- Chùa Ba Đồn ở Huế
- một di tích lịch sử chưa được quan tâm
|
Dọc theo đường Tam Thai về phía Đài Liệt sĩ
và Nghĩa trang Thành phố, cách phía đông đàn Nam Giao chừng 170m, có ba bãi
cỏ chỉ xanh rờn bằng phẳng giống như ba cái sân bóng. Ở giữa nổi
lên một ngôi chùa nhỏ mang tên Ba Đồn và nhiều lăng mộ của bá tánh
(trăm họ) chen vào giữa các bãi cỏ rộng. Hàng chục thập niên qua, không
biết bao nhiêu người lui tới thăm Đài Liệt sĩ, thăm mồ mã, đi viếng cảnh
phía sau núi Bân- nơi Nguyễn Huệ lên ngôi lấy niên hiệu Quang Trung (1788),
nhưng ít người để ý tìm hiểu gốc tích chùa Ba Đồn, tìm hiểu lý do
vì sao ba bãi cỏ chỉ xanh rờn ấy là vườn tượt nhà ai mà không thấy có nhà cửa mồ mã hay bất cứ
một lọai cây bụi gì mọc lên trên ấy cả (?) Cuối năm 2002 vừa qua, họa
sĩ Bửu Chỉ (1948-2002) qua đời và táng ở cuối một bãi cỏ lớn ngay sau
lưng chùa Ba Đồn, chuyện xưa nay ít người để ý bổng cợm lên, nhiều
nhà văn, nhà báo, độc giả ở các nơi qua nhiều phương tiện liên lạc hỏi
tôi về sự tích chùa Ba Đồn và hiện tượng lạ của những bãi cỏ xanh
trước và sau chùa. Nhận thấy đây là một vấn đề có liên quan đến lịch
sử rất hệ trọng nên tôi viết bài nầy.
1. Lịch sử chùa Ba Đồn
Năm
1803, để xây dựng Kinh thành Phú Xuân, vua Gia Long (1802-1819) cho giải tỏa
8 ngôi làng ở bờ bắc sông Hương. Nhà cửa và mồ mã phải dời đi nơi
khác. Những mồ mã không có người chịu trách nhiệm thì nhà nước cho dời
lên hợp táng tại vùng rừng mà ngày nay gọi là Xóm Hành thuộc thôn Tứ
Tây xã Thủy An, thành phố Huế. Cồn mồ (ossuaires) 8 làng ra đời. Năm Quí
hợi (1803), tại Cồn mồ 8 làng (sau nầy có tên là Đồn 1), vua Gia Long cho
dựng bia đá (cao 1,51m, rộng 1,110m) với nội dung “Ân Tứ Hiệp Táng Vô Tự Chi Mộ” (Vua cho hợp táng những người không người
thờ tự). Dòng lạc khỏan bên phải đề :“Vị dĩ bách cận thành trì thiên táng tại thử” (Vì lẽ
bức cận thành trì nên dời chôn tại đây). Lạc khỏan bên trái ghi: “Tuế
thứ Quý hợi niên tam nguyệt sơ thất nhật phụng khắc” (Kính vâng mệnh
khắc ngày 7 tháng 3 năm Quý hợi, tức là ngày 27.4.1803).
Tiếp sau, khi xây dựng đàn Nam Giao và lăng Gia Long, các
mồ vô chủ lại được dời đến tiếp tạo thành hai cồn mồ lớn nữa
nằm về phía nam của cồn mồ 8 làng. Cồn mồ 8 làng (sau thường gọi là
Đồn 1) có diện tích 50m x 150 m. Ở mỗi cồn mồ đều có dựng bia và có
nội dung từa tựa như bia Cồn mồ 8 làng. Riêng bia Cồn mồ thứ hai có lạc
khỏan bên trái cho biết có 3.700 người (con số hàng chục và hàng đơn vị
bị đục bỏ từ trước năm 1915) an nghỉ ở đây, lạc khỏan bên trái
bia Cồn mồ thứ ba cho biết có 2250 (con số chỉ đơn vị bị đục bỏ).
Đến năm 1835, vua Minh Mạng cho lập một bàn thờ ở
giữa trời (gọi đàn) (1) tại cồn mồ 8 làng đề hằng năm nhà nước
tổ chức cúng tế những cô hồn của 8 làng. Về sau nhà vua lại cho dựng
thêm hai đàn nữa để cúng tế những cô hồn của cồn mồ thứ hai và thứ
ba. Dân chúng gọi ba cồn mồ có ba cái đàn hằng năm tế lễ đó là Cồn
mồ Ba Đàn (Ba Đồn). Sau ngày thất thủ Kinh đô (23 tháng 5 Ất dậu) thực
dân Pháp đánh chiếm Huế, dân chúng và binh lính trong Thành đạp nhau chạy
theo vua ra các cửa Nhà Đồ, cửa Hữu làm chết hàng ngàn người. Lúc đầu
người chết được dập hai bên lề đường và ngay trong các vườn nhà
chung quanh. Về sau người Pháp “giăng giây thép họa địa đồ nước Nam”
bắt dân chúng phải cất bốc hết các mồ mã chôn trong và ngòai Kinh
thành. Những mồ vô chủ lại được đưa lên Ba Đồn “hợp táng” hình
thành thêm một số Cồn mồ nữa. Theo L.Sogny (BAVH.1915) số cồn mồ mới
đó là:
- Cồn mồ thứ tư, nơi
an nghỉ của quân lính hy sinh trong Kinh thành Huế ngày 23.5 Ất dậu
(5.7.1885), số lượng không rõ;
- Cồn mồ thứ năm, nơi
an nghỉ của sĩ quan hy sinh trong Kinh thành Huế ngày 23.5 Ất dậu (5.7.1885),
số lượng không rõ;
- Cồn mồ thứ sáu, nơi
an nghĩ của thường dân chết trong Kinh thành Huế ngày 23.5 Ất dậu
(5.7.1885), số lượng không rõ;
- (và 4 Cồn mồ dành cho các đợt di dời khác).
- Các Cồn mồ mới cũng
đều có bia đá, nhưng nay không còn tấm nào.
Các đàn do nhà nước lập nên chỉ tế lễ mỗi năm
một lần. Từ thời Gia Long, một cái miếu nhỏ được dựng lên ngay phía
nam Đồn 1 để hương khói quanh năm. Cuối thế kỷ XIX, cái miếu đổ nát,
bà Nguyễn Thị Lựu-bà ngọai của vua Thành Thái (2),
bỏ tiền trùng tu. Để biết rõ hơn về lòng người đối với những cồn
mồ nầy, theo L.Sogny, trên một bia đá dựng ở Tứ Tây An Cựu (3) có đọan viết:
“Ông Trần Hữu Tạo
nguyên giữ chức Tư vụ bộ Hình quê ở làng Tuy Phước tỉnh Quảng Bình,
và vợ là Lê Thị Điếu quê ở làng
Thanh Phước, Tổng Vĩnh Trị, huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên, xây dựng
ngôi chùa nhỏ nầy để thờ cúng các vong linh đang an nghị ở Ba Đồn.
[....] Ở Cồn Mồ Ba Đồn có nhiều nghĩa địa, có nhiều mộ không biết
nguồn gốc. Trong số người qua cố có những người hy sinh cho danh dự, có người chết
vì trung nghĩa. Người ta không biết lai lịch, ngày mất. Làm sao phân
biệt người trẻ, kẻ già, người có uy quyền hay kẻ hèn mọn. Khi mà
chúng tôi nhìn thấy vong linh của cô hồn lượn trên các nghĩa địa ấy
như những con đom đóm, chúng tôi thấy vô cùng đau xót, khi nghĩ đến các linh hồn ấy không nơi
nương tựa. Khi chúng tôi nghe tiếng ríu rít chim sẻ hay tiếng quạ kêu
trên các ngôi mộ ấy chúng tôi rất cảm kích vì hòan cảnh khổ sở của
người quá cố. Cho nên chúng tôi đã xây dựng với của riêng của chúng
tôi một am nhỏ (Pagodon) đặt tên Phổ Thế Am (Am cho mọi người) để chúng tôi thờ các kẻ quá cố...”.(Bia
khắc ngày 12.8.1897 tức 5.10.1897).
Sau khi Miếu Ba Đồn được nhiều người bỏ tiền trùng
tu, các đợt cúng tế cầu xin thần linh bảo hộ cho Ba Đồn và cầu các
cô hồn phù hộ cho bá tánh đều được tổ chức tại miếu Ba Đồn. Đến
nửa đầu Thế kỷ XX, để cầu cho mua may bán đắc, các phổ thợ vàng
(Kim Hòan), phổ Thợ may, phổ Chén bát, phổ Nón lá, Phổ Phú Nhơn (trong
Kinh Thành)..tự nguyện làm ‘tín đồ” của miếu và xem miếu Ba Đồn là
miếu thờ của các Phổ. (Phổ là sổ ghi chép. Ở đây là sổ ghi chép những
người cùng ở trong một địa phương, cùng làm một nghề hay cùng buôn
bán một mặt hàng). Miếu Ba Đồn trở thành miếu của công chúng.
2. Thờ cúng tại miếu Ba Đồn
Việc tế lễ cúng bái tại Ba Đồn được
các vua từ Minh Mạng đến Duy Tân rất chú trọng. Ví dụ như thời Thành
Thái rất thiếu thốn thế mà lễ vật hằng năm dùng cho việc tế ở Ba
Đồn gồm có ba con lợn, 15 đấu nếp, 45 chén gạo, 15 chén muối, và các
thứ khác như hương đèn, rượu, cau trầu, đồ vàng bạc bằng giấy. Từ
đời Thành Thái - Duy Tân mỗi năm chỉ tế lễ vào ngày Thất thủ Kinh đô
23.5 âm lịch. Đối với dân chúng, hằng năm các phổ tổ chức cúng tế
vào ngày 16 tháng Giêng (Minh niên) và ngày 16 tháng Chạp (Tất niên). Từ
sau ngày thành lập thêm các Đồn 4,5,6, ngòai việc thờ Thánh, miếu Ba Đồn
thờ thêm các cô hồn đã mất trong Biến cố 23 tháng 5 Ất dậu, các phổ
lại tổ chức lễ cúng âm hồn nữa. Lễ cúng âm hồn kéo dài cả tuần lễ,
bắt đầu từ ngày 23 tháng 5 cho đến cuối tháng 5. Các Phổ tự chọn
ngày tế riêng hoặc hợp tế tùy theo năm. So với các miếu tại Huế và
trên tòan quốc, không nơi nào thờ cúng một số lượng cô hồn đông đảo
như miếu Ba Đồn. Do đó dân chúng nghĩ miếu Ba Đồn rất linh thiêng. Miếu
Ba Đồn trở thành nơi bói xăm của bá tánh. Người đóan xăm là người có
ăn học, phần lớn là các nhà sư bán thế. Do yêu cầu của thực tế, hằng
ngày tại miếu có một nhà sư đóan xăm. Rồi, vì sự có mặt của các
nhà sư, miếu Ba Đồn rước thêm Phật về thờ. Miếu Ba Đồn có Phật,
có sư dần dần trở thành chùa Ba Đồn. Vì thế cho nên dù chùa Ba Đồn
ra đời khá lâu, nhưng chùa chưa bao giờ được Giáo hội Phật giáo công
nhận. Chưa được công nhận là chùa Phật nên chùa Ba Đồn không có trụ
trì. Vị sư bán thế đóan xăm nổi tiếng của chùa Ba Đồn là ông Mật
Giải - em ruột Hòa thượng Bích Phong (1900-1968), trụ trì chùa Quy Thiện (ở
gần chùa Ba Đồn). Ông Mật Giải qua đời năm năm 1986 sau 45 năm gắn bó
với chùa Ba Đồn. Đồng thời với ông Mật Giải có ông Triệu Bân (?) chủ
tiệm vàng Vĩnh Hòa ở Huế, có nhiều công đức trong việc xây dựng chùa
Ba Đồn như còn thấy ngày nay.
3. Những bí ẩn ở chùa Ba Đồn
Chùa
Ba Đồn - nơi nương tựa của hàng vạn cô hồn. Vì thế chung quanh chùa Ba
Đồn có nhiều điều bí ẩn rất khó giải thích. Một người xuất thân
trong gia đình ba đời giữ chùa Ba Đồn kể rằng: Trước đây có một cặp
rắn già sống quanh quẩn tấm bia Ân Tứ sau chùa. Về sau tín đồ khấn vái
mãi cặp rắn mới biến đi. Thân sinh ông kể với con cháu rằng: Nhiều đêm
ông thấy trước bàn thờ Phật, thờ Thánh trong chùa sáng rực lên như có
quan quân hiện về lễ bái. Ông phải quỳ xuống lạy khấn vái hiện tượng
ấy mới dứt. Ông Phan Bốn- hậu duệ của một dòng họ khai sinh ra Xóm
Hành từ thời Gia Long, rất am hiểu về tình hình ở chùa Ba Đồn kể rằng:“Sau
ngày giải phóng vài năm, ông Châu Sơn làm trưởng ban thủy lợi, tập
trung dân về chùa Ba Đồn để đi đào công trình thủy lợi Nam sông Hương.
Một số thanh niên cắm trại ngủ trên bãi cỏ Đồn 1, nửa đêm họ thấy có người đến đuổi. Các
thanh niên nầy không đi, hôm sau đi đào thủy lợi, người thì gảy tay, người
gảy chân, người bị sốt phải nghỉ việc. Đêm sau ngủ họ lại thấy
có người đến đuổi. Các bạn thanh niên sợ quá bèn chạy vào chùa xin
bà mẹ của ông Đinh (người giữ chùa, đời thứ hai) cho vào chùa ngủ
không thôi “ngủ trên Đồn người ta đến đuổi dữ quá”. Các thanh
niên vào chùa ngủ thì không có việc gì. Sáng mai không thanh niên nào còn
dám ở chùa Ba Đồn nữa, họ nhổ trại đi tìm nơi khác cắm. Những thanh
niên cứng đầu trong xóm, người lớn dạy không nghe, cứ lên Đồn đá
banh đều bị gảy chân, gảy tay phải đi bệnh viện. Vì thế mà nhiều đời
nay không một người địa phương nào dám đùa trên các Đồn. Trước năm
1975, có một chiếc trực thăng thấy Cồn mồ rộng rải đáp xuống, sau đó
bay lên không được phải nhờ xe cần cẩu đến cẩu về Phú Bài. Chuyện
ông Phan Bốn kể nhiều người ở địa phương đều biết và có cùng một
lời giải thích là các vong linh ở Ba Đồn trừng phạt những người dám
khuấy động nơi an nghỉ của họ.
Vùng chùa Ba Đồn là một vùng đồi, tại sao các cồn
mồ (tức các Đồn) lại bằng phẳng như vậy? Tôi tham khảo tài liệu của
L.Sogny và tài liệu điền dã thì được biết: Sau khi thành lập các cồn
mồ, triều Nguyễn giao cho làng Bình An - làng thành lập bởi dân chúng 8
làng di dời từ bắc sông Hương lên, cúng lễ hằng năm và chăm sóc mồ
mã. Dân làng Bình An được giao nhiệm vụ nầy vì hai lẽ: Một: Người nằm
dưới Ba Đồn là dân tám làng tổ tiên của dân làng Bình An, Hai: Đất lập
Ba Đồn là đất của làng Bình An mới được thành lập sau năm 1803. Để
tránh xương cốt người chết bị lòi ra (do trâu bò dẫm đạp lên làm trụt
đất hoặc do cuốc đất dẫy cỏ chạp mộ hằng năm), làng Bình An sức
dân gánh đất đắp lên các cồn mồ tạo thành một cái đàn rộng rãi như
còn đến ngày nay.
Về hiện tượng
vì sao các Đồn chỉ có độc nhất một lòai cỏ chỉ có thể mọc trên
ấy, có nhiều cách giải thích. Một nhà sư bán thế làm Phật sự ở
vùng nầy lâu năm giải thích rằng: Các vong linh họ ở dưới đất, chỉ
cho lọai cỏ chỉ mọc lên để giữ đất chứ không cho bất cứ một lọai
cây gì mọc lên cả. Đồng thời người ta cũng giải thích rằng: hàng
ngàn xác chết nằm dưới đó, xác chết phân hủy sinh ra khí phốt-pho,
khí nầy rất nóng không một lọai cây gì có thể mọc lên được. Hồi
đầu thế kỷ, một người giữ các cồn mồ lại giải thích với L.Sogny
rằng:“..le sel avait été autrefois répandu en de si grandes quantités qu’aucune
végétation n’y pousse plus, même l’herbe ordinaire” (ngày xưa người ta vải
muối lên Cồn mồ nhiều đến nổi chẳng còn một cây nào sống được,
ngay cả cỏ cũng vậy).
4. Hiện vật văn hóa chùa Ba Đồn
Chùa
Ba Đồn hậu thân của miếu Ba Đồn, ra đời đã ngót 200 năm. Nhưng trải
qua nhiều cuộc chiến tranh và không có người trách nhiệm chủ chốt nên
hầu hết các hiện vật cổ của chùa không còn gì. Căn cứ trên tài liệu
của L.Sogny ( BAVH, 1915), chùa Ba Đồn từng có một Đại hồng chung và một
trống lớn. Đặc biệt trên lưng hồng chung ngòai việc khắc tên người cúng
và số tiền cúng, có một đọan ghi bằng tiếng Pháp: “Offerte à la pagode
de Ba Đồn par un groupe de marchands de porcelaine antique pour être affectée au
culte des “Esprits”(Một nhóm thương nhân đồ sành sứ cổ cúng các vong
linh thờ tại chùa Ba Đồn). Ở gian giữa có treo một bức hòanh sơn son thếp
vàng khắc bốn chữ: “ Vạn tải
linh hồn”, do một thương nhân Trung Quốc tên là Hòang Châu Nguyên cúng
vào năm Thành Thái thứ 17 (1905). Hiện nay tất cả những “cổ vật”
trên không biết lưu lạc phương nào.
5. Những bí ẩn chờ khám phá
Sử
nhà Nguyễn cho biết, khi ra lịnh cho dân 8 làng dời nhà cửa mồ mã để lấy
đất xây dựng Kinh thành, vua Gia Long đã có chính sách đền bù cho dân rất
thỏa đáng. Mồ mã của dân 8 làng đều có họ hàng, bà con đứng ra lảnh
tiền cải táng đầy đủ. Vậy thì những mồ mã không có người thừa nhận
còn lại đó từ nguồn nào mà nhiều đến nổi hợp táng thành một cô mộ
rộng đến 50m, dài đến 150m tại Đồn 1 như thế ?
Đọc lịch sử Thuận Hóa Phú Xuân có lẽ không ai có
thể quên trên mảnh đất 8 làng xây dựng Kinh thành Huế hiện nay, vào
tháng 5 Bính Ngọ (1786), đã diễn ra sự kiện người anh hùng áo vải Nguyễn
Huệ làm tiết chế quân thủy bộ từ Qui Nhơn ra giải phóng Phú Xuân trong
tay quân Trịnh do Hòang Đình Thể và Phạm Ngô Cầu chỉ huy. Hàng ngàn
quân Trịnh bị quân Tây Sơn giết đã vùi xác trong làng Phú Xuân và các
làng kế cận. Tiếp đến, Phong trào Tây Sơn làm chủ Phú Xuân hơn 14 năm
(1786-1801), quan quân nhà Tây Sơn chết trong thời gian 14 năm đó chắc chắn
có nhiều người táng trong khuôn viên 8 làng ấy. Phải chăng tại Đồn 1 của
Ba Đồn (táng hài cốt dời từ 8 làng) có nhiều hài cốt của người Bắc
Hà và quan quân nhà Tây Sơn ?
Và, theo nghiên cứu của chúng tôi, khu vực chùa Thiền
Lâm, khu vực đàn Nam Giao ngày nay ở gần cung điện Đan Dương (về sau là
lăng Đan Dương) của vua Quang Trung cũng là nơi đóng quân của quan quân
nhà Tây Sơn. Trong thời gian hơn 14 năm trú đóng tại đây, những người
không may qua đời chắc chắn đã gởi nắm xương tàn ở khu vực nầy. Phải
chăng những cô mộ không người thừa nhận được cải táng (tại đồn 2
và đồn 3) để làm đàn Nam Giao cũng có nhiều ngôi của quan quân nhà Tây
Sơn ?
- Năm 1915, ông Sogny viết bài “Cồn mồ vùng lân cận
Nam Giao” (Les Ossuaires des Environs du Nam Giao) cho biết người ta đã cố ý
dùng búa và đá ghè xóa phần lớn các lạc khỏan trên các tấm bia đá dựng
ở các đồn. Có lạc khỏan ghi tổng số mộ được táng tại đồn chỉ
bị ghè xóa chữ số hàng chục và hàng đơn vị (Bia đồn số 2) hoặc bị
ghè xóa con số hàng đơn vị (bia đồn số 3); cũng có bia bị xóa lạc khỏan
ghi ngày tháng dựng bia (Bia đồn số 2) hoặc xóa luôn cả lạc khỏan bên
trái. Không rõ người ta cố tình làm việc bôi xóa những lạc khỏan đó
để làm gì (?) Và, không rõ từ năm nào, người ta đã đánh cắp 10 tấm
bia đá dựng từ Đồn 2 đến Đồn 10 và Am Phổ Thế Am như đã trích ở
trên. Mười tấm bia đá đó đã bị phá hủy hay đang được cất giữ
nơi đâu, người viết bài nầy rất mong được mách bảo để nghiên cừu.
5. Chùa Ba Đồn và Cồn
mồ Ba Đồn - một di tích lịch sử
Dọc
theo chiều thẳng đứng hai “trụ biểu” ở cửa ngỏ chùa Ba Đồn hiện
nay có đôi câu đối:
Phiên âm:
- "Chinh chiến kỷ
năng hồi, linh tích thiên thu bằng thử địa
- Thân sơ vô dị trí,
tâm hương nhất triện vấn thùy nhân”
NTĐ dịch:
- (Chính chiến mấy người
về, dấu linh ngàn thu nương đất nầy
- Thân sơ không đến lạ, tâm hương một
nén, hỏi ai người ? )
Không rõ đôi câu đối nầy làm từ thời nào, nhưng
ý nghĩa của nó gắn với di tích chùa và vùng Cồn mồ Ba Đồn. Câu đối
gợi nhớ đến câu thơ màu Tím Hoa Sim
của Hữu Loan “Thời chiến chinh mấy người đi trở lại” Họ không trở
lại nhà, họ bỏ xác ở chiến trường và được lưu giữ ở đây đến
ngàn sau. Không nghĩ đến chuyện thân sơ, ai là người đã có một nén hương
lòng ở chốn nầy ? Ai đó chính là những người đã xây dựng nên ngôi
chùa Ba Đồn nầy và kể cả những người đã đến viếng chùa nầy.
Các Đồn 1,2,3 là nơi hợp táng hài cốt của dân tám
làng đã nhường đất cho triều Nguyễn xây dựng Kinh thành. Ngày nay Kinh
thành được công nhận là di sản thế giới, việc tìm hiểu và tôn tạo
các di tích nầy để tưởng nhớ và cám ơn những “chủ đất” cũ là một
việc làm của kẻ uống nước nhớ nguồn.
Năm 1897, thời Pháp thuộc khắc nghiệt nhất mà một
nhà Nho nào đó trong lúc giúp ông bà Nguyễn Hữu Tạo - Lê Thị Điếu viết
hộ văn bia ở Am Thế Phổ nêu trên đã tế nhị nhắc đến công lao của
những người đã hy sinh trong biến cố đánh Tây năm 1885 : “Trong số người quá cố có những người hy sinh cho danh dự, có người chết
vì trung nghĩa”. Hy sinh vì danh dự gì ? Đó là danh dự của đất
nước. Trung nghĩa với ai ? Chỉ có trung nghĩa với những người có công dựng
nước và giữ nước và chỉ có nghĩa với đồng bào. Chính ông trùm mật
thám Pháp L Sogny cũng phải công nhận, ba đồn 4,5,6 là nơi hợp táng của:
các sĩ quan, binh lính, dân chúng đã chết trong biến cố 23 tháng 5 Ất dậu.
Thế thì, theo tiêu chí lịch sử dân tộc hiện nay: Chùa và Cồn mộ Ba Đồn là một Nghĩa Trang Liệt
Sĩ mở đầu thời chống xâm lược Pháp.
Cuộc kháng Pháp khởi đi từ năm 1885, kết thúc ở
Điện Biên Phủ năm 1954. Lúc người Pháp thua trận rút về, Việt Nam chia
hai. Mừng thắng lợi thắng Pháp chỉ tổ chức ở miền Bắc. Huế của Miền
Nam chưa được hưởng chiến công thắng Pháp thì lại bắt đầu cuộc kháng
chiến mới chống Mỹ. Năm 1975, thắng Mỹ, hai miền Nam Bắc vui chuyện thắng
Mỹ thống nhất đất nước chứ ít người nghĩ đến chuyện đau thương
trước đó 90 năm (1885-1975) ở Huế.
Hiện nay chánh phủ Pháp đang bàn đến chuyện chuẩn
bị kỷ niệm 50 năm chấm dứt chiến tranh Đông Dương (1954-2004), nên chăng
đề xuất với phía Pháp hãy tỏ một cử chỉ thiết thực đối với những
người đã chết vì cuộc xâm lược của Pháp hồi cuối thế kỷ XIX ?
Chuyện ấy còn phải bàn. Tuy nhiên dưới con mắt của người làm du lịch
hiện nay, chùa và khu Cồn mộ Ba Đồn là một di tích rất lạ với mười
cồn mộ hợp táng lớn nhất nước. (Không rõ trên thế giới có khu mộ hợp
táng nào lớn hơn thế không ?). Di tích chùa Ba Đồn lại nằm sau lưng núi
Bân (nơi Hòang đế Quang Trung lên ngôi năm 1788) và gần Đàn Nam Giao của
triều Nguyễn. Trùng tu tôn tạo chùa Ba Đồn tạo thành một cụm ba di
tích Núi Bân- Đàn Nam Giao- Chùa Ba Đồn để phục vụ khách du lịch có lẽ
sẽ rất hấp dẫn.
Gác Thọ Lộc, 20.3.2003
(1) Đàn
là cái đài làm bằng đất và gỗ để tế lễ hoặc làm hội hè (theo
Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh)
(2) Tức phu nhân của Đại thần Phan Đình
Bình
(3) Bia đá
đã mất nhưng am vẫn còn và đổi tên là Hàn Lâm Phước Trủng, sát phía
tây Đồn 10, cách phía đông đàn Nam Giao chừng 30m
Về
trang Nghiên cứu & đối thoại tháng 5-2003
Home | Top Page | Về trang mục lục