curley_sw_03.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .
 

AI LÀM THƠ? AI LÀ THI NHÂN? (*)

  • Hoàng Nguyên Nhuận

      ‘... lúc đó tôi đề cao cái tình yêu đề cao tôi khóc cái người vợ tử tế với mình hiếm có của mình lúc đó khóc như vậy là nó cho là khóc cái tình cảm riêng tôi làm vào cái lúc mà y như trong thơ nói đấy tôi lấy bà vợ rồi sau tôi đi vào bộ đội thì ở nhà bà ấy đi giặt bà ấy chết đuối ở sông mới lấy nhau được hơn tháng ấy mà thế rồi bà ấy chết ở sông tôi thấy đau xót tôi làm cái bài thơ ấy tôi khóc làm cái bài thơ ấy lúc bấy giờ họ cho là phản động...’ (Phạm Trần - Dù Bị Trù Dập, Nhà Thơ Hữu Loan Nhất Định Không Chịu Quỵ Luỵ ... - Ngày Nay, Houston,  số 492, ngày 15/11/02).

      Lối nói lẫm cà lẫm cẩm điểm xuyết bằng những tiếng dư không hẳn là dư mà thiếu cũng không thể nói là thiếu như nó, cái, sự, thì, mà, rằng, là, họ... không phải là điều hiếm hoi ngay cả với những ‘nhân vật’ tiếng tăm. Cựu Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu và Nguyễn chí Thiện là những ví dụ. Nhưng nghe hay đọc những lời chân chất trích dẫn ở trên, người ta thật khó mà tưởng tượng nổi đó chính là lời của Hữu Loan giải thích với phóng viên Đài BBC về xuất xứ của bài thơ Mầu Tím Hoa Sim?! Lịch sử văn họcViệt Nam không thiếu những bài thơ lẫm cà lẫm cẩm, đã hẳn. Nhưng Mầu Tím Hoa Sim không phải là bài thơ thuộc loại đó. Trái lại,theo Trần Độ đó là ‘bài thơ tình hay nhất trong 11 bài thơ tình của văn học Việt Nam kể từ thời nhà Lý’. Bài thơ đó, theo lời tác giả, nguyên văn thế này:

                        Nàng có ba người anh đi bộ đội
                        Những em nàng có em chưa biết nói
                        Khi tóc nàng xanh xanh
                        Tôi người Vệ quốc quân xa gia đình
                        Yêu nàng như tình yêu em gái
                        Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới
                        Tôi mặc đồ quân nhân
                        Đôi giầy đinh bết bùn đất hành quân
                        Nàng cười xinh xinh bên anh chồng độc đáo
                        Tôi ở đơn vị về
                        Cưới nhau xong là đi
                        Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại
                        Lấy chồng đời chiến chinh
                        Mấy người đi trở lại
                        Nhỡ khi mình không về
                        Thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê
                                                                   *
                                                                *    *
                        Nhưng không chết người trai khói lửa
                        Mà chết người gái nhỏ hậu phương
                        Tôi về không gặp nàng
                        Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
                        Chiếc bình hoa ngày cưới
                        Thành bình hương tàn lạnh vây quanh
                        Tóc nàng xanh xanh
                        Nắm chưa đầy búi
                        Em ơi giây phút cuối
                        Không được nghe em nói
                        Không được trông nhau một lần
                        Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
                        Áo nàng mầu tím hoa sim
                        Ngày xưa đèn khuya bóng nhỏ
                        Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa
                                                                   *
                                                                *    *
                        Một chiều rừng mưa
                        Ba người anh bị chiến trường đông bắc
                        Biết tin em gái mất
                        Trước tin em lấy chồng
                        Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
                        Em nhỏ lớn lên
                        Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
                        Khi gió sớm thu về
                        Cỏ vàng chân mộ chí
                        Chiều hành quân qua những đồi hoa sim
                        Những đồi hoa sim
                        Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
                        Mầu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt.

      Bài thơ từ đầu đến cuối chỉ có một dấu chấm (.). Không biết đó là cố ý của Hữu Loan hay vô tình của Phạm Trần, người ký chú lại bài phỏng vấn Hữu Loan của Đài BBC cho tờ Ngày Nay? Cố ý hay vô tình cũng đều là may cả, cho tác giả cũng như người đọc, bởi vì chấm phết nhiều khi là chuyện nghịch ngợm hơn cả ông Trời và dở hơi hơn cả Quận Hách. Một trong những bằng chứng sáng tạo được ồn ào ca ngợi của cái gọi là thơ-tự-do chính là ‘tài’ chấm phết, ngắt câu, ngắt đoạn tùy tiện, và những thủ thuật sáng tạo ex nihilo khác bằng cách dùng các dấu khác như: //, /, *, -, _ và space... trên bảng phím của máy điện toán. Thơ của Du Tử Lê là một ví dụ. 

      Hoàng tôi không thể đoan quyết đã được đọc, được nghe ngâm, nghe hát bao nhiêu bài Mầu Tím Hoa Sim. Hi vọng bài Mầu Tím Hoa Sim trong tờ Ngày Nay trích dẫn ở trên là văn bản cuối cùng và chân xác của văn học Việt Nam. Hữu Loan bảo Trần Độ cho đó là một trong mươi bài hay nhất, nhưng cả Hữu Loan và Trần Độ đều không nói thêm những bài kia là bài nào? Cầu mong Trần Độ đúng khi nghĩ đó là một bài thơ ‘hay’, hay nếu không thì cũng là một bài thơ khó mà chê ‘dở’ của văn học Việt Nam xưa nay.

      Nhưng hay là gì, dở là gì? Đã hẳn, hay dở là một ý niệm tương đối như bao nhiêu ý niệm khác con người bày ra để tự trói buộc tâm tư mình. Hay hay dở không chỉ nằm trong ngôn từ, âm thanh được thu nhận bằng cảm quan. Hay hay dở có thể hệ tại ở ngoài và ở trên ngôn từ âm thanh, sau khi ngôn từ đã lắng, sau khi âm thanh đã tắt. Thật vậy, chức năng của ngôn từ và vần điệu là đưa con người đến gần sự thật như con tàu đưa bộ hành đến sân ga. Xuống tàu rồi, phải đi nữa – trước hết là rời sân ga, chứ không phải đứng ỳ trên sân ga. Văn, nhạc và thơ cũng đều thế. Đọc bài thơ rồi phải cố gắng đi xa hơn những lời thơ để được gần hơn với tâm cảm của tác giả của bài thơ đó, hay thi tứ mà bài thơ đó có thể tự động gợi ra ngoài ý tác giả. Ngôn từ và vần điệu giúp người đọc lấy trớn đi tới. Hay dở phần nào cũng tùy thuộc cái đà, cái trớn đó. Thơ của Bùi Giáng là một ví dụ. Với đa phần những bài thơ của Bùi Giáng, nếu người ta lẩm cẩm phân tích chi ly ngôn từ, âm thanh, vần điệu có thể phát âm, có thể thu nhận bằng cảm quan, như người ta diễn đạt một sự vật bằng các công thức hóa học hay các phương trình vật lý thì cũng chẳng khác gì loay hoay phân tích vôi vữa xi măng để tìm vẽ đẹp của pho tượng  Vénus de Milo.

      Mầu Tím Hoa Sim có phải là một trong 11 bài thơ hay nhất của văn học Việt Nam không, Hoàng tôi không có thẩm quyền đoan quyết. Nhưng dù có chẻ sợi tóc làm tư hay bới lông tìm vết đến mấy, tôi vẫn không có gì phản đối Trần Độ khi Trần Độ cho rằng đó là một bài thơ hay. Hoặc ít ra, đó là một bài thơ mà tôi khó có thể dễ dàng nói dở chỗ nào, hay dễ dàng nhắm mắt vứt đi.

      Thế nào là thơ hay? Thế nào là thơ dở? Thơ dở là quái thai của kẻ tưởng mình biết làm thơ, và thơ hay là sản phẩm của người có tài làm thơ. Tài là kẻ làm ra được một cái gì hết-cho-chê. Thơ hay là bài thơ hết chỗ chê. Hết chỗ chê thì quý hơn khen vì chê bao giờ cũng dễ hơn khen. Chê dễ mà không chê nổi, thế là hay rồi? Điều bất công và nguy hiểm cho nghệ sĩ hay nhà sáng tạo là người thưởng ngoạn hay nhà phê bình thường rất hà tiện lời khi nói hay chỗ nào, nhưng lại rất dễ dãi hào phóng ngôn từ khi nói dở chỗ nào? Phần nào cũng dễ hiểu thôi. Vì nếu không khó khen, nếu nói hay là chuyện... dễ ợt thì mấy người giỏi nịnh hay mấy nhà gọi là phê bình văn học làm sao ăn ra làm nên?! Ước mong sao Hoàng tôi chưa phạm điều bất công đó đối với bài Mầu Tím Hoa Sim.

      Bảo thơ dở thơ hay đã là khó, bảo thơ là gì lại càng khó hơn. Người ta tránh định nghĩa thơ là gì cũng như người ta tránh câu hỏi người là gì vậy. Thơ là gì? Cách định nghĩa thông thường nhất là bảo thơ không phải là cái này, thơ không phải là cái khác. Ví dụ như bảo thơ không phải là văn, hò, vè, hát nói... Nhưng định nghĩa như vậy thì cũng chẳng khác gì bảo là người không phải là lang sói, không phải là cây sậy... hay an toàn lách né như Pascal khi nói: người không phải là thiên thần mà cũng không phải là quỷ sứ.  

      Đã hẳn, không ai cấm người ta theo chủ trương tuyệt đối theo đó ‘Bài thơ hay là bài thơ chưa hề được viết ra.’ Nói nghe cũng phiêu diêu tự tại lắm, nhưng chưa được viết ra thì làm sao mà bảo đó là thơ? Khổ lắm! Cho nên, không nói được thơ là gì thì ít ra - theo tiêu chuẩn xác quyết, cũng có thể bảo chất liệu của thơ là ngôn từ và vần điệu. Ngôn từ không mà thôi là văn, vần điệu không mà thôi là nhạc có lời. Không thể đem một bài thơ ra mà hát nhưng cũng không thể hát nếu lời nhạc không có chất thơ, nghĩa là không có vần điệu. Trừ một phần của tuồng cải lương, hát bội của Việt Nam hay Opera của Tây, dĩ nhiên.

      Văn không cần vần điệu mà chỉ cần ngôn từ. Thơ vừa cần vần điệu vừa cần ngôn từ. Cho nên người Việt không đọc thơ như người ta đọc văn, đọc sớ. Người Việt ngâm thơ. Ngâm là một lối hát. Viết một văn bản không để mà ngâm là viết văn. Hệ luận của nhận định đó là thứ nhất, thơ tự do hay thơ chỉ chú trọng đến ngôn từ và bất chấp vần điệu là thơ lập dị ngụy biện; thứ hai, thơ chỉ có vần điệu mà không chú trọng đến ngôn từ hay ý thơ là một cách sắp chữ chứ không phải làm thơ.  

      Thợ sắp chữ? Đây là trường hợp của những người làm thơ rất đúng niêm luật, bằng bằng trắc trắc... không chê vào đâu được. Nhưng ý thơ thì chẳng ra gì, chỉ là khuôn sáo, nhai lại và ăn cắp, theo kiểu:

Nửa đêm/giờ Tý/canh ba
Em là phận gái/ đàn bà/nữ nhi/

      Đây cũng là trường hợp của những người “thích” xướng họa đối đáp. Ba bài thơ của TTKh không phải là xướng họa mặc dù đó là những bài thơ để nói-với-một-người. Trường hợp Tôn thọ Tường và Phan văn Trị cũng không phải là xướng họa. Đó là bút chiến, là phản biện trong đó Tôn thọ Tường lúc nào cũng lăm le chờ Phan văn Trị hở ra bài nào là quật lại chết bỏ như kiểu dàn quân phục kích vậy. Tôn thọ Tường là người đã đưa kỹ thuật bút chiến chính trị lên hàng cao thủ.

      Xướng họa thông thường chẳng khác gì mấy cảnh hai người nựng má nhau khen qua khen lại những “Câu thơ Thi Xã, con thuyền Nghệ An” của nhau. Cứ ì à ì ạch, lập cà lập cập như những người nhảy bao bố hay hai chân xỏ một ống quần...

Một trường hợp thợ chữ nữa là dịch thơ ra thơ hay lấy thơ dịch thơ. Ngôn từ và vần điệu mỗi nơi một khác. Làm sao mà một người Hoa, người Pháp, người Mỹ, người Nga có thể rung động khi nghe người Việt ngâm thơ Việt và trái lại? Mặt khác, có người nào dịch-thơ-ra-thơ mà được tiếng là nhà thơ, thi nhân, thi sĩ đâu. Trừ những người đã từng là thi sĩ trước khi dịch-thơ-ra-thơ như Huy Thông, Tản Đà. Một số người Việt có thể nhớ những bài thơ Đường diễn âm Hán Việt, nhưng mấy ai nhớ đến những bài dịch-thơ-ra-thơ của Trần trọng San, Trần trọng Kim, và ngay cả của Tản Đà?

      Cầu mong những người yêu thơ Trung Hoa sẽ làm một việc bổ ích cho cả người Việt lẫn người Hoa là dịch-sát-nghĩa những bài thơ đó cho những người Việt không biết chữ Hán thưởng thức được ý nghĩa của bài thơ, thay vì dịch thơ bằng thơ một cách luộm thuộm ép uổng mù mờ. Trường hợp thơ Pháp, thơ Anh, thơ Nga có thể cũng vậy, dù trong lãnh vực này không phải không có những người nổi tiếng như Pierre Đỗ Đình hay Huy Thông. Nói chuyện dịch-sát-nghĩa, Hoàng tôi bỗng rùng mình nhớ đến lần trót dại đọc một loạt mấy bài trên một tờ báo văn học tranh luận về nghĩa và cách chuyển Việt của ba chữ “tịch mịch hồng” của một nhà thơ Trung Hoa nào đó. Trà dư tửu hậu thừa giấy vẽ voi đến mức ấy thì thật không còn thứ thuốc an thần nào đáng gọi là công hiệu nữa.

      Dịch sát hay không sát thì có quan trọng gì đâu. Ngôn từ bất quá cũng như chiếc chiếu phủ lên những người nằm ngủ, làm sao gói trọn hết thịt da thân thể những người đó như kiểu bó giò chả, Thánh thư của Thiên Chúa giáo có cả hàng bao nhiêu bản dịch khác nhau và chọi nhau chí chát. Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa Tâm Kinh của Phật giáo có ít ra cũng là tám bản dịch... Điều ấy đâu có làm cho Chúa hay Phật nổi trận lôi đình vì lo đồ đệ đi lạc đường?  

      Nhưng dịch sai là một chuyện, dịch cố ý sai vì nhu cầu phải dịch thơ ra thơ là chuyện khác. Sau năm 1975, tại trại T.4 Phan đang Lưu, Hoàng tôi may mắn ở chung phòng với một anh bạn nguyên là thư ký riêng của Đại sứ Hồ Liêm. Anh này rất giỏi văn học Trung Hoa và nói tiếng Việt còn sành hơn tôi, nên tôi bám riết anh để học chữ... Hán giết thì giờ. Thời gian ngắn ở với anh tôi học được về văn chương Trung Hoa nhiều hơn bao nhiêu năm ở Trung học đệ nhị cấp và Đại học. Bài thơ mà anh chịu khó mất nhiều thì giờ nhất cho tôi là bài Trường Hận Ca của Bạch Cư Dị. Sau khi ra khỏi Trại T.4, vật đổi sao dời, số chữ Hán anh dạy tôi viết chẳng may đã biến mất khỏi đầu óc tôi đến... 99,9% nhưng bài Trường Hận Ca thì không. Mới đây, đọc Dòng Việt số 11:2002, tôi mừng như bắt được vàng khi thấy lại bài Trường Hận Ca với nguyên bản chữ Hán, phần phiên âm Hán-Việt và phân dịch-thơ-ra-thơ. Tôi không khỏi khựng lại ngay với câu thơ dịch đầu tiên của bài này, nguyên văn là Hán hoàng trọng sắc tư khuynh quốc, được dịch ra là Mến sắc, vua nhớ người nghiêng nước. Biết qua tiểu sử Bạch cư Dị và nguyên lai của bài Trường Hận Ca hẳn ai cũng thấy từ “Hán” là từ quan trong nhất của toàn bài thơ. Không có từ đó thì Bạch cư Dị cũng khó mà bảo vệ cái đầu trên cổ với các vua nhà Đường khi dám trách “vua mê gái đẹp”. Dịch như vậy thì thật là chết người... cả người đọc lẫn người làm thơ.

      Thơ tự do là một thứ lập dị ngụy biện? Đây là hệ quả của hội chứng ‘Tấp tễnh người đi tớ cũng đi’, thấy Tây có thơ tự do mình cũng phải có thơ tự do. Một dạo, những người ‘hậu hiện đại’ chủ trương theo mới chết bỏ bằng cách... đi thụt lùi trở lại thế kỷ trước hay mấy thập niên trước, đã ì à ì ạch dựng tượng cho Thanh Tâm Tuyền như là kẻ khai sáng đại đạo Thơ Tự Do. Ồn ào thật, nhưng mấy ai thuộc được dăm ba câu hay một bài ‘thơ tự do’ của Thanh Tâm Tuyền? Phải chăng chỉ vì Thanh Tâm Tuyền không làm thơ mà chỉ tự do gọi những chữ ông viết là thơ, và vì ông tự do gọi đó là thơ nên cái đó đã trở thành thơ tự do?

      Thơ là một trò chơi, và trò chơi ít nhiều phải có luật của trò chơi đó. Tự do là tự do chấp nhận luật chơi chứ không phải tự do bất chấp luật chơi. Luật chơi của bóng đá là 22 mạng chia thành hai phe để dành một trái banh theo một số lề luật “được phép” hay “cấm” nào đó. Thơ cũng vậy. Nếu muốn tự do hoàn toàn, nếu muốn bất chấp những nguyên tắc căn bản tối thiểu của vần điệu thì làm thơ làm gì, thì phải xác nhận là mình làm thơ hay viết văn làm gì? Cứ tự do nhắm mắt viết phứa ra, ai tự do gọi đó là gì thì gọi. Cho nên, thơ tự do là một sản phẩm của lập dị ngụy biện. Đã hẳn, những nhà thơ tựhận làm thơ tự do sẽ hoàn toàn tự do để phủ nhận chuyện đó. Cũng xong thôi, chẳng chết ai cả. Chơi mà! Nhưng chơi thì cũng phải có luật. Tự do chơi không phải là phá bĩnh, tự do chơi là tự do chấp nhận luật chơi, nghĩa là tự nguyện kềm chế tự do của mình trong lúc chơi. Nhà thơ là kẻ tự do chấp nhận luật chơi. Luật của ngôn từ và vần điệu. Cho nên, tự do làm-thơ-tự-do là điều... thừa.

      Nhà thơ là một người chơi, người làm xiệc, một nhà ảo thuật với ngôn từ và vần điệu. Nhưng không phải ai cũng làm được chuyện đó. Bởi vì người làm xiệc, nhà ảo thuật, cũng như nhà thơ, nhà văn... là những người chuyên môn, những người có năng khiếu đặc biệt  – sui generis, theo hạng loại của họ. Đó là điều tôi được “mặc khải” khi đọc bài Dù Bị Trù Dập, Nhà Thơ Hữu Loan Nhất Định Không Chịu Quỵ Luỵ... của Phạm Trần trên tờ Ngày Nay dẫn thượng.

      So sánh ngôn từ của bài Mầu Tím Hoa Sim và lời giải thích của Hữu Loan tại sao có bài thơ đó thì sẽ thấy không phải ai cũng làm thơ được, không phải nói được viết được là làm thơ được. Nhà thơ là người thực sự có tài làm thơ nhưng không tất yếu là người ‘nhả ngọc phun châu’, là người thở ra thơ, nói ra thơ. Xin hãy nghe Hữu Loan trả lời trực tiếp phóng viên Đài BBC, nghĩa là nói chứ không viết:

      Phóng viên BBC: Thưa ông, nhưng mà ông ở trong quê như vậy thì ông có theo dõi những cái tình hình chung của đất nước không ạ?

      Hữu Loan trả lời: Có chứ, tôi theo dõi chứ. Tôi theo dõi những cái tình hình chung của đất nước bây giơ là lừa đảo rối bét, ăn tham bẩn nhất là thằng nào cũng lợi dụng trèo đầu cỡi cổ thằng dân chứ có cái gì đâu...

      Trên tờ Ngày Nay, câu trả lời của Hữu Loan được chấm phết đàng hoàng. Nhưng ai làm chuyện chấm phết đó? Chắc là không phải Hữu Loan rồi. Hữu Loan chỉ nói, nói một mạch, nên câu nói dẫy đầy những tiếng “đệm” có cũng được mà không lại càng được hơn. Vì không chấm không phết nên lời nói cũng giống như con tàu đứt thắng lừng lững tiến tới, không dừng ở ga lớn, không dừng ở ga xép, như chính lời Hữu Loan nói cho thông tín viên BBC biết tại sao có bài thơ đó.

      Hú hồn hu vía, may là Hoàng tôi không nghe được lời tâm sự của Hữu Loan với Đài BBC trước khi đọc bài Mầu Tím Hoa Sim. Bằng không tôi đã phạm một bất công không thể tha thứ, đó là nhắm mắt phán: Hữu Loan cà rịch cà tang như vậy chắc thơ ông ấy cũng... cà tang cà rịch như vậy thôi, đọc chi cho phí hơi mất thì giờ!

Hữu Loan nói chuyện khác xa Hữu Loan làm thơ. Hãy xét đến một ví dụ tương tự khác. Một trong những bài thơ nổi tiếng khác của Hữu Loan là bài Chiếc Chiếu, nguyên văn theo Hữu Loan:

                        Có ai thấy một  người cha
                        Từng buổi từng buổi
                        Trước tủ kính cửa hàng
                        Tì mũi dẹp như quả bóng xuống hơi
                        Thầm đọc đi đọc lại giá hàng từng thứ đồ chơi
                        Dù nhiều lần đã hạ giá
                        Trong óc nổi bòng bong từng mớ
                        Những cơm đến gạo đến quần đến áo
                        Đôi chiếu nằm rách từ giữa rách ra
                        Tục ngữ nói rằng không những chiếc nhà dột từ nóc trên dột xuống
                        Từng sáng mai nhìn gầm giường
                        Đốt cói rụng đầy như chiếu rụng đốt xương
                        Gió thổi từ dưới thổi lên
                        Muỗi cũng đốt từ dưới đốt lên
                        Nhưng con đái dầm lại tiện
                        Ròng rã mười năm kháng chiến
                        Cầm vững hai tay
                        Một cái tinh thần
                        Choảng nhau với súng với bom
                        Gian khổ còn ư?
                        Bố con ta lại vung cái tinh thần như tráng sĩ vung gươm
                        Chong chóng không quay
                        Con vứt đi phụng phịu
                        Sáng kiến làm đồ chơi
                        Bố thì không thiếu
                        Bố lại lấy lá dứa vận cho con cái kèn
                        Bố thổi nó kêu lên tò he tò he
                        Con đắc trí giật kèn đi thổi khắp Ô Kim Mã
                        Tò he tò he
                        Như một thiên sứ hài đồng
                        Xuống lệnh điềm tin
                        Tò he tò he
                        Nhớ truyện Đông Chu
                        Sao đỏ sao đen
                        Tò he tò he.

      Tại sao có bài thơ ấy? Đây là câu trả lời của Hữu Loan:

Tôi rất bằng lòng về tôi bởi vì tôi đã bênh vực được những người nghèo tôi đã làm được những các chức việc đạo đức mà tôi đã đánh những cái quân gọi là cái quân cường quyền cái quân mà gội là lừa đảo bịp bợm lừa trời lừa đất tôi đã đánh được quân ấy cho cả nước và tôi không có ngơi một lúc nào không có cách nào là tôi cũng vẫn kiếm cách để tôi đánh chúng nó thí dụ như khi tôi về rồi thì thấy cái cảnh cán bộ khổ quátôi làm cái bài thơ chiếc chiếu đấy cái bài thơ chiếc chiếu đấy thì tôi làm ra một cái thì nghĩ về gần cán bộ khổ quá nhà ai cũng vậy chiếc chiếu nằm cũng không có mà nằm cán bộ đói đến như vậy thế thì là đầu tiên tôi làm cái bài ấy thì Tran Dần cũng bảo là đấy cũng là chiếu của văn nghệ chiếu của Hữu Loan tức là chiếu của văn nghệ sĩ nhưng mà đến sau này thì cái chiếu ấy lan ra cả công nhân viên chức công nhân viên chức nào cũng có cái chiếc chiếu giống như cái chiếc chiếu mà tôi viết đấy là chiếu của Hữu Loan đấy.’   

      Hữu Loan nói đúng? nói sai? đúng bao nhiêu? sai bao nhiêu? đó là quyền và trách nhiệm của Hữu Loan, đây chưa phải là nơi để bàn chuyện ‘chính trị’ đó. Điều có thể nhất trí ghi nhận là lối nói chuyện lĩnh kỉnh, quê mùa, cục mịch, thẳng thắn của Hữu Loan hoàn toàn khác hẳn ngôn từ của bài thơ Chiếc Chiếu hay bài Mầu Tím Hoa Sim.  Đây là một khác biệt trớ trêu đậm nét uyên nguyên phát xuất từ một người có tài thơ, có khiếu làm thơ. Một người đã lọt mắt xanh nàng Ly Tao, được nàng Ly Tao tuyển trạch. Hữu Loan là nhà thơ vì ông có tài làm thơ, tài chơi với ngôn từ và vần điệu theo ý nghĩa ấy. Cho nên, Hữu Loan đánh ‘cường quyền,lừa đảo, bịp bợm’ nhưng không có giọng đạo đức chính trị kiểu bình ngô đại cáo. Vì Hữu Loan là một nhà thơ chứ không phải là một chính khách hay một nhà chiến lược như Nguyễn Trải.

      Hữu Loan nói chuyện như một người bình thường chân chất, sáng suốt, dùi đục chấm mắm nêm, nhưng làm thơ như một người nhập cốt, một người lên đồng, với một ngôn từ riêng, một rung cảm riêng của ông đồng bà cốt liên hệ đến những điều người bình thường không thể nói, không thể thấy được. Hữu Loan là một nhà thơ, nghĩa là một người thuộc về loại sở đắc một khả năng sáng tạo chuyên biệt bẩm sinh. Loại nhà thơ đúng nghĩa, đúng loại, đúng hạng. Khả năng đó là thiên chức, là nghiệp dĩ của những nhà thơ đích thực, làm cho họ đương nhiên khác với những thi sĩ học đòi, những thợ sắp chữ. Ngôn từ thường nhật của họ có thể đúng, có thể sai theo lý sự thường tình, nhưng lời thơ của họ thì không thể đánh giá hay phán đoán theo tiêu chuẩn lý sự bình thường, theo cái nhìn dung tục.

      Nhà thơ là kẻ thừa hưởng một loại di sản, một thứ ‘gia tài của mẹ’ đặc biệt của nhân loại, của giống nòi tích lũy qua ngàn vạn năm nói năng. Theo ngôn từ thời thượng, có thể gọi đó là loại gene hay DNA, hay một ngõ ngách nào đó trong não bộ liên hệ đến ngôn từ và vần điệu. Thử tưởng tượng những con người đầu tiên, những người Việt đầu tiên ngàn vạn năm trước. Ngôn ngữ phát xuất từ nhu cầu trao đổi kinh nghiệm sống, nhất là nhu cầu sống còn. Như gà tục tác, như chó sủa, như chim hót. Chứ không thể lôi thôi lếch thếch với những cái, sự, thì, mà, rằng, là, nó hay tuy nhiên, rồi ra, nhưng mà, lại nữa, vã lại... Phải ngắn, phải gọn, phải có vần điệu đơn sơ cho dễ nhớ, dễ hiểu, dễ phản ứng nhanh và đúng. Do đó mà có tục ngữ, ca dao, hò, vè, và ít thực tế vụ lợi hơn là câu đối, trau chuốt hơn là thơ lục bát. Tất cả đều có vần điệu. Vần điệu uyên nguyên đó có thể nói là những gene, những DNA của tổ phụ loài người, tổ phụ một dân tộc truyền lại cho các nhà thơ. Làm thơ trở thành một nghiệp dĩ, một định mạng. Cho nên, nhà thơ là hạng người đã nổi danh thì nổi danh hơn ai cả trong một dân tộc, một nước. Nổi danh một cách hữu danh như những thi hào, thi bá, thi nhân, một cách vô danh như tác giả của những câu ca dao tục ngữcâu hò câu hát... Đó là mặc khải mà Hữu Loan và bài Mầu Tím Hoa Sim hay bài Chiếc Chiếu cho phép Hoàng tôi mạnh miệng khi thử trả lời câu hỏi Ai làm thơ? Ai là thi nhân?          

      Sau hết, nếu muốn người ta có thể bảo Mầu Tím Hoa Sim hay bài Chiếc Chiếu là những bài thơ tự do, dĩ nhiên. Nhưng chắc hẳn đây không phải là những bài thơ cố ý tự do như quý vị... hậu hiện đại làm thơ tự do, cổ vũ thơ tự do, hô hào tự do... làm thơ tự do.

Hoàng Nguyên Nhuận.
Lập Xuân Quý Mùi 2003.

Ghi Chú:

(*) Đây là phần hiệu đính của bài đã được phổ biến trên tạp chí PGVN số Xuân 2003.

  

arrow.gif (848 bytes) Về trang Nghiên cứu & đối thoại tháng 3-2003

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: hopthu@giaodiem.net

. ..........