curley_sw_03.gif (1967 bytes)   Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .


Ba Phần Đời của Jacques Derrida
Phỏng vấn bố già của Giải Cấu Luận

derhead.jpg (27672 bytes) Giải cấu luận – HNN” (Deconstructionism) là gì? – Thưa rằng: 'hai cẳng chống trời, đầu đạp đất' [Minh họa theo Cartoonist David Levine và John R. Searle trong ‘The Word turned upsided down’. Photos of Yale University, caption by Giaođiem]

Kristine McKenna

Khi nào thiên hạ kháo nhau về những nhà trí thức khật khùng và những siêu minh tinh bí truyền của Pháp, khi nào thiên hạ choáng váng va vào mấy chữ giải cấu luận trong Entertainment Weekly và phân vân không biết mấy chữ ấy nghĩa gì, khi nào đám sinh viên khắp thế giới bị thúc ép phải nặn đầu nặn óc moi cho ra ý nghĩa của mấy chữ giải cấu luận như chúng từng bị thúc ép từ hai chục năm nay, thì người ta phải liên tưởng đến Jacques Derrida. Ngất ngưỡng ngự trị trên diễn đàn trí thức suốt phần tư thế kỷ qua, Derrida là cha đẻ của Giải cấu Luận, một hệ thống phân tích ngược đời nhằm mục đích tháo rời cấu trúc của ngôn từ ra từng mảnh và vạch ra những lập lờ, giả trá mai phục trong ngôn từ.   

Bắt nguồn từ lòng tin rằng ngôn từ chuyên chở những điều chúng ta hoặc không thể, hoặc không muốn, phơi bày dưới ánh sáng hữu thức, Giải cấu Luận là một phương pháp co dãn phân tích cấu trúc ngôn từ của bất cứ văn bản nào – và dĩ nhiên đối với sinh hoạt phê bình văn học, Giải cấu Luận đã có một ảnh hưởng nếu không hơn thì ít ra cũng ngang với ảnh hưởng đối với triết học vậy.

Derrida sinh năm 1930, thuộc dòng dõi những người Do Thái hoặc từng bị tống xuất khỏi Spain và Portugal hồi thế kỷ 15 hoặc bị bức bách theo Công giáo. Gia đình Derrida cư ngụ tại Algeria hồi đó còn là thuộc địa của Pháp. Derrida bắt đầu thắc mắc về thành kiến trí thức trong khi Algeria đang thuộc quyền cai trị của chính quyền Vichy thân Ðức. Derrida bị đuổi khỏi trường, vì như lời một thầy giáo mật vụ của Derrida bảo “văn hóa Pháp không phải là để phục vụ những thằng nhóc Do Thái.” Derrida tiếp tục gầy dựng tương lai nghề nghiệp trong tư thế một sinh viên có tài nhưng hay quậy. Năm 19 tuổi, Derrida về Paris nhập học trường Sư Phạm, ban Triết. Tại đây, Derrida gặp nhà phân tâm học Marguerite Aucouturier và hai người thành vợ thành chồng năm 1957. Derrida học ở trường Sư Phạm bốn năm từ 1952 đến 1956 và chuyên chú nghiên cứu hai triết gia Ðức là Edmund Husserl và Martin Heidegger. Những luận văn của Derrida về hai triết gia này đã giúp Derrida dật được một học bổng sang Harvard du học năm 1956. Derrida về nước năm 1960 và dạy triết tại Ðại Học Sorbonne. Hai năm sau, Derrida thực chứng mình là một triết gia độc lập với bản dịch quyển Nguồn Gốc Hình Học (Origin of Geometry) của Husserl, kèm thêm phần giới thiệu dài hơn cả nguyên tác.      

Năm 1967, Derrida gần như đã hoàn tất việc thiết định tư tưởng nòng cốt của mình qua ba quyển sách giản yếu là Ngôn Ngữ và Hiện Tượng (Speech and Phenomena), Viết và Dị Biệt (Writing and Difference), Bàn về Văn Phạm Học (Of Grammatology). Ba tác phẩm giản yếu này đã biến Derrida thành trụ cột trên diễn đàn triết học. Derrida là tác giả của 45 đầu sách đã được dịch ra 22 thứ tiếng. Năm 1986, Derrida được cử làm giáo sư thỉnh giảng của Ðại Học California, Irvine. Một điều khích lệ khác cho Ðại Học California, Irvine là đã dành được quyền quản thủ thư khố Derrida từ năm 1990.

Derrida tiếp tôi trong văn phòng đạm bạc của ông ở Irvine. Khác hẳn cái ấn tượng bạo dạn và đầy tham vọng mà các tác phẩm của ông có thể gợi ra cho người đọc, Derrida là một người dễ mến đến không ngờ. Lời ông nói không có vẻ chi hù họa hớp hồn thiên hạ như điều ông viết. Derrida tỏ ra rất hấp dẫn, vẽ hấp dẫn đó được diễn tả rõ ràng qua cuốn phim tài liệu Derrida do Kirby Dick và Amy Ziering Kofman đạo diễn sẽ ra mắt tuần này.  

deryoung.jpg (13587 bytes)Jacques Derrida thời trẻ. Photos of Yale Univ.

LA WEEKLY -  Lý do nào khiến ông đồng ý cho người ta làm phim Derrida?

DERRIDA: Thoạt tiên, tôi không đồng ý với chuyện ấy chút nào cả. Cũng bởi vì tôi vốn ngại ngần khó chịu khi thấy hình ảnh của chính mình. Hai mươi năm qua, tôi đã thành công trong việc xuất bản nhiều sách, nhưng không có một quyển nào có in hình tôi cả. Ðó là vì hai lý do. Thứ nhất, tôi cực lực chống lại điều mà bạnn có thể gọi là hình ảnh ước lệ của tác giả - ví dụ một chân dung bán thân hay bức hình tác giả ngồi nơi bàn viết. Tôi chống, vì cho đó là một cách nhượng bộ như cầu bán sách và giới truyền thông. Lý do thứ hai là tôi luôn luôn cảm thấy bối rối với chính sắc thân và hình ảnh của mình. Tôi rất ngại nhìn tôi trong ảnh, cho nên suốt hai mươi năm qua tôi đã tự cho mình cái quyền xóa bỏ hình ảnh của chính mình vì những lý do chính trị. Trong thời gian mười năm trở lại đây, việc đó thật khó cho tôi vì tôi thường phải chường mặt ra trong hết hội nghị này đến hội thảo khác có các ký giả tham dự, và dĩ nhiên có người chụp hình tôi. Thật khó mà bảo họ đừng làm, và dần dà tôi phải tự nhủ là bớt chống lại chuyện chụp hình chụp ảnh, rồi cuối cùng tôi đành đầu hàng. Lại nữa, phải nhận là tôi rất ngạc nhiên thích thú khi thấy cuốn phim đã thành công trong việc bện buộc những sinh hoạt thường nhật riêng tư với những chuyện ít riêng tư hơn, ví dụ như chuyến đi Nam Phi của tôi để quay phim chẳng hạn, hoặc với những suy niệm của tôi về những vấn đề lớn. Cuốn phim có một điểm xuyên suốt kiên định đó là thường xuyên tra hỏi về lý lịch của các tác giả. Một triết gia có cần có một lý lịch không?

LA.W. Tại sao một triết gia lại không thể có lý lịch?

D. Ðã hẳn, ai mà chẳng có lý lịch, nhưng điều tôi tự hỏi là có nên công bố lý lịch đó không. Triết gia có phải tự mình kể lể tiểu sử mình không? Triết gia có nên phơi bày đời mình cho thiên hạ xem và nói qua nói về không?

LA.W. Làm sao ông có thể tách rời tác phẩm của một triết gia với đời tư của triết gia ấy?

D. Tôi không dám chắc chúng ta có thể làm được chuyện ấy hay không. Nhưng hầu hết các triết gia cổ điển đều cố làm chuyện ấy và một số đã thành công. Nếu bạn đọc những tác phẩm truyền thống, bạn sẽ thấy hầu như các triết gia không bao giờ nói “tôi”, không bao giờ nhân danh ngôi thứ nhất để phát biểu. Các triết gia từ Aristote đến Heidegger đều cố gắng xem đời tư của mình như một cái gì bên lề hoặc ngẫu nhiên. Ðiều quan trọng là tư tưởng, là những điều họ giảng dạy. Lý lịch là điều thường nghiệm và ngoại vi, và chỉ được coi như là ngẫu nhiên, không thiết yếu liên hệ đến hoạt động triết lý hay hệ thống triết học.    

LA.W. Trong phim, người ta hỏi ông: Nếu ông có dịp nghe một triết gia mà ông mến mộ chuyện trò, thì điều gí là điều ông muốn nghe chính miệng những triết gia ấy nói ra? Ông đáp: Ðời sống tình dục của họ, vì đó là điều họ không nói đến. Thế nhưng trong phim khi người ta phỏng vấn ông chuyện ấy thì ông không chịu trả lời. Sao lại có chuyện phân chia thiên hạ thì được, mình thì không như thế?

D.  Tôi chối từ trả lời không phải vì đó là những điều phải che dấu, nhưng là vì tôi không muốn tiết lộ khía cạnh riêng tư nhất của đời mình trong lúc đang loay hoay trước ống kính với một ngoại ngữ. Nếu phải thảo luận về những vấn đề đó thì tôi thích làm theo sở trường của tôi đó là viết. Nếu bạn có đọc tôi thì bạn thấy là trong nhiều văn bản, tôi đã đề cập đến chuyện ấy theo cách của tôi. Quyển Thủy Tinh (Glass) in năm 1974, Bưu Thiếp: Từ Socrates đến Freud và Tiếp Theo (Post Card: From Socrates to Freud and Beyond)  in năm 1980 và Circumfession năm 1991 đều có tính cách tự thuật, và đời tư cũng như dục vọng của tôi đã quyện đầy trong những dòng tôi viết.

LA.W. Ông có thể cho biết đâu là lần đầu tiên ông ý thức rằng thượng đế - hiểu theo nghĩa định lệ bình thường, là một ý niệm ông không thể thấu nhập được?

D. Ðể thảo luận chuyện này, chúng ta phải nhất trí với nhau về cái nghĩa định lệ bình thường của hai chữ thượng đế trước hết. Nhưng dĩ nhiên, tôi vẫn nhớ lần đầu tiên đó. Từ nhỏ lớn lên, tôi thường được dẫn đến đền thánh Do Thái giáo ở Algiers, và có những khía cạnh Do Thái giáo mà tôi ưa thích, như âm nhạc chẳng hạn. Nhưng đế thời tấp tễnh thành niên thì tôi bắt đầu đề kháng tôn giáo, không phải vì chủ nghĩa vô thần, nhưng vì tôi thấy rằng tôn giáo như được hành trì trong gia đình tôi đều đầy dẫy những ngộ nhận. Ðiều làm tôi ngỡ ngàng là tính cách thiếu trí tuệ, là những câu lặp lại mù quáng. Và một điều tôi cảm thấy không mảy may chấp nhận được, đó là cái cách người ta phân bổ vinh dự thành đạo. Vinh dự giữ và đọc thánh thư TORAH đã được bán phát mại trong đền thánh. Với tôi, đó là một điều kinh khiếp. Khi được 13 tuổi, tôi bắt đầu đọc Nietzsche và mặc dù chưa hẳn tôi đã hiểu hết Nietzsche, Nietzsche vẫn có một ảnh hương lớn trong đời tôi. Phần nhật ký tôi ghi thời đó đầy dẫy những trích dẫn Nietzsche và Rousseau, một ông thượng đế khác của tôi hồi đó. Nietzsche cực lực chống Rousseau, nhưng tôi thích cả hai ông, và vẫn mơ ước làm thế nào để hòa giải hai ông trong tôi. 

LA.W. Trả lời một cuộc phỏng vấn được thực hiện ít lâu sau khi Ðệ Nhị Thế Chiến kết thức, và rồi đã được chính Heidegger yêu cầu ngưng chờ đến khi ông qua đời đã rồi mới công bố - Heidegger qua đời năm 1976, Heidegger bảo rằng “Sau Nietzsche, triết học đã chẳng giúp ích gì mà cũng không đem lại chút hy vọng nào cho nhân loại. Ðiều chúng ta có thể làm là chờ đợi một thượng đế tái hiện. Chỉ có một thượng đế mới cứu được chúng ta.” Ông có đồng ý như vậy không?  

D. Nếu là tôi, có lẽ tôi sẽ không dùng chữ “một thượng đế” như Heidegger, nhưng điều làm tôi thích thú trong lời tuyên bố ấy là Heidegger chống tôn giáo. Heidegger được đào tạo trong lò Công giáo nhưng ông lại nhiệt liệt chối bỏ Thiên Chúa giáo, cho nên thượng đế mà ông nhắc tới không phải là thượng đế quen thuộc với chúng ta. Ông nói đến một thượng đế chưa xuất hiện, và có lẽ không hề thực hữu. Ông đem chữ thượng đế gán cho điều được kỳ vọng, và ám chỉ rằng kẻ sẽ đến để cứu chúng ta sẽ có tên là thượng đế. Nếu điều này kích động người ta kỳ vọng vào một đấng cứu rỗi thì tôi không đồng ý, nhưng nếu lời tuyên bố của Heidegger có nghĩa rằng chúng ta đang chờ đợi một đấng không thể tiên liệu và chúng ta phải sẵn sàng đón nhận đấng ấy thì tôi không có gì chống đối. Ðây là điều mà tôi có thể gọi là tính cứu thế không cần đức tin cứu thế, và tự tánh của chúng ta là cứu thế. Chúng ta không thể làm gì khác hơn, vì chúng ta ở trong tình trạng luôn luôn ao ước một điều gì đó xảy đến. Ngay cả chúng ta có ở trong tình trạng tuyệt vọng chăng nữa thì ước mơ vẫn là một phần căn bản trong quan hệ của chúng ta với thời gian. Vì chúng ta quả có hy vọng một kẻ nào đó có thiện tâm và từ ái sẽ đến nên chúng ta mới tuyệt vọng. Nếu đó là điều Heidegger muốn nói thì tôi hoàn toàn đồng ý với ông.

LA.W. Là một chú bé lớn lên giữa lòng Ðệ Nhị Thế Chiến, có khi nào ông lo sợ cho chính mình không?

D. Không. Kinh nghiệm chiến tranh của tôi cũng nghiệt ngã lắm, nhưng dù sao đi nữa thì kinh nghiệm đó cũng chẳng thấm gì với những điều xảy ra cho người Do Thái ở Âu châu. Algeria cũng có bài Do Thái, nhưng ở Algeria không có người Ðức, không có trại tập trung, không có chuyện tống xuất ồ ạt người Do Thái. Không nghiệt ngã nhưng không phải là không đau đớn. Ở vào địa vị tôi, khi bạn bị vô cớ đuổi khỏi trường, làm sao bạn không đau được.

LA.W. Trong quyển Tìm Hiểu Hitler (Explaining Hitler) in năm 1998, tác giả Ron Rosenbaum bảo rằng nếu đi tìm ý nghĩa cho hành động thì rốt cuộc phải nói Hitler chính là nạn nhân, bởi lý cuộc tàn sát Do Thái chẳng có một ý nghĩa tự tại nào cả. Ông có nghĩ vậy không?

D. Về điểm này thì tôi xin được phép hết sức từ tốn để trả lời. Tôi biết có những triết gia cho rằng cuộc diệt chủng Do Thái là một điều hoàn toàn mới lạ theo ý nghĩa đây là một điều không hàm ẩn một hy sinh nào cả. Ðây là một hành động lạnh lùng, hữu lý, kỹ nghệ, và không hề mang một ý nghĩa hy sinh nào. Tôi không dám chắc ý nghĩ đó có đúng không. Tôi tôi không thể trả lời câu hỏi đó khi chưa suy nghĩ thật thấu đáo.

LA.W.   Ðâu là những câu hỏi căn cốt của triết lý?

D. Trước tiên làm sao sống tự chủ và hài hòa với kẻ khác – đây cũng là những câu hỏi chính trị. Ðây là điều triết lý Hy Lạp đã đề cập, và ngay từ đầu, triết lý và chính trị đã bện buộc nhau. Chúng ta là những sinh vật tin rằng chúng ta đủ sức thay đổi đời sống, và chúng ta tự cho mình cao hơn thú vật. Tôi cũng có những băn khoăn về vấn đề thú vật và cách thức triết lý đáp ưng câu hỏi này. Nhưng đó là chuyện khác. Tuy nhiên, chúng ta vẫn nghĩ là chúng ta không phải là thú vật và chúng ta có khả năng vạch một hướng đi cho đời mình. Triết lý đặt vấn đề: Chúng ta phải làm gì để có một đời sống tối hảo? Tôi e rằng mãi đến bây giờ chúng ta vẫn chưa tiến được bao xa trong cố gắng trả lời câu hỏi đó. 

LA.W.   Kiến thức và trí huệ khác nhau thế nào?

D. Kiến thức và trí huệ không phải là hỗn tạp, và bạn có thể có kiến thức về đủ thứ chuyện nhưng lại chẳng có chút trí huệ nào. Kiến thức và hành động khác xa nhau vời vợi, nhưng hố ngăn cách đó không cản được ta cố gắng càng có nhiều kiến thức càng tốt trước khi quyết định hành động. Triết lý là yêu chuộng trí huệ. Philia là yêu chuộng và sophia là trí huệ, cho nên triết lý có nhiệm vụ phải trí huệ. Tuy nhiên không phải bao giờ quyết định cũng nhất quyết tùy thuộc kiến thức. Tôi cố gắng hết sức để gia tăng kiến thức trước khi quyết định, nhưng tôi cũng thừa biết rằng khoảnh khắc tôi quyết định cũng chính là lúc tôi vươn lên khỏi kiến thức.

LA.W.   Sự thành đạt một hệ thống kiến thức như ông từng trình bày trong các tác phẩm của ông năm 1967 có phải là điều làm cho ông hạnh phúc hơn không?

D. Tôi không nghĩ là điều đó làm tôi hạnh phúc hơn, đúng ra đó là điều cho tôi sức mạnh để đi tới. Tôi sống một đời sôi nổi, mệt lử, và nếu có ai đó lưu ý tôi rằng năm 20 tuổi tôi cũng đã làm những điều như tôi đang làm bây giờ thì có lẽ tôi không đời nào chịu tin. Về thể chất, hồi đó tôi mảnh khảnh, chẳng hiểu sao mà tôi đã không ngả sụm khi những việc tôi đang làm, dù chỉ làm một phần thôi. Việc thiên hạ chấp nhận công việc của tôi làm cho tôi phấn chấn. Thiên hạ rất rộng lượng đối với tôi và tác phẩm của tôi và tôi biết chắc là tôi sẽ ngả sụm nếu không có từ tâm đó. 

LA.W. Tại sao không có bà triết gia nào cả vậy?

D. Vì cách bày biện của triết học đã khai trừ, bức chẹt và bịt miệng bịt mồm phụ nữ, con nít và thú vật. Bởi lý, triết học là một cơ cấu – có ngốc nghếch mới không thấy đó là một cơ cấu, cho nên mới không có những bà triết gia lớn. Có những nhà tư tưởng lớn phái nữ, nhưng triết học là một lối suy nghĩ đặc biệt khác với những lề lối suy nghĩ khác. Nhưng chúng ta đang ở trong thời kỳ lịch sử trong đó những phân chia như vậy hết còn vững như bàn thạch nữa rồi.

LA.W. Ông có tự cho mình là một kẻ đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ không?

D. Nói bênh vực nữ quyền thì to tát quá, nhưng tôi phải nhận là tôi có ý ấy. Ða số tác phẩm của tôi đều hướng về chuyện giải cấu chủ nghĩa duy dương vật, và tôi có thể nói rằng tôi là người đầu tiên biến vấn đề đó thành trọng tâm triết học. Ðã hẳn, tôi chống việc bức ép phụ nữ, nhất là trên căn bản chủ nghĩa duy dương vật, cho nên, về điểm này có thể nói tôi là một đồng minh của văn hóa nữ quyền. Nhưng thế không có nghĩa là tôi không có một vài dè dặt về một vài biểu hiện của chủ nghĩa duy nữ quyền. Ðảo lộn tôn ti trật tự, hay để cho đàn bà cũng có được những điều tiêu cực thường được coi như là của đàn ông, thì quả thực chẳng lợi lạc gì cho ai cả.   

LA.W.   Cái gì là ngộ nhận to tát nhất về ông và tác phẩm của ông?

D. Ðó là ý tưởng cho rằng tôi là một kẻ chủ trương hư vô chủ nghĩa bi quan yếm thế không tin tưởng vào bất cứ một cái gì cả, rằng tôi không cho một cái gì có ý nghĩa cả, và mọi văn bản đều vô nghĩa. Ðó là môt ý tưởng ngớ ngẩn và sai lạc trắng trợn và chỉ có những kẻ không hề đọc tôi mới nghĩ như vậy. Ngộ nhận đó về tác phẩm của tôi đã có từ 35 năm nay và thật khó mà tẩy trừ hết. Tôi không hề nói không có gì có một ý nghĩa cố định cả và chúng ta là những tên tù của ngôn từ. Những ai đọc kỷ tôi sẽ thấy tôi chú ý nhận mạnh đến sự xác quyết và đức tin, và tôi rất tôn kính những văn bản mà tôi đọc. 

LA.W.   Sát nghiệp có thể tiêu trừ nếu người ta hiểu biết thấu đáo tha nhân không?

D. Không bao giờ tiêu trừ được sát nghiệp vì sát nghiệp là một phần của thú tính nơi ta. Thú tính của con ngưởi là khả năng làm việc ác, và làm đau khổ kẻ khá có thể trở thành nguồn lạc thú. Không thể hoàn toàn tiêu trừ sát nghiệp, nhưng như thế không có nghĩa là chúng ta có quyền sát sinh – và một trong những chức năng cơ bản của triết lý và suy tư chính là kềm chế cái sát nghiệp bất khả tiêu trừ đó. Ðộc ác và mạnh hiếp yếu (hay bức hiếp) vẫn luôn luôn có đó, nhưng có thể chuyển hoá những thứ đó thành điều thiện mỹ thiêng liêng. Khi tôi viết, ý định bức hiếp cũng nổi lên theo, nhưng tôi đã cố chuyển hoá ý định đó thành một cái gì thích thú hơn là tàn sát – và dĩ nhiên, bạn luôn luôn có thể giết mà không cần ra tay. Tôi có thể giết một người mà không cần phải dứt sự sống của người đó, và tôi cũng có thể bức hiếp thiên hạ mà không cần tỏ ra hèn hạ ghê tởm. 

LA.W. Ý niệm về đất đai và quyền tư hữu hình như là căn cơ của đa số những xung đột giữa người với người. Những ý niệm ấy phát xuất từ đâu? Và tại sao chúng ta cứ khư khư ôm riết những ý niệm ấy?

D. Bao nhiêu thế kỷ qua, đô thị là trung tâm cốt tử của doanh nghiệp, nhưng những tiến bộ kỹ thuật hiện nay đã đổi thay điều đó, cũng như chủ trương sở hữu một cứ địa cũng khác xưa. Thế nhưng, ý niệm về cứ địa thì vẫn là một ý niệm trọng yếu. Mới đây, một người bạn của tôi có nói rằng ngày nay có hai điều không thể biến thành vô xứ và vô sắc hay ảo tượng. Thứ nhất là Jerusalem – không ai ham sở hữu một Jerusalem vô sắc, ai cũng chỉ muốn một mảnh đất hữu hình cụ thể thôi. Thứ hai là dầu hỏa. Những quốc gia tư bản sống nhờ dầu hỏa, và đã hẳn điều đó có thể thay đổi, thế nhưng toàn bộ xã hội sẽ sụp đổ nếu không có hay không cần dầu hỏa nữa. Dầu hỏa trở thành một vần đề là vì thế. Ở Hoa Kỳ, vấn đề này trầm trọng hơn là ở Âu châu, nhưng ít hay nhiều thì vẫn là một vấn đề trầm trọng. Hiển nhiên là ở Hoa Kỳ cái gì cũng phải nhiều hơn, phải to lớn hơn.     

LA.W.   Có phải quá khứ dễ đem lại đau khổ và khoái lạc cho con người hơn không?

D. Ðiều ấy cũng tùy người, tôi có được cái may là đã có một quan hệ tốt đẹp với quá khứ - tôi vẫn giữ những hoài niệm đẹp về những đoạn đời mà tôi biết là rất khủng khiếp. Tôi ao ước sống lại lần nữa đời mình y nguyên như cuộc đời tôi đang sống, và nếu phải tái sinh thì tôi mong se được tái sinh như thế này mãi mãi. Một khứ hồi miên viễn.

LA.W.   Hiện tại, điều gì đáng kể nhất với ông?

D. Biết trả lời sao câu hỏi này đây? Có nhiều chuyện công, chuyện tư, chuyện chính trị đáng kể đối với tôi, nhưng trong tất cả những điều đó, điều tôi hằng cảnh giác thường xuyên là tôi đang già đi, là tôi sẽ chết, và đời là ngắn ngủi. Tôi thường xuyên nghĩ đến thời gian còn lại của đời mình, và mặc dù từ nhỏ tôi cũng đã thường suy nghĩ như vậy, nhưng bây giờ với tuổi 72, ý nghĩ đó càng trầm trọng hơn. Tôi vẫn chưa chịu đầu hàng nghĩ rằng chết là điều không tránh được, và tôi nghĩ tôi khó mà đầu hàng chuyện này, chính điều này lan thấm vào mọi tư tưởng của tôi. Trên đời này có bao nhiêu điều khủng khiếp xảy ra, tâm trí tôi cũng đầy ắp những ý nghĩ, nhưng tất cả đều như diễn tiến song hành với nỗi niềm sợ chết riêng tư của tôi đó.

LA.W.   Lúc nào thì ông tự nghĩ là mình trưởng thành?

D. Thật là một câu hỏi hóc búa. Tôi luôn nghĩ rằng thiên hạ ai cũng có ít ra là hơn một phần đời, tôi thì có đến ba phần đời khác nhau. Lúc lên 20, tôi tự thấy mình khôn ngoan như một ông cụ non, bây giờ thì tôi thật như một thằng nhóc. Có một chút gì u hoài trong cảm nghĩ đó, bởi lý dù tôi vẫn cảm thấy trẻ trung trong lòng, nhưng khách quan mà nói, tôi biết tôi không còn trẻ nữa. Phần đời thứ hai mà tôi phải cưu mang là tuổi 72 bây giờ, và từng giờ từng ngày tôi phải đối đầu với những sự kiện nhắc nhở tôi tuổi tác đó. Phần đời thứ ba tôi cưu mang - và cảm nghĩ này chỉ có khi tôi ở trên đất Pháp mà thôi, là thời sách vở của tôi bắt đầu được in, đó là lúc tôi 35 tuổi. Tôi có cảm tưởng như đời mình ngưng đọng ở tuổi 35 trong thế giới văn hóa mà tôi đang hoạt động. Dĩ nhiên đó chỉ là giả tưởng, bởi vì trong nhiều khung cảnh khác, tôi vẫn được coi là một giáo sư già danh tiếng có rất nhiều tác phẩm. Tuy nhiên, tôi vẫn thích nghĩ mình là một nhà văn trẻ đang bắt đầu có sách được in, và thiên hạ xì xào: “Ừ, xem ra hắn cũng là đứa đầy triển vọng đấy chứ.”

Kristine McKenna
(LA Weekly ngày 8-14/11/2002)

derridapipe.gif (26989 bytes) Jacques Derrida lúc già, thích ngậm vố. Photos of Yale Univ.

Ghi nhận của người chuyển Việt:

Giải cấu luận là tiếng dùng để diễn dịch chữ deconstructionism, cũng có người dịch là Hủy tạo chủ nghĩa.

Giải cấu? Hủy tạo? Derrida muốn nói gì với ý niệm đó? Ðây là một câu hỏi mà trả lời cách nào cũng đúng, hay trả lời cách nào cũng sai cả. Tương tự như câu “Tôi đang nói dối đây!” vậy.

Bởi nghĩ rằng ngôn ngữ và chữ viết không có ý nghĩa tự tại thiêng liêng, mà chỉ là cạm bẫy, cho nên giải cấu luận là một cách bới lông tìm vết, một cách phá tung những khuôn vàng thước ngọc của cách nói và viết.

Thiên hạ không thể không mù mờ khi đọc Derrida hay nghe Derrida diễn giảng. Bởi vì, nếu đó là những câu văn, những lời nói trong sáng, mạch lạc, dứt khoát đúng sai đen trắng, thì Derrida không còn là Derrida và Giải cấu luận không còn là Giải cấu luận nữa. Bản dịch này có tương đồng chút nào với chính văn của Kristine McKenna không? Và Kristine McKenna có hiểu hết những câu trả lời của Derrida không? Thú thật, Hoàng tôi không dám quả quyết.

Trong truyền thống Tam giáo, lời lẽ của thánh hiền rất được khuyến khích tôn trọng. Tôn trọng nhưng không cố tín mù quáng. Với Lão giáo, chân lý tối thượng là điều không thể diễn tả bằng lời bằng chữ. “Ðạo khả đạo phi thường đạo. Danh khả danh phi thường danh”. Với Nho giáo thì “Tận tín thư bất như vô thư”. Với Phật giáo, lời Phật thánh chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng. Ngôn từ chỉ là phương tiện – dù là phương tiện cần thiết, như chiếc thuyền, chiếc cầu đưa người sang sông.

Giải cấu luận của Derrida có vẻ gần với Danh học của Công tôn Long được Trang Tử (369-286 trước Tây lịch) nhắc đến, ở chỗ cả hai đều muốn xé câu văn, băm lời nói thành từng mảnh. Với Công tôn Long, ngựa là ngựa, trắng là trắng, chứ không có cái gì gọi là “ngựa trắng” cả. Nói thế khác, câu kéo chỉ là một trò chơi tạm bợ, lý luận chỉ là quỷ biện, là trò chơi chữ nghĩa được đẩy đến chỗ phi lý tuyệt đối như chủ trương của Parmenides (510-450 trước Tây lịch). 

Bài phỏng vấn của của Kristine McKenna đã soi sáng một điểm kỳ thú đó là tại sao Derrida trở thành đao phủ thủ đối với những cấu trúc ngôn từ, tại sao Derrida đập phá khuôn thước của ngôn từ đến tận mạng như thế. Bởi vì Derrida thất vọng và bất mản đối với Do Thái giáo là tôn giáo cha truyền con nối của ông. Derrida bất mản rồi mê Nietzsche (1844-1900) hay vì mê Nietzsche nên bất mản? Không thấy Derrida nói rõ, nhưng cái chắc là Heidegger (1889-1976) chính là cửa ngõ đưa Derrida đến gặp Nietzsche, kẻ được lịch sử tư tưởng Tây phương mệnh danh là người ám sát thượng đế, khởi sự bằng cách triệt hạ những gian dối quá lậm của ngôn từ. Cả một đời suy tư của Heidegger được cô đọng trong bộ Sắc Tướng và Thời Gian

(Being and Time), nhưng Heidegger chỉ ra được một quyển rồi nín lặng luôn thì phải? Những gì ông tâm sự sau đó thì - như Kristine McKenna đã nhắc lại, ông yêu cầu là xin đợi ông biến mất khỏi cuộc đời rồi công bố. Tốt với đời đến thế thì thôi! 

Thần học - hay cách biện hộ và diễn dịch đức tin, là một thứ gian thương, một chuyện bán buôn không vốn, dựng thượng đế lên rồi bắt thượng đế phải lặng yên làm cái mộc củ khoai chứng thực những biện hộ và diễn dịch của mình. Nếu mai này thiên hạ thấy xuất hiện một thứ thần học luận bàn về ấu dâm, về hiếp con nít chỉ là tội lỗi (sin) với thượng đế chứ không phải là tội ác (crime) với con người thì cũng chẳng có chi ngạc nhiên. Thần học mà Derrida tố cáo là “Vinh dự giữ và đọc thánh thư Torah đã được bán phát mại trong đền thánh”. Derrida không tấn công thẳng vào đức tin hay tín lý, ông chỉ nhằm chiếc xe chuyên chở tín lý mà tấn công. Chiếc xe đó là ngôn từ. Ðó là cái lắt léo của Giải cấu luận.

Nếu thần học là một thứ gian thương, thì triết học có thể là trò chơi của những kẻ rắn mắt nhưng nhút nhát. Cả một đời đập phá tưng bừng nhằm vào ngôn ngữ và lập luận nề nếp nhưng Derrida lại quả quyết mình không phải là kẻ “chủ trương hư vô chủ nghĩa bi quan yếm thế không tin tưởng vào bất cứ một cái gì cả, (kẻ cho rằng) không cho một cái gì có ý nghĩa cả, và mọi văn bản đều vô nghĩa.” Derrida bảo ai hiểu ông như vậy là “ngớ ngẩn và sai lạc trắng trợn” vì ông luôn luôn “nhấn mạnh đến sự xác quyết và đức tin, và (ông) rất tôn kính những văn bản mà (ông) đọc”. Thế là huề cả làng. Bảo ông đập phá thần học triết học cổ truyền cũng được, bảo ông khiêm cung tôn trọng chữ nghĩa thánh hiền như tổ phụ Moses ôm hai bia đá ghi khắc 10 giáo lệnh của thượng đế truyền ra thì cũng xong! Và song quan luận này lại cũng là một phần của Giải cấu luận!?

Với Tây phương ngôn từ - Logos, le Verbe, ngôi Lời... là thiêng liêng. Nhưng ngôn ngữ vừa là thần linh, vừa là quỷ quái, vừa là hy vọng vừa là thất vọng, vừa là thăng hoa vừa là sa đọa. Cái chết của con người là khả năng gọi tên, và đặt tên. Tạo ra danh và mắc cứng vào danh, như bị mắc vào bẫy sập của mình dăng ra. Ðàng sau những cuộc chiến hiện đại của Tây phương là các thánh thư có tên Torah, Bible, Mein Kamp, Das Kapital, Koran. Chiến Tranh Lạnh giữa Thiên Chúa giáo Tây Âu và Chính Thống giáo Nga vừa chấm dứt hơn chục năm thì đến chiến tranh chống Khủng Bố giữa Hồi giáo và Thiên Chúa giáo, thấp thoáng đàng sau là thánh thư Bilble, Koran và tiếng hô xung phong của các giáo chủ. Ý thức được tính cách hư ảo và nguy hại của ngôn từ có khi là quá muộn. Empedocles (490-430 trước Tây lịch) đã lặng yên để lại chiếc dép trên đỉnh Etna trước khi gieo mình vào miệng núi tự tử. Người Tây phương sợ lặng yên như con két của La Fontaine sợ bị chủ phạt phải câm mõ vậy. Ðó hình như cũng chính là thảm kịch của Derrida khi nghĩ rằng mình dùng Giải cấu luận để đề cao sự xác quyết và đức tin, để tôn vinh các văn bản?

Derrida đang chênh vênh trên bờ vực, và chưa dám nhảy, và còn bảy bước ra ba bước vào bằng “45 đầu sách đã được dịch ra 22 thứ tiếng” như Kristine McKenna cho biết.

Thì cũng là chơi cả mà. Chỉ khác một điều là phải chăng Derrida vừa... chơi vừa run?

Hoàng Nguyên Nhuận. 

arrow.gif (848 bytes) đọc nguyên tác bài phỏng vấn triết gia Jacques Darrida

 

Home  |  Top Page | Về trang mục lục

© Thư từ và bài viết cho mục này, xin gởi attachment về email: giaodiem@giaodiem.net

. ..........