu trợ nhân đạo”, có thể còn nguy hiểm hơn cả những nhóm giáo sĩ Tây phương.

          Nói tóm lại, dù cái móc xích là “Gây chiến → truyền giáo → diễn biến chính trị”, hay “Truyền giáo → gây chiến → diễn biến chính trị”, mục tiêu tối thượng của những nhóm núp dưới danh nghĩa “cứu trợ nhân đạo” có một mẫu số chung: Khuynh đảo chính trị.  Cố nhiên, không phải tất cả các nhóm cứu trợ đều hành động vì mục tiêu chính trị; trong thực tế, cũng có một số ít cứu trợ thực sự vì lí do nhân đạo.  Để tránh khỏi những nhập nhằng giữa người thật và kẻ giả, có lẽ đã đến lúc cộng đồng người Việt hải ngoại nên có một tổ chức cứu trợ thực sự nhằm mục tiêu xoa dịu nỗi khổ của đồng bào, thay vì phục vụ cho quyền lợi của ngoại bang.

Chú thích:

[1]  Có thể xem các thư từ này trong cuốn “French Catholic Missionaries and the Politics of Imperislaim in Vietnam 1857-1914” (“Thừa sai công giáo Pháp và các chính sách của đế quốc tại Việt Nam 1857 – 1914”) của Patrick J. N. Tuck, Nhà xuất bản Liverpool University Press, 1987.

[2]  Chính cái cảm giác nhân từ, bác ái, và lòng tự mãn tài cao đức trọng này là một trong những động cơ làm cho nhiều tổ chức Kitô giáo của người Việt ở hải ngoại đua nhau về cứu trợ đồng hương mỗi khi có dịp.  Có một nhóm y sĩ gốc Việt trong một nhóm chống Cộng có tiếng ở nước ngoài hiện đang lăm le về Việt Nam để tiến hành những công tác “thiện nguyện” như phẫu thuật mổ mắt.  Khi được hỏi mục đích thực sự, thì họ trả lời rằng họ muốn chứng tỏ rằng họ có trình độ chuyên môn cao hơn “đám bác sĩ cộng sản” trong nước.   Nói một cách khác, cái mục tiêu thực sự của họ không phải là đi làm từ thiện, mà là muốn khoe khả năng, một chuyện cực kì trẻ con.  (Thực ra, ngay cả điều này cũng là một điều rất khôi hài, bởi vì 99% những y sĩ này chưa bao giờ cầm con dao trong phòng giải phẫu ở các bệnh viện Mỹ hay Úc.)

 

Mark_03.gif (833 bytes)  Về trang Nghiên cứu & đối thoại tháng  7-2003

Home  |  Top Page | Về trang mục lục

© Thư từ và bài viết cho mục này, xin gởi attachment về email: giaodiem@giaodiem.net

. ..........