curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .

 

TINH THẦN PHẬT GIÁO CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM QUA LỊCH SỬ

Lý Khôi Việt

 

      Trong lịch sử gần 5000 năm của dân tộc Việt Nam, chúng ta đã có được ba thời đại lớn, ba thời đại rực rõ nhất: đó là thời đại Hùng Vương kéo dài 2652 năm. Sau thời đại ánh sáng này là thời đại đêm tối: đêm tối Bắc thuộc, kéo dài 1146 năm. Sau thời đại đên tối khủng khiếp này là thời đại ánh sáng và ánh sáng huy hoàng nhất, kỳ diệu nhất trong lịch sử Việt Nam, đó là thời đại Lý Trần, kéo dài gần bốn thế kỷ, từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 14. Sau thời đại ánh sáng này là đêm tối Nam Bắc triều, là đêm tối Trịnh Nguyễn phân tranh kéo dài suốt ba thế kỷ, từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18. Trước đêm tối này là cuộc cách mạng dân tộc của Lê Lợi – Nguyễn Trãi và triều đại nhà hậu Lê, nhưng thời hậu Lê Việt Nam đã bắt đầu suy tàn vì tinh thần Lý Trần không còn được thể hiện. Có thể nói thời đại Hùng Vương là thời đại bình minh khai sinh của dân tộc, thời đại Lý Trần là thời đại bình minh tái sinh, và thời đại hậu Lê là thời đại hoàng hôn. Sau đêm tối Nam – Bắc triều và Trịnh-Nguyễn phân tranh là thời đại ánh sáng, đó là thời đại Tây Sơn trong cuối thế kỷ 18, nhưng tiếc thay, đấy chỉ là ánh sáng của sao băng, chỉ tồn tại 31 năm, một chớp mắt của lịch sử. Sau thời đại ánh sáng ngắn ngủi này, dân tộc lại bị chìm đắm trong một thời kỳ vô cùng đên tối kéo dài gần 200 năm nay, đó là đêm tối của chế độ chuyên chế phong kiến nhà Nguyễn, đó là đêm tối Pháp thuộc, đó là đêm tối của những chế độ độc tài. Đêm tối này lại càng hãi hùng hơn, bi thương hơn bởi biển máu lửa kéo dài hơn 30 năm.

      Chắc chắn sau đêm dài đau khổ, tủi nhục cùng cực này sẽ bùng nổ một cuộc cách mạng Tây Sơn mới giải thoát hoàn toàn và vĩnh viễn dân tộc khỏi tất cả những chế độ độc tài, và sự khống chế của các đế quốc và sẽ khai sinh một thời đại Lý Trần mới, một thời đại Hùng Vương mới, huy hoàng, rực rỡ hơn xưa.

      Thời đại Lý Trần là thời đại đẹp nhất của dân tộc. Chính trong thời đại ấy, sau hơn mười thế kỷ bị đế quốc Trung Hoa đô hộ, đồng hóa và tàn phá mọi mặt, cha ông chúng ta đã xây dụng thành công trên đống tro tan Bắc thuộc, một nền văn hóa, chính trị độc lập, khai phóng, từ bi, nhân bản, thiết lập và duy trì một nền thái bình, thịnh trị tốt đẹp nhất và lâu dài nhất trong lịch sử dân tộc. Thời đại Lý Trần đã có những cống hiến vô cùng vĩ đại cho sự nghiệp giữ nước và dựng nước. Với thiền sư Vạn Hạnh và với Lý Công Uẩn, thời đại nhà Lý là thời đại thịnh trị nhất của Phật Giáo và cũng chính thời đại đó, nước ta đã có trường đại học đầu tiên (năm 1076) và hàn lâm viện đầu tiên (1086). Chính trong thời đại nhà Lý đã hình thành nền văn hóa Thăng Long, một nền văn hóa dân tộc vô cùng rực rỡ, phát huy mạnh mẽ những tinh hóa và giá trị cổ truyền, đồng thời hấp thụ một cách sáng tạo những trào lưu văn hóa khác ở Á Châu. Cũng chính trong thời đại này, tiền nhân chúng ta đã khai sinh và áp dụng vào việc trị quốc an dân nền minh triết Nhân Chủ Việt Nam, thể hiện cao nhất tư tưởng Phật Giáo và tư tưởng Đông Phương.

      Lý Thái Tổ, năm 1010 đã dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, Thăng Long với hình ảnh rồng bay lên đẹp đẽ hùng tráng, tượng trưng cho khí thế vươn lên, cho thời đại phát triển của dân tộc. Cũng vì tinh thần và ý chí đó, năm 1054 nhà Lý đổi tên nước ta là Đại Việt. Sự chuyển hóa và thăng hoa một Giao chỉ quận của thời Bắc thuộc thành một cường quốc Đại Việt của thời Lý Trần là cả một cuộc cách mạng vĩ đại, thành quả của hơn 1000 năm không ngừng đấu tranh và vượt thắng.

Cũng dưới thời nhà Lý, binh pháp và binh chế của nước ta đã lẫy lừng khắp cả Đông Á. Lý Thường Kiệt áp dụng tư tưởng tấn công để tự vệ, thống lĩnh 10 vạn hùng binh đánh thắng vào đất nhà Tống, tiêu diệt những căn cứ xâm lăng của đế quốc phương Bắc vào năm 1073 rồi sau đó lại đánh bại cuộc xâm lăng quy mô của đế quốc này vào năm 1076. trong khí thế vươn lên của dân tộc vừa chiến thắng oanh liệt, đại tướng và cũng là nhà thơ Lý Thường Kiệt đã sáng tác một bài thơ bất hủ được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư.
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm.
Nhử đẳng hành khan thủ bại hư.
(Sông núi nước Nam vua Nam ở.
Rành rành định phận ở sách trời.
Cớ sao lũ giặc bây xâm phạm.
Nhất định sẽ bị đánh tơi bời.)”

Thật là thú vị khi chúng ta biết rằng bản tuyên ngôn độc lập này của nước ta đã được viết vào năm 1076 đúng 700 năm trước bản tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ (1776).

      Bước sang thời đại nhà Trần, chúng ta lại nghe văng vẳng tiếng hô quyết chiến của hội nghị Diên Hồng, đó là tiếng nói sắt thép, anh hùng của dân tộc quật cường bất khuất. Khi mà cả 40 vương quốc lớn nhỏ đã gục ngã dưới vó ngựa xâm lăng tàn sát của đế quốc Mông Cổ, nhưng dân tộc chúng ta vẫn không sợ hãi, vẫn cương quyết cầm vũ khí ra trận và vẫn hô quyết chiến. Thật là một khí phách tuyệt vời. Và dân tộc chúng ta đã ba lần đại thắng quân Mông Cổ, một đế quốc đã chinh phục cả Á Châu và Á Châu, đã đánh bại cả đế quốc Tàu và đế quốc Nga vào thời ấy. Chiến thắng độc đáo, lẫy lừng này là một chiến công sáng ngời trong chiến sử thế giới, đã đưa dân tộc chúng ta bay cao trên đầu thời đại và trở nên bất tử. Thời đại nhà Trần đã đưa hào quang văn hóa – chính trị – quân sự của nhà Lý lên đến đỉnh cao nhất. Thời đại nhà Trần không những hoàn thành vẻ vang công cuộc giữ nước mà còn phát huy một cách quy mô và toàn diện công cuộc dựng nước đã được bắt đầu từ thời nhà Lý.

      Trong thời đại Lý Trần, tâm hồn Việt Nam trở nên cao rộng, phóng khoáng và một loạt nhân cách Việt tuyệt đẹp đã nổi bật lên. Như những vì sao lấp lánh, họ kế tiếp nhau xuất hiện trên bầu trời lịch sử làm cho hình ảnh con người Việt Nam càng thêm rõ nét, làm cho quốc tính dân tộc càng thêm sáng trong và đầy sinh lực. Đó là hình ảnh của thiền sư Vạn Hạnh, âm thầm gây ý thức dân tộc và vận động một cuộc cách mạng dân tộc – nhân chủ, chuyển hóa một cách bất bạo động cả sinh mệnh dân tộc, bằng sự chuyển quyền ôn hòa từ bạo chúa Lê Long Đỉnh sang minh quân Lý Thái Tổ, bằng một cuộc cách mạng ôn hòa từ xã hội bạo trị sang xã hội đức trị. Đó là hình ảnh của vua Lý Thánh Tông, một bậc quân vương anh hùng và cũng là một vị quân vương bồ tát đã sáng lập ra một thiền phái mới ở nước ta là thiền phái Thảo Đường. Đó là hình ảnh của vua Trần Thái Tông đã từ bỏ ngai vàng để đi tu, Ngô Thời Sĩ, một sử gia của thế kỷ 18 đã mô tả:

“Trần Thái Tông đã từ bỏ ngai vàng như từ bỏ một đôi giày rách”

Thi vị và hùng khí của câu nói này cũng như của người được nói chỉ được hiểu trọn khi ta biết rằng vua Trần Thái Tông là một vị minh quân đã khai sáng nhà Trần bao dung, khai phóng và đã lãnh đạo quân dân ta đánh tan đợt xâm lăng lần thứ nhất của quân Mông Cổ. Đó là hình ảnh của vua Trần Nhân Tông người được Ngô Sĩ Liên, một sử gia thế kỷ 15 tán dương:

“Trần Nhân Tông là một vị vua nhân từ, hòa nhã cố kết lòng dân”

Chính vua Trần Nhân Tông đã hai lần lãnh đạo quân dân ta đánh tan quân Mông Cổ và chính nhà vua, sau đó, đã xuất gia trở thành một cao tăng khai sáng thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và một giáo hội Phật Giáo Việt Nam thống nhất và nhập thế tích cực. Đó là hình ảnh phóng khoáng hào hùng của Tuệ Trung Thượng Sĩ, người mà thượng tượng Trần Khát Chân đã tán dương:

“Thượng sĩ chính là ngọn đèn tỏ của Phật Hoàng (vua Trần Nhân Tông) Thượng sĩ làm phấn phát lại ngọn gió thiền trong ngôi nhà Phật. Phật Hoàng do nơi ngài mà thành đạo chánh giác”.

Đó là hình ảnh của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, người không những đã viết bài Hịch Tướng Sĩ, sách Binh Thư Yếu Lược và Vạn Kiếp Bí Truyền Thư và là vị tổng tư lệnh tài đức vào bậc nhất, mà còn là người để lại một di chúc chính trị quân sự có giá trị trong mọi thời đại. Trong bản di chúc này có câu:

“Khoan thư sức dân để làm kế bền gốc, sâu rễ, đó là thượng sách giữ nước”.

Rõ ràng những con người Việt Nam ấy, thấm nhuần Chánh pháp, và minh triết Nhân chủ Việt Nam đã thổi vào cơ thể Việt, sinh mệnh văn hoá chính trị Việt một sinh lực dồi dào vô tận và biến Phật giáo Việt Nam thời Lý Trần thành một chủ đạo mới, một chủ lực tinh thần mới, thành nguồn sống tâm linh và trí tuệ  mới thăng hoa con người Việt và đưa dân tộc Việt bây co, vượt xa tầm vóc của nhân loại trong thời đạo ấy.

      Chính trong thời đại Lý Trần, dưới sự hun đúc của tinh thần từ bi, khai phóng Phật giáo, củanền minh triết Nhân chủ Việt Nam mà dân tộc chúng ta đã thể hiện trọn vẹn, sinh động và toàn diện những nét cao đẹp của con người Việt Nam, biểu hiện qua huyền thoại Rồng Tiên, đó là sống hào hùng, dũng mãnh (rồng) và sống hồn nhiên, thanh thoát (tiên). Nhờ có ảnh hưởng sâu rộng của tư tưởng thiền tông, vừa cao siêu, phóng khoáng, vừa từ bi độ lượng, vừa hùng tráng, phá chấp chiếu rọi vào tâm thức Việt, tư tưởng Việt, sự hành hoạt Việt nên sinh mệnh văn hoá chính trị cũng như chiến công và nghệ thuật, văn chương Việt Nam thời Lý Trần bộc phát rực rỡ chưa từng có trong những thế kỷ trước đó và cả trong những thời đại sau này.

      Thời đại Lý Trần chính là thời đại nở hoa của tâm thức Việt, tư  tưởng Việt, sinh mệnh Việt. Đó là thời đại sỏi đa Bách Việt Văn Lang được tinh lọc thành kim cương Lý Trần. Đó là thời đại hạt giống Hồng Bàng Âu Lạc đã lớn lên như thổi, đã trưởng thành phi thường để hoá thành cây cổ thụ Đại Việt và thành hoa trái Việt Nam.

      Đó là những nét độc đáo của thời đại Lý Trần, sau đây chúng ta thử tìm hiểu tinh thần của thời đại Lý Trần hay đúng hơn, tinh thần Phật giáo được vận dụng và thể hiện trong thời đại Lý Trần. Chính những tinh thần này là nền tảng, là cốt tuỷ, là bầu khí đã khai sinh, nuôi dưỡng và duy trì thời đại Lý Trần trong gần bốn thế kỷ.

      Tinh thần nổi bậc nhất của thời đại Lý Trần là sự dung hợp và khai phóng. Cụ thể là sự hình thành và bộc phát rực rỡ nền văn hoá tam giáo đồng nguyên theo đó Nho, Phật, Lão đều được tiếp thu, dung hợp, tổng hợp và phát triển ở nước ta. Tư tưởng chủ đạo cho nền tam giáo đồng nguyên chính là Phật giáo.

Thời đại Lý Trần là thời đại cực thịnh của Phật giáo và chính tinh thần cởi mở, khai phóng, bao dung và hoà hợp của đạo Phật đã là yếu tố điều hợp, hoá giải và hoà đồng các tôn giáo, các nền văn hoá được du nhập vào Việt Nam.

      Chính trong thời đại Lý Trần, với tinh thần hoà hợp và khai phóng  của Phật giáo mà tổ tiên chúng tađã xây dựng được một quốc gia độc lập, hưng thịnh, một dân tộc đoàn kết, thống nhất để vừa có thể đánh bại các cuộc xâm lăng của đế quốc phương Bắc, vừa tổng hợp tất cả trào lưu văn hoá ngoại nhập thành một nền văn hoá Việt Nam độc sáng và siêu việt. Vừa đối kháng với các cuộc xâm lăng nhưng đồng thời lại vừa tiếp thu một cách sáng tạo, có đãi lọc, có phê phán, tất cả trào lưu văn hoá thế giới để làm giàu thêm, làm sáng đẹp thêm nền văn hoá Việt Nam, đó là nhân cách, là tinh thần, là phong thái Việt Nam. Đó cũng chính là sự khôn ngoan truyền thống của dân tộc, là nét đặc thù, kỳ diệu của dân tộc, đó chính là VIỆT TÍNH. Chính tinh Thần dung hợp, khai phóng ấy, chính sự mở rộng cánh cửa tâm thức và tấm lòng dân tộc ấy, chính sự đa nguyên trong hoà hợp, phát triển trong hoà đồng của các nền văn hoá đến từ những chân trời khác nhau ấy đã tạo nên sức mạnh Việt Nam và đã là yếu tố chính thiết lập và duy trì nền thái bình thịnh trị trong suốt trên 300 năm.

      Tiếc thay, sau thời đại Lý Trần, tinh thần dung hợp khai phóng, không còn được thể hiện trong sinh hoạt văn hoá, chính trị, xã hội của quốc gia nên dân tộc chúng ta đã phải trãi qua một thời kỳ suy tàn hơn 5 thế kỷ, từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 20 ngày nay.

      Thật vậy, bắt đầu từ nhà hậu Lê (1428-1527) tinh thần độc tôn, giáo điều của Tống Nho đã thay thế tinh thần dung hợp, khai phóng của Phật giáo và của dân tộc trong việc lãnh đạo quốc gia. Hậu quả của việc thắng thế của tinh thần độc tôn, giáo điều Tống Nho trong thời hậu Lê là thời đại này đã suy tàn rất sớm và dân tộc ta phải trãi qua 259 năm chia cắt đất nước, chiến tranh loạn lạc, lầm than và suy vi (từ năm 1527 đến năm 1786) dưới thời Nam Bắc triều và Trịnh Nguyễn phân tranh.

      Rồi với nhà Nguyễn (1802- 1945) tinh thần độc tôn giáo điều của Tống Nho và chính sách độc tài văn hoá chính trị lại được tái diễn và đó cũng là yếu tố chính đã làm cho nước ta vừa rơi ngã vào cảnh mất nước về tay thực dân Pháp lại vừa không tiếp thu, hoá giải dung hợp và khai thác văn minh, học thuật Tây phương để canh tân và phát triển đấnước.

      Rồi gần đây chế độ nhà Ngô (1954-1963) cũng với cái tinh thần cố chấp, hẹp hòi, độc tài của nền nho giáo phá sản, lẫn nền thiên chúa giáo thời trung cổ đã làm cho miền Nam Việt Nam mất đi một thời cơ lịch sử để thực hiện sự đoàn kết dân tộc, cách mạng xã hội và phát triển quốc gia theo chiều hướng có lợi chung cho toàn thể dân tộc.

      Những chế độ độc tài quân phiệt tiếp theo, cũng với một bản chất võ biền, vô văn hoá, phi dân tộc, đã phá nát đát nước cũng cùng một bản chất tàn bạo, phi nhân vô văn hoá và phản dân tộc, cũng cùng một tinh thần độc tài, độc tôn, độc đoán vô cùng khắc nghiệt đã và đang tàn phá khốc liệt dân tộc, kềm kẹp, xiềng xích tư tưởng và sinh lực Việt Nam, huỷ diệt và bóp chết tất cả thần trí và sức sống Việt Nam, nô lệ hoá con người Việt Nam. Ôi cả một dân tộc thi thơ, cả một dân tộc minh triết, đứa con khôi ngô, đẹp đẽ nhất của nền văn minh nhân bản đông phương, chủ nhân của một gia tài văn hoá lộng lẫy mình rồng cánh phượng thế mà ngày nay lại bị xiềng xích bởi một chủ nghĩa phi nhân đến từ phương Tây, bởi một chế độ bạo trị, tay sai người ngoài, bị đạp xuống bùn đen, bị ném vào vực thẳm, để rồi chết dần chết mòn trong lao tù, trong đói rét và trong những cuộc chiến tranh phi nghĩa!!!

      Trước những kinh nghiệm đau đớn ấy, trước thảm cảnh ấy, hơn bao giờ hết, trong thời đại dựng nước ngày mai, chúng ta cần phải bảo vệ triệt để, cần phải thể hiện trọn vẹn, cần phải áp dụng toàn diện tinh thần dung hợp và khai phóng của Phật giáo và của dân tộc.

      Một tinh thần nổi bậc khác của thời đại nhà Lý và nhà Trần là tinh thần từ bi, nhân bản. Sử gia Hoàng Xuân Hản trong cuốn Lý Thường Kiệt có viết:

“Đời Lý có thể được gọi là đời thuần từ nhất trong lịch sử nước ta. Đó chính là nhờ ảnh hưởng của đạo Phật”.

      Trong ba triều đại trước của nhà Lý là nhà Ngô, nhà Đinh và nhà Lê, ta thấy các triều đại này còn dùng những cực hình như vạc đầu, chuồng hổ báo để trừng trị tội nhân nhưng sang đến đời Lý, các nhà lãnh đạo chính quyền và nền chính trị đã thể hiện tinh thần từ bi, đức độ, lòng độ lương và khoan dung đối với dân chúng cũng như đối với thù địch. Có thể từ bi là đường lối chính trị, một thủ thuật cai trị nhưng chính trị từ bi là một nền chính trị nhân bản đáng tán dương và ủng hộ. Vua Lý Thánh Tông đã thương yêu dân như thương yêu con mình, lòng từ bi của vua được thực hiện qua lời nói lịch sử:

“Lòng ta yêu con ta như thế nào thì ta cũng yêu thương dân như thế ấy. Dân không biết mà mắc vào hình phạt ta rất lấy làm thương. Từ nay về sau không cứ tội nặng nhẹ đều được khón miễn”.

      Chính vị quân vương bồ tát ấy trong một mùa đông  rét  đã thương xót cả những tù nhân trong ngục thất và đã truyền thêm lệnh cấp đồ ăn, đồ mặc cho tù nhân. Vua Trần Thái Tông bỏ ngai vàng để lên núi Yên Tử đi tu nhưng quốc sư Trúc Lâm đã khuyên vua:

“Đã làm vua thì không thể làm theo ý thích riêng của mình được, phải lấy ý muốn của dân làm ý muốn của mình, lấy lòng của dân làm lòng của mình”

Lời khuyên này của nhà sư Trúc Lâm là cả một triết lý chính trị rất dân chủ và nhân bản. Triết lý này đã được vua Trần Thái Tông và các vị vua nhà Trần thi hành như là một quốc sách, và hơn thế nữa, như là tư tưởng chỉ đạo cho cả triều đại.

      Cũng với tinh thần từ bi đó, vua Lý Thánh Tôn đã tha chết cho Nùng Trí Cao, cho vua Chế Cũ và vua Trần Nhân Tông đã tha tội chết cho tất cả những người đã cộng tác với quân giặc Mông Cổ.

      Với những nhà lãnh đạo chính trị có tinh thần từ bi nhân bản, với những nhà lãnh đạo tâm linh, tinh thần biết gieo truyền, và giáo dục sự thể hiện đạo từ bi trong chính quyền và trong nhân gian, đời sống chính trị văn hoá, xã hội thời Lý Trần trở nên thuần từ, đẹp đẽ. Đạo đức và từ bi không làm cho dân nghèo, nước yếu trái lại chỉ làm cho dân tộc thêm hùng mạnh, thịnh vượng. Những chiến thắng lẫy lừng đánh tan quân nhà Tống và quân Mông Cổ, sự vắng mặt của hận thù và bạo động trong xã hội, mối tương quan dân chủ và nhân từ giữa vua và dân, sự hoà điệu, an lạc trong mọi tầng lớp dân chúng là những đặc tính của thời đại Lý Trần. Những nét độc đáo này hoàn toàn vắng mặt trong những chế độ trước và sau đó, được thể hiện một cách sinh động, tự nhiên và sâu sắc trong đời sống chính trị, văn hoá, xã hội là nhờ hai triều Lý, Trần đã thấm nhuần tinh thần nhân từ, nhân bản của đạo Phật và áp dụng tinh thần đó vào việc trị quốc an dân Thiền sư Pháp Thuận đã diễn tả chân lý đơn sơ nhưng sáng ngời này qua bài thơ sau:

“Phúc nước dài dằng dặc
Trời Nam ôm  thái bình
Đạo đức ngự cung điện
Muôn xứ hết đao binh”.

Dưới sự ngự trị trên chính quyền và trong nhân gian của tinh thần dung hợp, khai phóng và tinh thần từ bi, nhân bản, hay nói rộng hơn của Chánh Pháp, ta có thể gọi thời đại Lý Trần là thời đại NHÂN CHỦ ĐỨC TRỊ đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam.

      NHÂN CHỦ vì trong thời đại đó, CON NGƯỜI VÀ TẤT CẢ MỌI CON NGƯỜI KHÔNG PHÂN BIỆT đều được sống trong một xã hội thuận tiện cho sự tự phát triển đời sống tâm linh của mình, tự thực hiện con người toàn diện của mình, được quan niệm như là cá thể tự do, tính thức, có giác ngộ tính và giải thoát tính, nghĩa là có Phật tính, và vì con người không những được tạo điều kiện để làm chủ chính mình mà còn trở thành chủ nhân của đất nước, của xã hội qua sự tham dự dân chủ vào sinh hoạt của cộng đồng làng xã tự trị, được xây dựng trên nguyên tắc tự do và nguyên tắc bình sản. Thời đại Lý Trần, dưới sự ngự trị của tư tưởng NHÂN CHỦ PHẬT GIÁO xứng đáng để được gọi là thời đại của con người, cho con người và vì con người, trong đó CON NGƯỜI VÀ TẤT CẢ MỌI CON NGƯỜI KHÔNG PHÂN BIỆT đều được yêu thương, tôn kính và phụng sự.

      ĐỨC TRỊ vì trong thời đại ấy, đạo đức của nền đại đạo Phật giáo, được thấm nhuần trong lòng dân và trong xã hội, vì đạo đức ấy đã trở thành linh hồn của nền chính trị, thành bản chất của mọi chính sách quốc gia, thành chính nghĩa và sự chính thống của chính quyền và chế độ. Nếu ánh sáng của mặt trời làm cho hoa lá xanh tươi, cây cỏ đâm chồi kết trái thì ánh sáng của đạo đức được chiếu rọi trong tâm hồn của những nhà lãnh đạo, trong đời sống nhân gian, đã làm cho xã hội tinh khiết tình người và làm cho nước nhà đi vào mùa xuân thái hoà thịnh trị. Nền đạo đức Phật giáo không những là một nền đạo đức có tính cách luân lý để cải thiện và thăng hoa đời sống xã hội mà còn là một nền đạo đức để tu dưỡng nội tâm, để đánh thức và giải thoát toàn diện con người. Chính nền đạo lớn và đức lớn có tính cách NHÂN CHỦ ấy của đạo Phật đã làm cho xã hội Việt Nam ta trong thời đại Lý Trần trở nên thuần từ, đẹp đẽ, thái hòa và an lạc.

      Trong thời đại ngày nay, khi mà khắp nơi trên thế giới con người vẫn tiếp tục là nạn nhân của những nền văn hóa phi nhân, vong thân, của những hệ thống chính trị, kinh tế, giáo dục, xã hội đầy bản chất nô lệ hóa con người, đầy tính chất bạo động và áp bức, xô đẩy con ngừơi, giam hãm con người trong cuộc sống vong thân, nô lệ thì cuộc vận động LÝ TRẦN MỚI cuộc vận động phục hồi và khai sáng NỀN VĂN MINH NHÂN CHỦ ĐỨC TRỊ LÝ TRẦN, TINH THẦN DUNG HỢP, KHAI PHÓNG, TỪ BI, NHÂN BẢN, GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI XÃ HỘI VÀ GIẢI THOÁT CON NGƯỜI TÂM LINH là một điều vô cùng cần thiết và khẩn thiết. Đây chính là một cuộc cách mạng vĩ đại nhất, toàn diện nhất và có ý nghĩa nhất đối với CON NGƯỜI.

      Chúng ta sẽ xây dựng thành công một xã hội NHÂN CHỦ nước CỘNG HÒA NHÂN CHỦ thấm nhuần trọn vẹn và thể hiện toàn diện tinh thần dung hợp, khai phóng, từ bi, nhân bản và ý thức NHÂN CHỦ của dân tộc Việt, của đạo Phật Việt như là tinh thần và ý thức CHỦ ĐẠO, đồng thời tiếp thu, vận dụng tất cả những thành tựu tốt đẹp của nhân loại như là những kỹ thuật học để thực hiện ở mức độ cao nhất có ích lợi cho CON NGƯỜI nhất, tinh thần và ý thức NHÂN CHỦ này. Con đường này đã là con đường của quá khư vinh quang, chắc chắn cũng sẽ là con đường của tương lai quang phục.

Mark_03.gif (833 bytes) Về trang nghiên cứu & đối thoại tháng 7-2003 

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........