curley_sw_03.gif (1967 bytes)  Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .
 

hg-csvn.JPG (11572 bytes) 

  • Hà Giang 

     N hững ai có dịp đọc báo hay nghe đài Việt ngữ ở hải ngoại, dù chỉ một lần, đều không thể tránh khỏi cụm từ “Cộng sản Việt Nam”, hay có khi, có lẽ vì tiết kiệm giấy mực, họ viết tắt thành “CSVN”.  Không biết cụm từ này được dùng tự bao giờ, nhưng chắc chắn là nó có tuổi đời trên hai mươi năm.  Qua nhiều năm như thế, nó đã biến thành một nhãn hiệu cho Việt Nam, và trở thành một cụm từ quán tính, nhất là trong với giới báo chí tuyên truyền chống Việt Nam.  Những người này sẵn sàng đồng hóa, khái quát hóa tất cả những gì từ Việt Nam thành những gì từ “Cộng sản Việt Nam”.   Thành ra, những văn nghệ sĩ, khoa học gia, học giả, v.v..., dù chẳng phải là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng vì sinh sống ở Việt Nam, nên họ đều bị cho cái nhãn hiệu “Cộng sản Việt Nam” phía sau tên gọi nghề nghiệp của họ.  Nhạc sĩ từ Việt Nam thành “Nhạc sĩ Cộng sản Việt Nam”; nhà sử học sinh sống ở Hà Nội là “Sử gia Cộng sản Việt Nam”.  Có khi sản phẩm được sản xuất từ Việt Nam cũng trở thành sản phẩm của “Cộng sản Việt Nam”.      

     Tin tức từ Việt Nam đều được “Cộng sản Việt Nam” hóa.  Có nhiều báo, khi lấy tin tức từ Việt Nam, họ chỉ việc truy nhập internet, vào các trang nhà bên Việt Nam, cóp nhặt những bản tin ngắn về máy computer, rồi dùng “Microsoft Word” thay đổi những chữ “Việt Nam” thành “Cộng sản Việt Nam”; “Công an” thành “Công an CSVN”; “Thành phố Hồ Chí Minh” thành “Sài Gòn”; v.v...  và có ngay một bản tin y như họ đã có mặt ở trong nước!  Có người siêng năng hơn thì chịu khó thay đổi vài chi tiết để bản tin phản ánh tình trạng xã hội Việt Nam tồi tệ hơn.  Chẳng hạn, bản tin trên VNAgency (trong nước) cho biết “Ngân hàng phát triển Á châu sẽ cho Việt Nam vâ 21 triệu USD để khôi phục và nâng cấp đoạn đường dài 83 km từ Đông Hà đến cửa khẩu quốc tế Lao Bảo nằm trên quốc lộ 9”, thì Việt Báo (số ra ngày 28/5/2002) lại sửa thành “ADB cho CSVN vay 623 triệu đô, nâng cấp xa lộ, hải cảng”!   Chú ý “CSVN”, con số 21 triệu và 623 triệu, và “hải cảng”.  

     Đọc đến đây, có người chắc hỏi việc dùng cụm từ này có vấn đề gì đâu, vì Việt Nam là một nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.  Nhưng trong thực tế, cụm từ này có nhiều vấn đề, và nó có lẽ nằm trong một chiến dịch tuyên truyền mà những người chống cộng sáng chế ra để duy trì sự phân biệt người Việt Nam trong và ngoài nước, hay thậm chí duy trì lòng thù hận giữa hai bên.

     Vấn đề thứ nhất của cụm từ này là nó phản ánh sai về chế độ ở Việt Nam.  Tên gọi chính thức của Việt Nam hiện nay là “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”, chứ không phải “Cộng sản Việt Nam”.   Dù chính phủ Việt Nam do phần lớn các đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm đầu, nhưng không phải ai trong chính phủ cũng là đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam.  Do đó, cụm từ “Cộng sản Việt Nam” thiếu tính chính xác.

     Điều đáng chú ý là báo chí Việt ngữ ở hải ngoại chỉ thêm từ “Cộng sản” cho Việt Nam, nhưng họ không gọi như thế cho các nước theo Xã hội chủ nghĩa khác như Trung Quốc, Bắc Hàn, Cuba, Lào, v.v…  Điều này nói lên tính cá nhân của những người chống Việt Nam, vì họ chỉ chống Việt Nam, chứ không hẳn chống thể chế những nước trên.  Thực vậy, trong quá khứ, giới báo chí Việt ngữ hải ngoại đã từng hỷ hả, vui mừng khi thấy Trung Quốc tấn công Việt Nam, khi thấy bọn Pol Pot giết chết lính Việt Nam, vì họ vẫn chủ trương “kẻ thù của kẻ thù là bạn ta”.  Nó còn thể hiện một đặc tính “khôn nhà dại chợ” của giới truyền thông Việt ngữ hải ngoại.

     Người Việt vượt biên không thích chế độ cộng sản.  Một số người Việt tỵ nạn là những sĩ quan, nhân viên của chế độ Việt Nam Cộng hòa cũ, và là nạn nhân của chế độ “Học tập cải tạo” của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.  Ngược lại, nhiều người cộng sản (hay đang cầm quyền ở Việt Nam) là nạn nhân của chế độ Việt Nam Cộng hòa cũ.   Sau 1975, “ngụy” là từ mà Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam dùng để chỉ những sĩ quan, nhân viên của chế độ Việt Nam Cộng hòa cũ.  Khi ra nước ngoài, những người thuộc chế độ Việt Nam Cộng hòa cũ gọi Việt Nam là “Cộng sản Việt Nam”.   Nhưng nay, trong khi ở trong nước người ta không còn dùng “ngụy” nữa, thì ở hải ngoại, cường độ dùng “Cộng sản Việt Nam” lại gia tăng.  Điều này nói lên sự thiếu tự tin (insecure) và phản ánh một phức cảm tự ty của giới truyền thông Việt ngữ hải ngoại.

     Vấn đề thứ hai là cụm từ “Cộng sản Việt Nam” được dùng để stereotyping, hay rập khuôn, chia cách người Việt trong nước và người Việt ở ngoài Việt Nam.  Con người có thói quen thích chia thành nhóm, thường là “ta” và “họ”, “us” và “them”.   Qua cách dùng chữ này, cái ấn tượng “ta” ở đây là những người tốt, và “họ” là những người xấu được hình thành một cách tự động trong tiềm thức của người đọc / nghe.  Hàm ý cách đặt nhãn hiệu như thế là để “ta” đối xử với “họ” bằng một thái độ ngờ vực, nghi kỵ, và có khi bạo động. 

     Gắn một cái tên, một nhãn hiệu là một biểu hiện của quyền thế, bởi vì chữ nghĩa thường được gắn liền với nghĩa rộng mang tính văn hóa, xã hội và quyết định thái độ mà người tiếp nhận hiểu nó.  Người Âu châu có thời gọi người Phi châu là “Negroes” (từ tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là “đen”).   Người Mỹ da trắng sau này đổi thành “Colored” để phân biệt với người da trắng.  Có khi người da trắng còn dùng chữ xúc phạm hơn, “nigger”, để nói người Mỹ gốc Phi châu.  Những từ này (negroes, black, Colored, hay nigger) được dùng với hàm ý tiêu cực, để cho người đọc/nghe cảm nhận đây là một nhóm người gây ra nhiều tội phạm trong xã hội, thất nghiệp, ít học, và các vấn đề xã hội khác.  Những tay kỳ thị chủng tộc cũng từng dùng cách phân định này khi họ muốn nói xấu người Việt tỵ nạn ở các nước Tây phương. 

     Ở đây, những người chống Việt Nam bắt chước theo những tay kỳ thị chủng tộc, tạo nên một nhóm người “họ” (nhóm “Cộng sản Việt Nam”), để cho “ta” (người đọc / nghe) cảm thấy mình khác họ (mình tốt, họ xấu), và từ đó làm cho “ta” có thái độ bất tín, dèm pha “họ”.   Thật vậy, “Cộng sản Việt Nam” được giới báo chí Việt ngữ ở hải ngoại phù thủy hóa thành những độc quyền, đảng trị, không có nhân quyền, tham nhũng, hối lộ, mánh mung, bất công, lưu manh, lường gạt, vô đạo đức, bế tắt, nghèo nàn, lạc hậu, ngu xuẫn, giả dối ...  [độc giả có thể thêm mà không sợ sai!]  Ngược lại, “ta” là “quốc gia”, là dân chủ, vì dân, độ lượng thương dân,  pháp trị, tôn trọng nhân quyền, công bằng, trong sạch, chí công vô tư, đạo đức, thịnh vượng, văn minh, thông minh, bằng cấp cao, học hành tài giỏi   Nói tóm lại, bất cứ chữ gì xấu xa nhất, ghê tởm nhất, đê tiện nhất, quái gở nhất, hoang đảng nhất  ... đều có thể dùng cho “Cộng sản Việt Nam”; và những cụm từ nào tốt đẹp nhất, cao thượng nhất, thanh nhã nhất, “kêu” nhất ...  đều có thể dùng cho “ta”. 

     Nhà xã hội học Pierre Bourdieu từng gọi những cụm từ loại này là “ý-tưởng-đã-qua” (“the already-thought”).  Người đọc cảm thấy như mình đang bị những người đạo đức [có thể là giả] đang lải nhải, lảm nhảm lên lớp về những điều mà ai cũng biết là xuyên tạc.  Vì tính rẻ tiền của chúng, người đọc / nghe còn cảm thấy sự thông minh của mình, ở một mức độ căn bản, đã bị lăng mạ.

     Nhiều người Việt lúc còn ở trong nước là những quan chức có quyền thế, có người từng giữ các chức vụ có thể chi phối đến hàng triệu người dân.  Tuy nhiên, sau khi rời Việt Nam, sống ở hải ngoại, họ là những người mất hết quyền lực mà họ từng có trước kia.   Một cách quân bình lại quyền lực mà họ đã mất là qua chữ nghĩa, vì chỉ có chữ nghĩa mới có thể đem lại cho họ một tâm lý quyền lực.  Vì thế họ viết và nói rất hăng; dùng những cụm từ cực kỳ mạnh và xác định; và phân chia “Cộng sản Việt Nam” với “Quốc gia” một cách cụ thể và đơn giản như trắng với đen, hay thù với bạn.  Những người “Quốc gia” này không cần biết những gì mình phát biểu là đúng hay sai, vì tính chính xác không phải là yếu tố quan trọng cho mục đích phục hồi quyền thế.  Những người này tự biến mình thành những con vẹt, hết ngày này sang tháng nọ, lảm nhảm “Cộng sản Việt Nam” như một quán tính và hy vọng rằng cộng đồng sẽ tin vào những gì họ nói.

          Có lẽ, điều này cũng không đến nổi tệ, bởi vì “Cộng sản Việt Nam” phản ánh sự thành công của những sáng tạo ra nó để ngu dân trong một cộng đồng.  Nhưng vấn đề là cụm từ này ngày nay cho người đọc / nghe một cảm giác giả tạo về thế giới thực ở Việt Nam.   Những từ ngữ theo quán tính, những cụm từ “mì ăn liền”, những câu văn phải đạo chỉ là những lời phát biểu lém lĩnh thay vì lịch thiệp, hàm chứa sự lưu manh thay vì thân thiện.  Có thể nói, do đó, “Cộng sản Việt Nam” là một cụm từ có tính sáo ngữ được hiểu như là sự liến thoắng nhằm vào mục đích lôi cuốn và xuyên tạc, thay vì cho người đọc / nghe một sự thực.

     

 

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........