curley_sw_03.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .
 

                        UNCLE SAM : CHÚ LÀ AI ?

  • Hoài Việt.

Bài viết này dựa trên quan điểm và lập trường chính trị cá nhân của tác giả Hoài Việt, không nhất thiết phản ánh quan điểm của trang nhà GĐ.- This article is written based on the personal vision and research by author Hoai Viet, who is responsible for the opinion and political platform that he carries out. Web Giao Điểm.


Dẫn Nhập.

    Kể từ sau thế chiến thứ hai, thế giới chia ra làm hai phe, một bên là xã hội chủ nghĩa do Liên-Xô lãnh đạo, bên khác là chủ nghĩa tư bản do đế quốc Mỹ cầm đầu. Cậy vào thế giàu mạnh liên tiếp mây chục năm đế quốc Mỹ vũ trang can thiệp cũng như thực hiện chiến tranh lạnh nhằm mục đích tiêu diệt chủ nghĩa xã hội nhưng đều gặp thất bại. Do đó, chú Sam đề ra chiến lược “Diễn biến Hòa bình” nhằm thực hiện vết dầu loang, trong đó có âm mưu họat động phi vũ trang, phi quân sự với chiến thuật giật sập chủ nghĩa xã hội ra từng mảng, nhằm vào nước nào yếu nhất. Vì không thực hiện đúng đường lối xã hội chủ nghĩa cộng với tính cách xét lại, chủ quan, khinh địch nên ông Gorbachev đã bị đế quốc, tư bản dùng chiến lược “Diễn biến hòa bình” cho vào xiệc lúc nào mà ông không hề hay biết. Nhưng đến khi biết thì đã muộn ! Đấy là vụ Ba-Lan. Cũng vì vậy mà hồi đó các người lãnh đạo Trung Quốc đã gọi những người lãnh đạo Nga-xô là: “bè lũ xét lại”.

    Người lãnh đạo đã đi sai đường thì làm sao dẫn dắt đảng viên, quần chúng nhân dân đi đúng kim chỉ Nam của chủ nghĩa xã hội được. Vì thế Chủ nghĩa Mác-Lê bị phe đế quốc tư bản gán cho đủ tiếng xấu. Trong khi chế độ tư bản tuyên truyền, gieo rắc tư tưởng :“Tự do, dân chủ”. Những danh từ đó nghe ra thì thật đẹp, thật hay nhưng chỉ là ảo tưởng, xa vời thực tế. Xét cho cùng, nếu có tự do, dân chủ thực thì chỉ có một thiểu số người giàu có hoặc có quyền cao chức trọng được hưởng. Còn giới bình dân và vô sản thì phải chờ đến kiếp sau. Thời gian nầy, ở các nước không theo chủ nghĩa tư bản bị các nước tư bản tuyên truyền đầu độc, lôi cuốn giới trẻ vì họ thiếu kinh nghiệm sống và chiến đấu nhất là về mặt tinh thần. Cộng thêm, một số chưa được đào tạo, huấn luyện nên không nắm vững lý thuyết Mác-Lê nên dễ bị lôi cuốn bởi những danh từ hoa mỹ hoặc thấy bề ngoài mà chưa thấy bên trong.

    Sau khi Liên-Xô và khối Đông-Âu sụp đổ vì bị ngón đòn “Diễn biến hòa bình” do đế quốc tung ra. Chỉ có Bắc Triều Tiên và Việt Nam thoát khỏi vì còn giữ được bản chất xã hội chủ nghĩa nhờ văn hóa khác biệt và nhận thức được nguy cơ, cộng thêm lối sống chịu đựng gian khổ, không màng vật chất. Riêng ở Việt Nam còn có tư tưởng Hồ Chí Minh để giữ vững lập trường. Đó là tư tưởng Dân Tộc nhất quán. Mùa hè năm 1989 đế quốc Mỹ đã thực hiện kế hoạch “Diễn biến hòa bình”, đã nắm được một ít giới trẻ và sinh viên Trung Quốc để gây rối hòng thực hiện kế hoạch tất thắng, sẽ chiếm được Trung Quốc mà không tốn một viên đạn. Giữa tình thế khốc liệt ấy, giới lãnh đạo Đảng Trung Quốc đã mau chóng nắm được tình hình và phản công lại, quật ngã được những tên phản động và mang lại an ninh trật tự cho nhân dân. Đánh thẳng vào kế hoạch của kẻ thù không những làm cho lực lượng của chúng vỡ ra từng mãng mà còn phản công áp đảo, tiêu diệt để cuối cùng mang đến thắng lợi. Biến cố tại Thiên An Môn là một bài học nằm lòng cho giới lãnh đạo Trung Quốc.

    Tuy nhiên, ở Việt Nam, các thế lực thù địch ở ngoài nước và bọn phản động trong nước đang cấu kết với mhau để tìm kiếm cơ hội tiến hành “Diễn biến hoà bình” bằng nhiều cách như: lấy chiêu bài tôn giáo để thực hiện âm mưu, tuyên truyền chia rẽ, vu cáo Nhà nước .... Nhất là về lãnh vực xây dựng kinh tế ta chưa có kinh nghiệm và chưa quán triệt. Chủ nghĩa tư bản nắm và tính vào sản xuất vì chúng có vốn lớn. Trái lại, ta nghèo tiền bạc nên phải nhằm vào “năng xuất lao động”. Như vậy, ta cần phải có tổ chức, học tập, giác ngộ về đường lối xã hội chủ nghĩa, thế náo là bóc lột cho quần chúng hiểu, nhất là với giai cấp công nông. Vì đó là lực lượng vô sản nòng cốt cho nên ta phải đào tạo thêm cán bộ để lãnh đạo, làm thành sức mạnh đấu tranh khi cần thiết.                                                                                      

           NHIỀU NGƯỜI CÒN NGỚ NGẨN
           KHÔNG BIẾT THỰC CHẤT CỦA CHÚ SAM  ?    

    Nhiều người từ đông sang tây đều hiểu “chú Sam” một cách lờ mờ, đại khái. Thực ra, Chú Sam là chính phủ Mỹ hay những người Mỹ đang làm việc cho chính phủ để thi hành một kế hoạch, đường lối, chủ trương quân sự, chính trị, văn hóa, ngoại giao v.v... nào đó bằng nhiều cách. Nói cho rõ chú Sam là tư bản, là đế quốc Mỹ. Chúng ta cũng cần hiểu thêm là chính phủ Mỹ khác với nhân dân Mỹ; nhân dân Mỹ cũng giống như nhân dân của các nước trên thế giới, có người tốt, người xấu.

    Đặc tính của chú Sam là đặc tính của tư bản, đế quốc khác  biẹt với giai cấp tiểu tư sản và vô sản. Nhất là sau khi khối Xã Hội Chủ Nghĩa (CS) sụp đổ thì chú Sam mới ló ra móng vuốt, xem thiên hạ không ra gì, muốn đánh nước nào thì đánh, muốn bắt ai thì bắt; bất chấp luật pháp quốc tế, bất chấp Hiến chương Liên Hiệp Quốc, và xem thường đạo lý. Nhân quyền chẳng có nghĩa gì với chú Sam vì chú ta nghĩ rằng bây giờ chỉ có mình là mạnh nhất, là vô địch thế giới. Cũng vì vậy mà chú Sam luôn có hành động kẻ cả, một mình một cõi, muốn tóm thâu thiên hạ vào một mối để thống trị với nhiều danh từ mỹ miều được che đậy rất kêu như: “Thế giới Tự Do” (Free World),“Trật tự của thế giới mới” (New World Order) ....

    Đặc điểm và bản chất của chú Sam rất nhiêu khê và khó phân biệt đối với những người có trình độ thấp và không có ý thức. Nếu đưa ra giải thích hay tranh luận thì rất phức tạp bởi vì sự ngoan cố, đánh lộn sòng giữa chú Sam và nhân dân Mỹ và cũng có nhiều người Mỹ thường tự nhận và tự hào về mình là người quảng đại, và nước mình là nước văn minh, tiến bộ nhất; hơn tất cả các nước khác và các dân tộc khác trên thế giới hiện đại.

    Nói về “chú Sam” là nói về con Người, mà mỗi khi nói về con Người thì mỗi Dân Tộc đều có đătính khác nhau. Đặc tính con Người không phải chỉ có “cảm xúc” (emotional) mà còn có ”lý trí” (reason) ... và từ đó người ta đi đến “nhận xét” (observe), phân tích (analyze)tổng kết (summarize) về  nhiều mặt: luân lý, nhân văn, lịch sử, địa lý, phong tục ....

    Ví dụ, bạn hỏi hai người, một người trí thức (có ý thức) và một người học thức (không có ý thức) về nước Mỹ và người Mỹ thì hai người sẽ trả lời khác nhau, không cứ họ là người Pháp, người Đức, người Nhật, người Mã-Lai, người Brazil, người Mexico, hoặc người Nam-Phi hay Somali ... Cái khác biệt đó suy ra không có gì lạ vì thông thường người không có ý thức sẽ nói theo “cảm tính” bồng bột (sensibility), còn người có ý thức thì họ dùng “đầu óc“ (mind) để nói lên sự việc một cách khoa học sâu sắc. Nhưng dẫu cho nhận xét bằng cách nào đi nữa thì không bỏ được lăng kính “hiện thực” khi nhìn vào chú Sam.

    Có người cho rằng Mỹ là một nước giàu mạnh nhất thế giới, sau 1945, với kế hoạch Marshall, Mỹ đã viện trợ cho hầu hết các nước nghèo trên thế giới bằng tiền bạc, lương thực và máy móc. Không phải chỉ có từng đó mà họ viện trợho cả súng đạn và bảo vệ cho cả tự do, độc lập và nhân quyền (chic) ...và còn nhiều thứ nữa ! Mới đây, đọc trên mạng lưới Internet có một nha sĩ (thuộc giói học thức) người Canada, ông ta rất bực tức khi đọc được bản tin trên Internet của một người Pakistan vô danh nào đó, muốn treo giải thưởng cho ai giết được một người Mỹ. Ông nha sĩ này không phải là một người Mỹ chính hiệu “Made in USA”, nhưng ông đã trả đũa người Pakistan nọ một cách hăng say, viết một bài trên Internet nói :

.... “Một người Mỹ từ mãnh đất thịnh vượng nhất của lịch sử thế giới. Nguồn cội của sự thịnh vượng đó được tìm thấy trong Tuyên ngôn Độc Lập, điều đó được nhìn nhận, và Thượng Đế ban cho mỗi người đàn ông và đàn bà quyền theo đuổi hạnh phúc. Người Mỹ là người độ lượng. Mỹ đã giúp tất cả các nước khi họ cần đến sự trợ giúp. Afghanistan bị quân đội Nga xâm chiếm đã 20 năm qua, người Mỹ đã đến tiếp tế vũ khí đạn dược để cho họ có đủ khả năng, để giành lại xứ sở. Như trong một ngày tháng chín, người Mỹ đã viện trợ cho Afghanistan nghèo đói, hơn tất cả các nước khác ... Nếu như một ai đó muốn giết một người Mỹ như Hitler đã làm, như tướng Tojo, và như Staline, Mao Trạch Đông là tất cả bọn khát máu độc tài trong lịch sử thế giới. Nhưng có điều làm như vậy cũng chẳng khác gì bạn tự giết mình. Ai có cái tinh thần nhân bản đó thì người đó chính là người Hoa-Kỳ...”.

    Ông nha sĩ Canada đó không tìm hiểu nguyên nhân rằng người Mỹ đã nhờ vào mãnh đất rộng lớn bao la phì nhiêu, nhiều tài nguyên. Trước đây, họ đã dùng vũ khí, súng ống tối tân để bắn giết, hầu như diệt chủng người Da Đỏ (Indians), chiếm đất của người Mễ-Tây-Cơ” (Mexican)  bằng bạo lực. Cả hai cuộc thế chiến nước họ không can gì, trái lại nhân tài ở khắp năm châu và tiền bạc đổ dồn vào Mỹ ...  Còn nói đến Thượng-Đế thì thật chán phèo ! Tại sao Thượng-Đế có đủ mọi uy quyền, phép tắc lại không sinh ra nhiều cặp vợ chồng trong một lúc, lại chỉ sinh ra có hai người thôi. Đó là ông Adam và bà Eve: thủy tổ của loài người để rồi sinh ra loạn luân; cha ngủ với con gái, mẹ ngủ với con trai, anh chị em ruột lấy nhau lộn tùng phèo chả ra cái thể thống gì cả. Vậy thì luân thường đạo lý để ở đâu ? Bởi vì loạn luân nên mới sinh ra chiến tranh, nên con người chém giết lẫn nhau tàn bạo !

    Còn bảo rằng người Mỹ là người độ lượng? Bây giờ mới nói người Mỹ độ lượng là trễ, là lạc hậu rồi ! Người Mỹ độ lượng đã từ khuya, từ khi lập quốc năm 1774-76. Sự độ lượng của họ làm người Da Đỏ xem như bị diệt chủng. Nhất là cả thế giới loài người biết được sự độ lượng của người Mỹ khi chú Sam mang hai qua bom nguyên tử ném xuống Hiroshima và Nagasaki ở Nhật nam 1945. Độ lượng đó chắc người dân Nhật phải nhớ đời, không bao giờ quên và phải được ghi chép vào lịch sử nhân loại.

    Những người khách quan hiểu biết không có thời giờ đào sâu thêm về nhận thức chủ quan (subjective perception) của ông nha sĩ đó. Nếu ông ta khách quan một chút thì giờ đây không còn nghe tiếng trống trận thúc liên hồi của bộ sậu Ngũ giác đài đe dọa tấn công và làm cỏ dân Iraq ngày này qua ngày khác.   

    Với lại trên quả đất nầy có hàng tỉ trái tim, hàng tỉ nhân tâm thì mỗi trái tim cuả bao nhiêu con người có bao giờ giống nhau ? Trái tim của tôi khác trái tim của ông nha sĩ đó, vì trái tim ông vốn dòng Anglo-Saxon; còn trái tim của tôi là trái tim của một người Việt Nam yêu nước bình thường không thích chiến tranh dù bất kỳ xẩy ra ở nơi nào ? Nói chung là tôi rất yêu quê hương và yêu hoà bình, tôi đã xa Việt Nam hơn 20 năm đằng đẳng nhưng tôi vẫn không sao quên quê hương Việt Nam, vẫn nhớ da-diết Việt Nam với lũy tre làng, nhất là vào những ngày Têt Nguyên Đán trước bàn thờ Tổ Tiên khói hương nghi ngút, với bánh chưng xanh, với thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ ... Do đó, tôi với quê hương Việt Nam như hình với bóng, tôi quan tâm, thích thú khi có một người nào đó nhắc đến hai chữ Việt Nam thân yêu ! Và cũng vì vậy tôi thích đọc những tài liệu và những bài viết về Việt Nam của bất kỳ là nhà học giả, nhà bình luận hay nhà văn ở bất cứ nước nào ....                                                                                                                

                                 CHƯƠNG : I                           

                                VỀ CHIẾN TRANH VIỆT-NAM.
    Sau đây là những tài liệu nói :
Về chiến tranh Việt Nam.
Về tình hình châu Mỹ Latinh
Về chiến tranh Iraq gần kề    
Trong VIETNAM How did we get in. How did we get out.
    Tác giả David Schoenbrun, trang 17, 42 và 43.     

   “Ông Hồ tập họp được nhân dân dưới lá cờ đánh Pháp không có một sự trợ giúp nào của lực lượng ngoại quốc. Nga-xô không nhìn nhận chế độ của ông Hồ từ đầu, mãi đến tháng 01 năm 1950 họ mới công nhận. Và những năm 1945, 46, 47 ông Hồ lãnh đạo toàn dân chống thực dân Pháp, Tàu đỏ cũng không nhìn nhận. Không có sự che giấu nào của lực lượng đồng minh sau lưng ông Hồ”. (trang 17).

    Tại sao Mỹ vào Việt Nam ? Vì trong đó có hai việc cấp bách. Một là Mc.Carthy tham dự trong âm mưu của Cộng Sản Quốc Tế có thể trở thành việc cảm tử chính trị để Eisenhower nhân nhượng Cộng Sản. Hai là hai anh em ông Dulles chống lại đảng Dân chủ với lý do để mất Tàu; vậy phải làm sao cho đảng Dân Chủ khỏi rêu rao là họ để mất Đông Dương cho Cộng Sản. Cho nên Eisenhower đã làm một việc chứng tỏ cho Cộng Sản thấy.

     Xét về phương diện thử thách tuyển cử trước mặt,  Pháp và Mỹ đồng ý nhìn nhận rằng bù nhìn Bảo-Đại không có cơ hội chống lại ông Hồ. Trong hồi ký của tổng thống Eisenhower viết rằng theo sự nhận xét của các quan sát viên uyên bác thì ông Hồ sẽ chiếm được 80% số phiếu bầu hơn hẳn Bảo Đại. Theo sự cần thiết, rõ ràng là những người quốc gia cần phải tìm được người lãnh đạo như thể  Ngô Đình Diệm.

   Diệm là một ông quan có đạo Thiên Chúa La-Mã đã từng phục vụ dưới chế độ thuộc địa Pháp trong thập niên 1930 ... Diệm rời Việt Nam năm 1950. Trong thời gian đó có một toán trí thức Mỹ thuộc đại học Michigan do giáo sư Wesley Fishel dẫn đầu, làm việc cho chính phủ Mỹ để tạo dựng một lực lượng an ninh cho Nam Việt Nam; ông ta nghe nói về Ngô Đình Diệm nên sau này ông mang Diệm sang Mỹ. Ông Diệm cũng được Phái đoàn Linh mục Maryknoll ở Ossining, NewYork bắt liên lạc. Những linh mục trí thức của Tòa Giám Mục NewYork cũng quan tâm đến ông Diệm.

     Vua Bảo-Đại được thuyết phục để chỉ định ông Diệm làm thủ tướng, việc này tiến hành mau chóng và dễ dàng vì Bảo-Đại không có quyền lực, không có uy tín và chỉ là bù nhìn. Sau khi được chấp chánh, Diệm liên lạc ngay với chính phủ Mỹ. Đến mùa thu năm 1954, Eisenhower chấp thuận viện trợ cho miền Nam Việt Nam có điều kiện. Bước đầu Mỹ bước vào vực thẳm và rước lấy thảm họa Việt Nam; trong lúc đó chuyện kháng chiến của ông Hồ là trách nhiệm của Pháp  với vài sự trợ giúp của Mỹ. Mùa thu năm 1954 Pháp bắt đầu rút khỏi Việt Nam, Mỹ khởi sự bước vào rừng già để gặp con hổ Việt Nam.   

     Một sự thực không ai chối cãi được, đấy là việc tập họp nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ông Hồ, dưới lá cờ kháng chiến chống Pháp là do nhân dân Việt Nam tự động làm và tự lo lấy, không có một nước nào giúp đỡ kể cả Liên-Xô và Trung-Quốc. Mỹ vốn biết, nếu thực thi tổng tuyển cử, phổ thông đầu phiếu hai miền Nam-Bắc Việt Nam theo quy ước của hội nghị Genève thì không những Bảo-Đại mà cả Ngô Đình Diệm cũng thua ông Hồ. Cả hai sẽ không thể nào có được số phiếu 20% theo như ước tính của những nhà chuyên môn nghiên cứu về Đông-Dương.

     Trong chiến tranh Việt Nam, khi Pháp mới bắt đầu trở lại Đông-Dương, Mỹ đã viêﮠtrợ cho Pháp phần nào vũ khí, nhất là Mỹ định dùng không lực Mỹ làm cầu không vận cho Pháp ở Điện-Biên-Phủ. Nhưng khi thấy không dễ ăn nên Mỹ lơ luôn, bỏ mặc một mình Pháp đối phó với cao xạ của Việt Nam. Thất thủ ở Điện-Biên-Phủ, đại tá De Castro phải đầu hàng Việt Nam. Mỹ vào cuộc ở chiến tranh Đông-Dương bằng cách hất cẳng Pháp ra khỏi Đông-Dương, lập ra được các chính phủ bù nhìn thân Mỹ ở miền Nam Việt Nam, Lào và Cao-Miên. Cầm chắc thắng lợi trong tay, Mỹ ào ạt tung quân vào Việt Nam và cũng đồng thời đổ viện trợ ngay cùng lúc ...

    Tuy tác giả David Schoenbrun viết về chiến tranh Việt Nam một cách quá tóm tắt nhưng ông cũng nói lên được phần nào sự thật và nhìn nhận rằng :

          “Mỹ bước vào Việt Nam như bước vào vực thẳm để rồi rước lấy thảm họa”.

                                                     New York Time in lại.

Toán Lansdale báo cáo không để lại vết tích công tác ở Sài-gòn trong năm 1954  và 1955.  

    Tiếp theo đây là trích dẫn báo cáo của Phái Bộ Quân Sự Mỹ tại Sài-gòn “Saigon Military Mission(viết tắt là SMM), một toán người Mỹ cầm đầu bởi Edward G. Lansdale, che đậy những hoạt động trong thời gian 1954-55. Báo cáo kèm theo nghiên cứu của Ngũ Giác Đài về chiến tranh Việt Nam; trong đó không kể rõ căn cước của tác giả hay ngày tháng. Trong trích dẫn xuất hiện nguyên văn, tuy vậy với sự hiển nhiên những chỗ in sai được chữa lại.

Lời nói đầu:    

     Đây là sự cô đọng các việc làm trong chiến dịch của một cuộc “chiến tranh lạnh” trong một toán chiến đấu được viết bởi toán đó tại chỗ, do các nhân viên góp nhặt nơi này một ít, nơi kia một ít. Có rất nhiều toán như thế ở kháp nơi: Mỹ, Anh, Pháp, Tàu, Việt Nam và còn có những nơi khác nữa. Mỗi nơi có một chuyện riêng để nói. Đây là chuyện của chúng tôi.

    Phái bộ Quân Sự Sài-gòn vào Việt Nam đúng vào ngày 01-06-1954 cùng đến một lần với những vị chỉ huy. Mặc dù vậy, đây là chuyện riêng của toán, phải đến tháng 08-1954 mới tạm gọi toán có được đầy đủ nhân số. Và như vậy từ tháng 08 năm 1954 đến tháng đến tháng 8 năm 1955 công việc của toán mới bắt đầu. Đây là những năm đầu thường xẩy ra bối rối và nản lòng. Hiệp Định Genève ký ngày 21-07-1954 chi phối, bắt buộc và hạn chế tất cả những người thuộc chính quyền Mỹ, kể cả Phái Bộ Quân Sự Sài-gòn hoạt động trong những lãnh vực như tình báo ... Tuy nhiên tình báo của kẻ thù lại che giấu được hoạt động ở phía Nam vĩ tuyến 17 và công nhận đạt được công việc an ninh mau chóng ở vùng bắc vĩ tuyến. Kinh tế và hệ thống giao thông miền Nam đã què quặt trong 8 năm chiến tranh. Từ chính phủ, trong đó kể cả quân đội và lực lượng an ninh đã khắc khoải từ chính sách thuộc địa chuyển tiếp sang tự trị là năm mà xẩy ra nhiều tai biến. Vấn đề nội bộ nổi cộm mau chóng là những lực lượng vữ trang xung đột với nhau trong hoàn cảnh nghi kỵ, ganh ghét và thù hân nhau mà quên đi mất kẻ thù chung là Việt Minh CS.

    Phái bộ Quân Sự Sài-gòn không những nhận sự bôi nhọ của đồng minh và  lẫn kẻ thù nữa trong hoàn cảnh chúng ta phải giúp đỡ ổn định chính phủ Diệm để tranh thủ trong lúc Cộng Sản đang tiếp thu ngoài Bắc. Chính phủ trong Nam gọi là chính phủ Việt Nam Tự Do giờ đây đã tạm thống nhất và đã biết phải làm gì để chống kẻ thù Cộng Sản. Chúng ta cảm ơn, vì ta đã có cơ hội giúp giải quyết một cách có kết quả không đầy một năm để đối phó với tình hình nguy hiểm trên thề giới.

 Công Tác :

     Phái Bộ Quân Sự Sài-gòn (SMM) đã được khai sinh tại Washington D.C với chính sách do cuộc họp sớm hơn năm 1954, trong lúc Điện-Biên-Phủ đang bị bao vây bởi Việt Minh. Phái Bộ Quân Sự Sài-gòn lặng lẽ vào Việt Nam để giúp đỡ chính quyền miền Nam, dĩ nhiên là hơn cả Pháp, trái với luật chiến tranh và người Pháp được xem như người bạn đồng minh nếu có thể. Cả Phái bộ (quân sự) lẫn toán (tình báo) đảm nhiệm hoạt động của các tổ chức bán quân sự (biệt kích, commandos, tự vệ Phát Diệm ...) để chống lại kẻ thù và phát động tổ chức chiến tranh tâm lý. Sau Genève, Phái Đoàn biến chế, chuẩn bị mọi phương tiện để quyết định cho các lực lượng bán quân sự hoạt động trong các vùng Cộng Sản để dấy lên một phong trào chiến tranh bí mật.

Điểm nổi bật trong năm:   

    Phái bộ Quân sự Sài-gòn bắt đầu làm việc ngày 01-06-1954 khi những người phụ trách toán như đại tá Edward G. Lansdale thuộc Không Lực Mỹ đến Sàigòn với một vài thùng hồ sơ, một ít áo quần, đến cái máy chữ còn phải đi mượn, ông ta được Không Đoàn 13 tại căn cứ Clark (Philippine) lịch sự chở ông ta đến trên một chuyến bay SA. Thiếu tướng John O’Daniel và người Uy۠nhiệm Toà Đại sứ là Rob McClintock phải sắp xếp chỗ làm việc và nơi ăn chốn ở cho ông ta dười danh nghĩa là Phụ tá Tùy viên Không quân để che mắt thiên hạ. Tuy nhiên việc đó không thích ứng cho một sĩ quan Mỹ của Phái bộ Quân sự trong lúc này để cố vấn cho các sĩ  quan Việt Nam trong các cuộc họp. Đại sứ Heath đã tuỳ nghi sắxếp được việc này. Nơi làm việc,  trong văn phòng thiếu bàn ghế, không có công xa, không có tủ sắt đựng hồ sơ. Ông ta phải ngồi làm việc chung với văn phòng của tướng O’Daniel, sau đó, ông dời về một căn nhà nhỏ do Phái bộ Quân sự Sài-gòn thuê. Những thông tin bí mật của Phái bộ Quân sự với Washington phải qua hệ thống liên lạc điện đài của CIA tại Sài-gòn ...

    Ngày 01 tháng 07, thiếu tá Lucien Conien đến nơi, ông là người thứ hai thuộc toán CIA, ông rất quen thuộc với người Pháp vì trước đây ông đã từng hợp tác với Pháp chống Nhật ở Đông-Dương.

     Ngô Đình Diệm về nước ngày 07 tháng 07 chỉ vài giờ sau đó là lực lượng Pháp cuối cùng tuyệt vọng rút lui khỏi các tỉnh có nhiều giáo dân như Bùi Chu, Phát Diệm ở Nam Định, Ninh Bình. Những tự vệ của cha Tổng Qùynh ở Phát Diệm và Bùi Chu mang cả gia quyến chạy ào lên Hà-Nội, Hải-Phòng để trốn Việt Minh, họ rất lấy làm tức bực việc Pháp rút lui bỏ họ lại bơ vơ trong tình hình đen tối.

     Trên đây là một phần nhỏ báo cáo của Phái Bộ Quân Sự Mỹ tại Sàigòn vào những ngày đầu mới đặt chân đến miền Nam Việt Nam. Muốn biết thêm chi tiết hoạt động của chú Sam ở Việt Nam phải cần đọc “Hồ sơ Ngũ Giác Đài” (Pentagon Papers) do tiến sĩ Ellsberg viết và các học giả Mỹ khác viết về chiến tranh Việt Nam như giáo sư Noam Chomsky dạy đại học MIT ở Massachusetts cùng nhiều nhà bình luận, nhà báo khác .... Mục đích trong bài viết nầy cốt để nói phớt qua về hoạt động của tay tổ CIA (Tình Báo Mỹ) trong bước khởi đầu vào Việt Nam với tính chất như thế nào và dĩ nhiên là không hợp pháp đối với các điều khoản đã ghi trong Hiệp định Genève năm 1954.

   Trước hết, chúng ta phải biết thành tích của ông trưởng toán Tình Báo (CIA) của chú Sam là người có bản lĩnh như thế nào ? Đại tá Edward G. Lansdale không những có công làm tê liệt các hoạt động của CS Phi-luật-tân mà còn có công khai sinh cho nước Phillipine một tổng thống là  Raymond Macsaysay, và sau này lại có công nặn ra cho miền Nam Việt Nam một tổng thống, đó là Ngô Đình Diệm. Nhưng thiên bất dung gian, sau đó cả hai vị tổng thống là Raymon Macsaysay và Ngô Đình Diệm do Mỹ đào tạo ra để làm việc cho Mỹ đều bị chết bất đắc kỳ tử thật là thảm thương !

    Tiên khởi, đọc một phần báo cáo trên đây của Phái bộ Quân Sự Mỹ tại Sài-gòn chúng ta thấy rằng :

    “Tình báo Mỹ  (CIA) lặng lẽ vào Việt Nam rõ ràng là không hợp pháp, trái với Hiệp định Genève 1954. Thuở ban đầu đến cái tủ sắt đựng hồ sơ còn không có, không đủ bàn ghế để ngồi làm việc, thiếu thốn cả công xa ... Nhưng sau đó, không bao lâu, họ đã có tất cả và trở thành chủ nhân ông ở miền Nam Việt Nam. Ngay trong thành phố, các dinh thự, villa, các nơi người Mỹ ở hoặc làm việc đều có lính gác, có rào cản bằng kẽm gai, ngăn chận dân Việt Nam không được quyền đến gần; một con đường đặt tên là “Tự Do” (Catinat cũ) thật là tương xứng với ý nghĩa Tự Do vì chỉ thấy toàn người ngọai quốc hoặc người Mỹ đến đó”.                                         

    CHÚ SAM NGỤY TẠO VỤ TÀU CỦA MỸ BỊ VIỆT NAM BẮN.

                       (Theo tài liệu Chicagio Media Watch)     

     Năm 1964, Lyndon Johnson gặp khó khăn lớn khi Mỹ muốn đánh giá nhanh chóng việc đánh bại những nước Cộng Sản nhỏ như Việt Nam nổi dậy nên ông ta bịa đặt ra “biến cố” vịnh Bắc Việt, tại đây BắViệt Nam tỏ ra khiêu khích tấn công vào tàu chiến Mỹ. Biến cố vịnh Bắc Việt chỉ là tiền đề của sự bịa đặt, vẫn còn là sự cần thiết tất cẩ những gì LBJ muốn leo thang phá huỷ kinh khủng chiến tranh “giải phóng”.

    Không có một sử gia nghiêm túc hay một báo lớn nào đề cập đến nghị quyết vịnh Bắc Việt – kể cả tờ New York Times cũng rút bỏ khi cho in. Đây là một sự thừa nhận giả dối để giúp cho sự tuyên truyền chiến tranh trong đó làm chia rẽ quốc gia một cách nghiêm trọng và khai là đã lấy đi cả trăm nghìn mạng sống con người – trong đó gồm các nạn nhân của chất độc Da Cam của cả hai bên.

    (In 1964, Lyndn Johnson was facing great difficulty getting Americans to appreciate the urgency of defeating Communist uprisings in the small impoverished nation of VietNam. So he had the military   invent the Gulf of Tonkin “incident” whereby the North VietNam purporedly instigate an attack on idle US warships. The Tonkin incident was mere fabricated pre-text – yet it was all JBL needle to escalate a horrifically destructive war of “liberation”.

   No serious historian or major newspaper stands by the military account of the Gulf of Tonkin resolution- althought the New York Times as yet to print a retraction. It would be an admission of guilt for helping propaganda a war in which violent; divided the nation and claimed hundred of thousand of lives – including Agent Orange victims – on both sides).

    Còn ở nông thôn Việt Nam hầu hết đều trở thành vùng “OANH KÍCH TỰ DO”, nghĩa là muốn câu trọng pháo hay máy bay oanh kích bất kỳ lúc nào muốn thì cứ bắn, cứ thả bom. Bom Napal được thả cho bằng thích để đốt nhà dân và các ruộﮧ lúa đang chín tới; lại thêm máy bay Mỹ rải thuốc khai quang có chất độc màu Da Cam làm hại mùa màng, cây cối, đất đai và môi trường sinh sống, không những vậy chất độc da cam còn gây ra tác hại cho con người, nhất là bị dị tật, nhiều bà mẹ sinh con là quái thai, cụt tay, cụt chân, mù mắt, óc bị tổn thương, bại xuội, câm điếc, ngớ ngẩn v.v... Không sao kể hết nỗi đau thương khổ ải và bi đát từ đời này qua đời khác !

    Tình báo Mỹ còn tổ chức những cơ quan được che đậy việc làm của họ như “Cơ quan Dân Ý” và “Chiến Dịch Phưộng   Hoàng”. Nhất là chiến dịch Phượng Hoàng dùng trục thăng, ban đêm cho biệt kích nhảy xuống bao vây nhà dân, bắt cóc những dân lành mà họ tình nghi là VC hoặc có cảm tình với VC mang về tra khảo, đánh đập và hành hạ một cách hết sức dã man rồi bắt nhận là VC. Ở thành thị thì Mỹ tổ chức Cảnh sát Dã chiến với mục đích giải tán và đàn áp các vụ biểu tình chống chính phủ, ngoài ra, Mỹ còn tổ chức Người Nhái, Lực Lượng Đặc Biệt bí mật thả ra ngoài Bắc để hoạt động tình báo, phá hoại, móc nối tổ chức ....  Nhưng đa số chưa kịp thi hành nhiệm vụ bí mật được giao cho  đã bị bắt hoặc ra đầu thú, cung khai đủ mọi thứ chuyện.

    Đặc biệt, Tình Báo Mỹ còn tổ chức nhiều người học thức, có vai vế trong xã hội hay chính quyền, nghiệp đoàn miền Nam, nhà báo và ngay cả trong giới sinh viên như: Đặng Văn Sung, Đinh Trình Chính, Trần Quốc Bửu, Nguyễn Ngọc Linh để làm tai mắt cho họ. Đỗ Ngọc Yến (hiện làm chủ báo Người Việt tại Santa Ana, Calfornia) và Nguyễn Hữu Đông... làm việc cho họ.

Ngày 2 tháng 2 năm 1968

ĐỀ TÀI: Thảo luận với các ông Đỗ Ngọc Yến và Nguyễn Hữu Đông

 Đỗ Ngọc Yến và Nguyễn Hữu Đông có ghé lại nhà tôi sáng nay để thảo luận về tình hình hiện tại. Yến, nguyên là Trưởng Ban Kế hoạch của Bộ Thanh Niên dưới quyền Võ Long Triều, là một người thuộc về đạo công giáo là người chống đối Cộng Sản mạnh mẻ và được xem là người lãnh dạo thanh niên trong nhiều lãnh vực chính trị và tôn giáo. Đông, là một kiến trúc sư có danh, được nổi tiếng là một lãnh tụ sinh viên chống Diệm, và từ đó hoạt động cố vấn, lãnh tụ chình trị và xuất hiện khi tình trạng khẩn trương ....

February 2, 1968.                              

SUBJECT: Conversation with Messrs. Do Ngoc Yen and Nguyen Huu Dong

Do Ngoc Yen and Nguyen Huu Dong stopped by the house this morning to discuss the current situation. Yen, former Chief of Plans for the Ministry of Youth under Vo Long Trieu, is anominal Catholic who is a strong anti-Communist  and is highly regarded  by young leaders of varying  political  and religious background. Dong, a well-known architect, gained prominence as a student leader in the anti-Diem demonstrations and since then has acted as a mentor for emerging political leaders, including Yen ...

     Chiến tranh Việt Nam do Mỹ gây ra, mang lại đau thương, tang tóc biết là dường nào cho nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Nhưng trái lại, Mỹ cố tránh không gây chiến với Nga-Xô hay Trung-Quốc vì sợ chiến tranh thứ ba sẽ nổ ra ! 

       Những bài học Chiến Tranh Việt Nam (G.s Noam Chomsky, đại học M.I.T, Massachusetts ).

    Đế quốc Mỹ choáng váng thua trận một cách đau đớn tại Đông-Dương. Nhưng sau đó, lực lượng đó dã tiến hành chiến tranh ở các nơi khác hết sức co giãn với kẻ thù không ai khác hơn là Nhân Dân Mỹ. Đây là viễn tượng to lớn sẽ thành tựu. Chiến trường nầy thuộc về ý thức hệ, không phải quân sự. Việc chống đỡ được lấy ra từ những bài học của Mỹ về chiến tranh Đông-Dương, hậu quả sẽ quyết định việc chạy đua và đặc tính phiêu lưu của tân đế quốc”.

    (American Imperialism has suffered a stnning defeat in Indochina. But the same forces are engaged in anothe war against a much less resilient enemy; the American people. Here, the prospects for success are much greater. The battleground is ideological, not military. At stake are the lessons to be drawn from the American war in Indochina; the outcome will determine the course and character of new imperial ventures).   

 Tuy không nói ra, nhưng theo tin tức báo chí, truyền thông đã nói thay cho chúng ta thì Chú Sam đã can dự vào nhiều chuyện động trời, bất chấp luân thường đạo lý, xem Liên Hiệp Quốc như pha (ne pas) cũng như không tôn trọng chủ quyền của nước người ta, hay sinh sự và xâm phạm vào nội chính của các nước khác, nhất là các nước thuộc châu Mỹ Latin cho quyền lợi riêng của Mỹ (của các ông chủ bự tư bản).                                                                                   

TƯ TƯỞNG KIỆT XUẤT CỦA ÔNG HỒ.

    Trong bài “Người Mỹ mơ thành Đế quốc” (America’s Dreams of Empire). Tác giả Pervez Hoodbhoy so sánh cách thức đối phó chiến tranh của người Muslim và người Việt Nam chống đế quốc do ông Hồ Chí Minh lãnh đạo như sau :

    “Cái gì, và rồi, có phải là chiến lược cho tất cả những ai tin tưởng vào một thế giới kinh hoàng của chiến tranh do Mỹ gây ra là yếu ? Trong khi cái mạnh lại trốn thoát với tất cả, sự yếu đuối không thể có đủ điều kiện để bước sai. Họ phải gạt bỏ lại tất cả để quan tâm tới “luân lý”. Theo ý kiến của tôi, Việt Nam, đã tự ý làm được điều phi thường, thành công kiểu mẫu của một cuộc kháng chiến. Mădù B.52 bỏ bom như trải thảm cày nát xứ sở. Ông Hồ Chí Minh, vị lãnh đạo của VN không kêu gọi cướp máy bay (không tặc) hay cho nổ một xe buýt nào. Trái lại, người Việt Nam kêu gọi nhân dân Mỹ, làm cho họ thấy rõ sự khác biệt giữa họ và chính phủ của họ. Người lãnh tụ của Việt Nam đã không gánh vác – chắc chắn những điều như Osama bin Laden dã làm – việc người Mỹ có chung một tiếng nói. Jane Fonda, Joan Baez và những người được quần chúng biết đến. Họ được mời đến để được chứng kiến sự thật những gĩ đã xẩy ra tại Việt Nam, và rồi những người nầy thấy được những gì, khi trở về nhà họ thuật lại cho nhân dân Mỹ những gì họ đã được tai nghe mắt thấy. Nếu như ông Hồ đã có ý nghĩ và thực hành những gì như Bin Laden, thì chắc chắn rằng đất nước Việt Nam giờ đây đã đầy dẫy chất phóng xạ, đất hoang cằn cỗi, dĩ nhiên không phải là một nước độc lập và thống nhất, chiến thắng cả một đế quốc lớn”.

  

arrow.gif (848 bytes) đọc tiếp chương II: Những việc xảy ra tại châu Mỹ Latin

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: hopthu@giaodiem.net

. ..........