Dr. Julie Gerberding - Director of US Center of
Disease Control
Lần
đầu tiên trong lịch sử thành lập của TCYTTG (WHO), tổ chức thẩm quyền
chuyên môn Y tế cao nhất của Liên hiệp quốc đóng vai trò lãnh đạo và
điều phối tất cả các quốc gia trên thế giới vào một công cuộc vì sức
khoẻ của con người_chống lại chứng bệnh SARS. Lần đầu tiên TCYTTG đã
có thể nhanh chóng tập hợp được các nhà khoa học cũng nhưng các tổ chức
Y khoa hàng đầu ở các nước có nền Y học tiên tiến nhất thế giới lại
với nhau để cùng hợp tác trong “cuộc chiến mới” này. Cũng là lần
đầu tiên trong lịch sử một bệnh dịch mới phát sinh mà đã có thể
xác định được tác nhân gây bệnh trong một thời gian rất ngắn. Và lại
cũng là lần đầu tiên, TCYTTG đã có những khuyến cáo trên toàn cầu về
việc hạn chế đi lại đến một số vùng bị ảnh hưởng SARS. Trong thành
tích sau cùng của một loạt các kỷ lục của TCYTTG này không hiểu các
nhà chuyên gia hàng đầu này đã có tính toán kỹ lưỡng trước sau, thật
sự dựa trên lý trí và khoa học hay không, chúng ta chưa có đủ dữ liệu
để bàn luận. Song bằng một cảm quan thông thường thì có lẽ TCYTTG đã
và đang bước vào một cuộc phiêu lưu khá mạo hiểm, một cuộc đối đầu
vô định với vi rút SARS (SARS - CoV) còn hậu quả là các nước bị áp dụng
khuyến cáo đó sẽ phải khốn đốn về lâu về dài.
Gần như mọi người bây giờ ai cũng hiểu
SARS là một loại bệnh nhiễm trùng cho đến hiện nay mới có bằng chứng
vi rút corona SARS là tác nhân. Chứng bệnh này có khả năng phát tán và
lây lan giữa người với người. Mức độ lây lan của SARS cho đến nay
được biết chủ yếu là do tiếp xúc trực tiếp với người bệnh hay là
chất dịch vương vãi. Các con đường lây lan khả nghi khác là qua phân của
người bị bệnh có biểu hiện tiêu chảy.
Về nguyên tắc căn bản của việc kiểm
soát và phòng chống dịch là phải làm thế nào để tránh không cho bệnh
lây lan trên diện rộng. Như vậy muốn làm được việc này cần phải có
các điều kiện: (1) phải biết được tác nhân gây bệnh đầy đủ, bao gồm
đặc tính sinh học, cấu trúc di truyền, chu kỳ đời sống, khả năng sống
sót, môi trường phát triển tối ưu, chu kỳ tái sinh hay sinh sản, v..v..
(2) phải hiểu biết đầy đủ các con đường lan truyền, các vật chủ
trung gian nếu có (3) vật chủ và hiểu biểt được cơ chế sinh trưởng
trong vật chủ, thời gian lưu trú, con đường phóng xuất ra ngoài, độc lực,
liều lượng và khả năng gây bệnh, (4) biết rõ thời kỳ ủ bệnh, cũng
như thời kỳ lây lan mạnh, (5) dược chất hay phương thức điều trị nào
có đáp ứng. Một khi tối thiểu các yếu tố trên đây không biết được
đầy đủ thì mọi công tác phòng chống bệnh nhiễm khuẩn đều trở nên
thụ động, không đặc hiệu. Càng thụ động bao nhiêu thì phương pháp quản
lý càng có tính bao vây theo kiểu “bắt nhầm hơn bỏ sót” bấy nhiêu.
Đó là phương cách mà hiện nay TCYTTG và các nước đang thực hiện với vụ
bùng phát của mặt bệnh mới ở người vi rút SARS.
Bản thân SARS là một mặt bệnh mới dấy
lên. Dù rằng TCYTTG và cộng đồng Y tế quốc tế rất nỗ lực và có
thành tích vượt bực trong việc nhận dạng nhanh chóng tác nhân gây bệnh
là vi rút SARS-CoV. Thế nhưng xung quanh nó vẫn còn có nhiều nghi vấn, cũng
như những điều không nhất quán, bộ gen của SARS-CoV cũng đã được giải
mã, nhưng chỉ trong vòng có mấy tuần, tại những nơi khác nhau trên thế
giới nhận thấy rằng vi rút corona mới này có vẻ không thuộc dạng ổn
định về kết cấu di truyền, dễ đột biến để ‘thay hình đổi dạng’;
nhưng nếu nó là vi rút ổn định về kiểu di truyền cũng càng không phải
là lý do để mừng. Nếu là một loại không thay đổi kiểu gen thì cơ may
sản xuất ra được vaccine đặc hiệu là trong tầm tay chỉ có điều sớm
hay muộn, thế nhưng đó cũng là một dấu hiệu vi rút có khả năng “trụ”
và thích nghi được với cơ thể con người và độc lực có thể vẫn
không bị thay đổi. Tất cả những hiểu biết khác về SARS vẫn là mơ hồ.
Triển vọng về công tác phòng chống
và kiểm soát bệnh SARS? SARS cũng như mọi bệnh truyền nhiễm lây lan
thành dịch khác. Trong lịch sử đã có những đại dịch (pandemic) có tính
toàn cầu khủng khiếp như đại dịch “Tử thần đen” (black death) là vụ
đại dịch do dịch hạch ở thế kỷ 14, lấy đi một phần ba dân số
châu Âu. Rồi dịch đậu mùa thế kỷ 16 cũng quét khắp năm châu với con
số tử vong không kém. Vụ đại dịch cúm 1918-19 cũng cướp đi khoảng 40
triệu sinh mạng trên thế giới. Và kết cục thế nào? Chỉ khi có kháng
sinh ra đời streptomycin mới đặc hiệu trị được dịch hạch. Vi rút đậu
mùa được một điểm may mắn là tính chất ổn định của cấu trúc
kháng nguyên cho nên sau mấy thế kỷ hoành hành, nhưng cũng mãi đến 1979
thế giới mới công bố tảo thanh được bệnh này, nhưng con số tính mạng,
diện mạo con người (sẹo vĩnh viễn làm khuôn mặt người bị nhiễm đậu
mùa bị rỗ) và tài sản của toàn thế giới đổ vào đó là khủng khiếp.
Còn
cúm? Chưa có một tổ chức Y tế tiên tiến và nhà khoa học lừng danh nào
dám tuyên bố về tiên đoán khả năng đối phó với vi rút cúm- một trong
những “nghệ nhân” của sự đột biến, “trôï dạt” và “chuyển dạng”
kháng nguyên. Gần như mỗi năm có thêm một thành viên mới. Về tử vong của
bệnh viêm phổi và cúm (Tiếng Anh gọi là P&I, pneumonia & Influenza) của
Mỹ qua một vài chu kỳ: 9.1% (1996-97); 9.0% (1997-98); 8.8% (1998-99); 10.5% (đến
tháng 1/2000). Cho đến nay mỗi năm trên thế giới có khoảng 250.000 đến
500.000 người chết vì bệnh cúm, trong số này có 36.000 là ở Mỹ. Và cúm
vẫn là một loại bệnh lây lan mạnh, tử vong cao trong nhóm người cao tuổi
(đặc biệt trên 65).
Các bệnh nhiễm trùng và lây nhiễm
khác? Mỗi năm, có khoảng 1 đến 2,7 triệu người, phần lớn ở Phi châu,
chết vì bệnh sốt rét; bệnh Lao vẫn
giết chết gần 2 triệu người hàng năm, và 98% những người chết vì lao
sống trong các nước đang phát triển; trên bình diện toàn cầu; bệnh
AIDS/HIV làm chết 3 triệu người hàng năm, kể cả 61,000 trẻ em, dù rằng
khoa học đã hiểu quá nhiều về những bệnh này.
Không phải liệt kê ra thì chúng ta vẫn
biết TCYTTG cũng như các quốc gia đã bỏ biết bao nhiêu thời gian, công sức,
tài chính, nỗ lực …để chống lại bệnh tật nói chung, các bệnh truyền
nhiễm nói riêng, kết quả nhận được có khá lên nhưng vẫn trồi sụt
như thời tiết. Chỉ có một số ít các bệnh có thể cho là đã thanh
toán hoặc ít nhất là không còn là mối nguy hiểm nữa, còn lại vẫn là
những thử thách đối với nhân loại. Bệnh vẫn tồn tại, vẫn là mối
nguy hại thường trực.
Thực tế nguy hại của SARS? Vẫn như một
mô hình bệnh tật truyền nhiễm gây dịch thì SARS có lẽ còn không sợ bằng
HIV/AIDS. Vì ai đã được chẩn đoán AIDS thì coi như là nhận luôn “bản
án tử hình” chỉ có điều sớm hay muộn, hoặc chờ vào phép kỳ diệu
có thuốc điều trị đặc hiệu trước khi “bản án” thi hành! Đối với
SARS theo cách tính cũ thì tỷ lệ tử vong dưới 10%, nếu theo cách tính mới-
tỷ suất tử vong của một ca bệnh (case fatality ratio) là có đến trên 10%
đi nữa thì cũng không nguy hiểm như Bệnh Sốt xuất huyết Ebola (có tỷ lệ
tử vong 70%). Nếu tính về con số tỷ lệ tử vong tuyệt đối thì có lẽ
đến đầu sang năm sau, con số tử vong của SARS cũng không sánh được với
con số tử vong vì bệnh Sốt rét tính riêng trong quần thể trẻ em (dưới
15 tuổi) chỉ riêng ở châu Phi là 3000 trẻ em chết trong một ngày, theo số
liệu báo cáo mới nhất của TCYTTG. Về
tầm vóc quy mô bệnh, tính con số tối thiểu từ giữa 11/02 đến đầu 05/03, tổng số cộng dồn người mắc
SARS trên toàn thế giới là khoảng 7000 người và tử vong khoảng 500 người,
vị chi con số trung bình tối thiểu của ngưòi mắc là 1200người/tháng
và tử vong khoảng 85 người/tháng cho toàn thế giới. Ta thấy, riêng với
cúm, chỉ tính ở Canada , tính trung bình, có 70.000 đến 75.000 người ở
Canada nhập viện mỗi năm vì các bệnh liên quan đến cúm, và 500-1500 người
chết chỉ riêng vì cúm. Như vậy là trung bình có trên 5000 người mắc/tháng,
và 42-125 tử vong/tháng chỉ riêng ở Canada. Như thế thì, mối “nguy hiểm”
của SARS ở đây có lẽ chỉ được tính toán ở chỗ nó lây lan qua hành
khách đi bằng đường hàng không, chứ không hẳn là tính trên tầm vóc
quy mô và mức độ lây lan trong cộng đồng mấy. Nhưng thiết nghĩ, với
con số hành khách đi lại trên tất cả các chuyến bay quốc tế mỗi ngày như hiện nay thì con số mắc bệnh
do lây lan qua đường hàng không do SARS như hiện nay vẫn là quá ít ỏi.
Một thực tế đắng cay và đau lòng là
những bệnh hiểm nguy, lây nhiễm của các nước nghèo như ở châu Phi,
châu Á thì nó vẫn hoành hành và vì nó không có lây lan qua con đường máy
bay, nên chẳng động đến ai mấy, vì mấy ai giàu có đi đến đó. Còn
SARS vì nó dính dáng đến hành khách đi máy bay. Nếu như là dân Việt nam,
chỉ trừ những người đi công vụ thì cũng hoạ hoằn mới có một chuyến,
chắc chẳng ai có nổi một giấc mơ được đi trên hàng không quốc tế.
Hành khách quốc tế, thì dân thường trưởng giả lắm một năm mới có một
kỳ đi ngoại quốc nghỉ ngơi, còn lại chỉ có hạng VIP và những người
bạn hàng thường trực (frequent flyer) cũng nằm trong ‘business class’ cả,
là những đối tượng sử dụng hàng không “như cơm bữa” mà thôi. Nên
có lẽ vì vậy mà SARS mới trở thành “mối đe doạ toàn cầu” chăng?
Trong lịch sử thì dù có là những đại
dịch khủng khiếp như là đậu mùa thì TCYTTG cũng chỉ có những khuyến
cáo kiểm dịch đầu vào của mỗi quốc gia mà thôi, chưa có bao giờ có
khuyến cáo hạn chế đi lại đến một số vùng dịch lưu hành như SARS lần
này. Điều đó cũng tốt, vì sẽ làm giảm nguy cơ phơi nhiễm với tác
nhân gây bệnh trong người bệnh có khả năng lây lan. Nhưng thực tế hiệu
quả của nó như thế nào? Đối tượng nào được bảo vệ nhiều nhất
cho dạng khuyến cáo này?
Và câu hỏi cần phải đặt ra là sự
“cấm vận” đó cho đến bao giờ? Cho đến khi kiểm soát được vụ dịch
ít nhất cũng như Singapore dù con số bệnh nhân nhiều, tử vong cao nhưng
chưa có dấu hiệu lây lan cộng đồng và “xuất khẩu” bệnh nhân mạnh,
hay tạm như Toronto, và tốt hơn như Hà nội- đã khống chế được SARS.
Thế chúng ta có biết đâu một thực tế,
việc ngăn chặn được một vụ dịch đã khó, huống chi là một dịch mới
dấy lên như SARS, chúng ta chưa hiểu nhiều về nó. Không ai dự đoán được
thời gian. Mà năm nay vụ dịch dẫu có được khống chế, nhưng đâu có
nghĩa là tiễu trừ được. Một khi nó đã hiện diện, thì cơ may để nó
bị thanh toán là một chuyện hiếm hoi. Hàng năm, hay hàng vài năm lại bệnh,
lại dịch. Như cúm đấy, mỗi năm cũng lại phần tư đến nửa triệu tính
mạng ra đi, còn nhiều bệnh tật khác và nguy cơ gây chết người khác nữa.
Vậy chăng, ngoài việc cấm vận của
Liên hợp quốc trên trường quốc tế về kinh tế do “lấn cấn” về chính
trị thì đầu thế kỷ 21 này cũng Liên hợp quốc (đại diện y tế là
TCYTTG) sẽ có một luật “bất thành văn” nữa là sẽ có chuyện “cấm
vận” gián tiếp kinh tế do “lấn cấn về y tế”! Trung quốc, vâng, trước
hết và nặng nhất là Trung quốc: Đặc khu Hành chính Hồng Kông , Bắc kinh, Shanxi, Inner Mongolia,
Tianjin, Taipei (Đài bắc) rồi còn nơi nào nữa? Và cứ mỗi năm hay vài năm
SARS “đến hẹn lại lên” nếu có nguy cơ thì lại “cấm vận”. Dù rằng
chính quyền Trung quốc có những chuyện đáng trách trong vấn đề che đậy
sự thật về vụ dịch, nhưng điều đó không có nghĩa người dân Trung quốc
phải chịu “hậu quả” (kỳ thực “án lệnh” này ra trước khi Trung
quốc báo cáo thừa nhận về SARS), không phải những vùng bị ảnh hưởng
SARS phải bị “vạ lây”. Hà nội may mắn thoát khỏi “lưới trời”
đợt này nhưng Hà nội và những vùng khác liệu có tránh được SARS về
sau? Các nước chưa bị liệu có không bị?
Các bệnh truyền nhiễm hay các bệnh “ngặt
nghèo” lại hay rơi vào những nước nghèo. Chỉ nhìn vào Toronto thì thấy
rõ, Toronto cũng là vùng lây lan ở địa phương cấp độ ++ (trung bình), chỉ
có một tuần sau khi có khuyến cáo hạn chế đi lại đến đó thì Toronto
đã nhanh chóng “hoá giải” ngay “vòng kim cô” một cách dễ dàng, phần
lớn cũng là nhờ vào sự tiên tiến về kỹ thuật, kinh phí đầu tư mạnh
để chống dịch. Nói như thế không có nghĩa là ganh tỵ hay so sánh nhưng
để thấy rằng hứa hẹn cho việc ngăn chặn được những vụ dịch như
thế ở các nước nghèo và đang phát triển là chuyện thiên nan vạn nan.
Và như vậy cũng đồng nghĩa là những vùng này sẽ chịu “hạn” còn
lâu, còn dài và còn nhiều!
Những kiểu khuyến cáo như vậy đã vô
hình chung là “con dao thọc sườn” vào sự phát triển nền kinh tế của
các nước đang phát triển vốn nó đã bấp bênh. Không cần phải dẫn giải
thêm thì ai cũng có thể nhận thấy trong vụ bùng phát SARS này nhịp độ
phát triển kinh tế của các nước bị ảnh hưởng SARS hoặc những nơi có
quan hệ làm ăn rộng lớn với những nơi đó đã trì trệ và tổn hại như
thế nào, đặc biệt trong kỹ nghệ hàng không và du lịch.
Trong những quyết định về chuyên môn
của TCYTTG khi đã được công bố là đều được cân nhắc kỹ lưỡng về
mặt khoa học. Khuyến cáo hạn chế đi lại đến những vùng có dịch lây
lan mạnh là cũng nhằm để tránh tình trạng lây lan thêm trên bình diện
quốc tế, tạm thời trong khi chờ đợi vụ dịch lắng xuống, hoặc cũng
có một biện pháp nào khác được thay thế có hiệu quả hơn. Nhưng trong
trường hợp này chúng tôi nhận thấy đó là kiểu khuyến cáo quá cứng
nhắc, không cân nhắc đến tác hại quá lớn của nó đến phương diện
phát triển của quốc gia. Sinh mạng là quý giá, mỗi một con người là một
tuyệt tác của thiên nhiên, nhưng đó không phải là biện pháp tốt nhất
để ngăn chặn vụ dịch và làm giảm thiểu tử vong hơn. Trên thực tế
cho đến nay, dù SARS vẫn là một câu hỏi chưa có câu trả lời hoàn chỉnh,
nhưng rõ ràng chưa có bằng chứng cho thấy tầm nguy hại của nó cao đến
mức đe doạ thế giới. Trong khi đó chỉ vì một “nguyên tắc phòng ngừa”
mà có thể đã đưa thế giới vào tình trạng hoảng loạn vì lo sợ, nền
kinh tế của các nước có SARS bị lung lay.
Chúng tôi chỉ có một mong ước là
TCYTTG vẫn giữ vững được cương lĩnh hoạt động độc lập của mình
để có những quyết định sáng suốt, có lý trí, khoa học và hợp lý.
Trong trường hợp cách khuyến cáo hạn chế đi lại này, thiển nghĩ có lẽ
đó là một bước đi khá phiêu lưu. Chỉ thương thay những vùng đang bị
ảnh hưởng nặng về SARS không biết rằng “bao giờ cho đến tháng Mười”
để được giải những hạn đó? Và nếu có được thì cũng lại vẫn
“đến hẹn lại lên”! Lại đón nhận những lần “cấm vận” mới mỗi
khi SARS về. Viễn cảnh về nền kinh tế của những nước này trong tương
lai? Có lẽ ngoài các chỉ số trên thị trường chứng khoán như Down John,
NASDAQ, Hang Seng thì trong tương lai gần sẽ có thêm chỉ số SARS không phải
để đánh giá bệnh tật mà để đánh giá sự phát triển kinh tế!
NDN 10.05.03
Về
trang Nghiên cứu & đối thoại tháng 6-2003
Home | Top Page | Về trang mục lục