curley_sw_03.gif (1967 bytes)   Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .


Chùa Ba Đồn ở Huế
một di tích lịch sử chưa được quan tâm
  • Nguyễn Đắc Xuân

            Dọc theo đường Tam Thai về phía Đài Liệt sĩ và Nghĩa trang Thành phố, cách phía đông đàn Nam Giao chừng 170m, có ba bãi cỏ chỉ xanh rờn bằng phẳng giống như ba cái sân bóng. Ở giữa nổi lên một ngôi chùa nhỏ mang tên Ba Đồn và nhiều lăng mộ của bá tánh (trăm họ) chen vào giữa các bãi cỏ rộng. Hàng chục thập niên qua, không biết bao nhiêu người lui tới thăm Đài Liệt sĩ, thăm mồ mã, đi viếng cảnh phía sau núi Bân- nơi Nguyễn Huệ lên ngôi lấy niên hiệu Quang Trung (1788), nhưng ít người để ý tìm hiểu gốc tích chùa Ba Đồn, tìm hiểu lý do vì sao ba bãi cỏ chỉ xanh rờn ấy là vườn tượt nhà ai mà  không thấy có nhà cửa mồ mã hay bất cứ một lọai cây bụi gì mọc lên trên ấy cả (?) Cuối năm 2002 vừa qua, họa sĩ Bửu Chỉ (1948-2002) qua đời và táng ở cuối một bãi cỏ lớn ngay sau lưng chùa Ba Đồn, chuyện xưa nay ít người để ý bổng cợm lên, nhiều nhà văn, nhà báo, độc giả ở các nơi qua nhiều phương tiện liên lạc hỏi tôi về sự tích chùa Ba Đồn và hiện tượng lạ của những bãi cỏ xanh trước và sau chùa. Nhận thấy đây là một vấn đề có liên quan đến lịch sử rất hệ trọng nên tôi viết bài nầy.   

1. Lịch sử chùa Ba Đồn

              Năm 1803, để xây dựng Kinh thành Phú Xuân, vua Gia Long (1802-1819) cho giải tỏa 8 ngôi làng ở bờ bắc sông Hương. Nhà cửa và mồ mã phải dời đi nơi khác. Những mồ mã không có người chịu trách nhiệm thì nhà nước cho dời lên hợp táng tại vùng rừng mà ngày nay gọi là Xóm Hành thuộc thôn Tứ Tây xã Thủy An, thành phố Huế. Cồn mồ (ossuaires) 8 làng ra đời. Năm Quí hợi (1803), tại Cồn mồ 8 làng (sau nầy có tên là Đồn 1), vua Gia Long cho dựng bia đá (cao 1,51m, rộng 1,110m) với nội dung “Ân Tứ Hiệp Táng Vô Tự Chi Mộ  (Vua cho hợp táng những người không người thờ tự). Dòng lạc khỏan bên phải đề :“Vị dĩ bách cận thành trì thiên táng tại thử” (Vì lẽ bức cận thành trì nên dời chôn tại đây). Lạc khỏan bên trái ghi: “Tuế thứ Quý hợi niên tam nguyệt sơ thất nhật phụng khắc” (Kính vâng mệnh khắc ngày 7 tháng 3 năm Quý hợi, tức là ngày 27.4.1803).

Tiếp sau, khi xây dựng đàn Nam Giao và lăng Gia Long, các mồ vô chủ lại được dời đến tiếp tạo thành hai cồn mồ lớn nữa nằm về phía nam của cồn mồ 8 làng. Cồn mồ 8 làng (sau thường gọi là Đồn 1) có diện tích 50m x 150 m. Ở mỗi cồn mồ đều có dựng bia và có nội dung từa tựa như bia Cồn mồ 8 làng. Riêng bia Cồn mồ thứ hai có lạc khỏan bên trái cho biết có 3.700 người (con số hàng chục và hàng đơn vị bị đục bỏ từ trước năm 1915) an nghỉ ở đây, lạc khỏan bên trái bia Cồn mồ thứ ba cho biết có 2250 (con số chỉ đơn vị bị đục bỏ).

Đến năm 1835, vua Minh Mạng cho lập một bàn thờ ở giữa trời (gọi đàn) (1)  tại cồn mồ 8 làng đề hằng năm nhà nước tổ chức cúng tế những cô hồn của 8 làng. Về sau nhà vua lại cho dựng thêm hai đàn nữa để cúng tế những cô hồn của cồn mồ thứ hai và thứ ba. Dân chúng gọi ba cồn mồ có ba cái đàn hằng năm tế lễ đó là Cồn mồ Ba Đàn (Ba Đồn). Sau ngày thất thủ Kinh đô (23 tháng 5 Ất dậu) thực dân Pháp đánh chiếm Huế, dân chúng và binh lính trong Thành đạp nhau chạy theo vua ra các cửa Nhà Đồ, cửa Hữu làm chết hàng ngàn người. Lúc đầu người chết được dập hai bên lề đường và ngay trong các vườn nhà chung quanh. Về sau người Pháp “giăng giây thép họa địa đồ nước Nam” bắt dân chúng phải cất bốc hết các mồ mã chôn trong và ngòai Kinh thành. Những mồ vô chủ lại được đưa lên Ba Đồn “hợp táng” hình thành thêm một số Cồn mồ nữa. Theo L.Sogny (BAVH.1915) số cồn mồ mới đó là:

Cồn mồ thứ tư, nơi an nghỉ của quân lính hy sinh trong Kinh thành Huế ngày 23.5 Ất dậu (5.7.1885), số lượng không rõ;
Cồn mồ thứ năm, nơi an nghỉ của sĩ quan hy sinh trong Kinh thành Huế ngày 23.5 Ất dậu (5.7.1885), số lượng không rõ;
Cồn mồ thứ sáu, nơi an nghĩ của thường dân chết trong Kinh thành Huế ngày 23.5 Ất dậu (5.7.1885), số lượng không rõ;
(và 4 Cồn mồ  dành cho các đợt di dời khác).
Các Cồn mồ mới cũng đều có bia đá, nhưng nay không còn tấm nào.

Các đàn do nhà nước lập nên chỉ tế lễ mỗi năm một lần. Từ thời Gia Long, một cái miếu nhỏ được dựng lên ngay phía nam Đồn 1 để hương khói quanh năm. Cuối thế kỷ XIX, cái miếu đổ nát, bà Nguyễn Thị Lựu-bà ngọai của vua Thành Thái (2), bỏ tiền trùng tu. Để biết rõ hơn về lòng người đối với những cồn mồ nầy, theo L.Sogny, trên một bia đá dựng ở Tứ Tây An Cựu  (3)  có đọan viết:

Ông Trần Hữu Tạo nguyên giữ chức Tư vụ bộ Hình quê ở làng Tuy Phước tỉnh Quảng Bình, và vợ là Lê Thị Điếu  quê ở làng Thanh Phước, Tổng Vĩnh Trị, huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên, xây dựng ngôi chùa nhỏ nầy để thờ cúng các vong linh đang an nghị ở Ba Đồn. [....] Ở Cồn Mồ Ba Đồn có nhiều nghĩa địa, có nhiều mộ không biết nguồn gốc. Trong số người qua cố có những  người hy sinh cho danh dự, có người chết vì trung nghĩa. Người ta không biết lai lịch, ngày mất. Làm sao phân biệt người trẻ, kẻ già, người có uy quyền hay kẻ hèn mọn. Khi mà chúng tôi nhìn thấy vong linh của cô hồn lượn trên các nghĩa địa ấy như những con đom đóm, chúng tôi thấy vô cùng đau xót, khi nghĩ đến các linh hồn ấy không nơi nương tựa. Khi chúng tôi nghe tiếng ríu rít chim sẻ hay tiếng quạ kêu trên các ngôi mộ ấy chúng tôi rất cảm kích vì hòan cảnh khổ sở của người quá cố. Cho nên chúng tôi đã xây dựng với của riêng của chúng tôi một am nhỏ (Pagodon) đặt tên Phổ Thế Am (Am cho mọi người) để chúng tôi thờ các kẻ quá cố...”.(Bia khắc ngày 12.8.1897 tức 5.10.1897).

Sau khi Miếu Ba Đồn được nhiều người bỏ tiền trùng tu, các đợt cúng tế cầu xin thần linh bảo hộ cho Ba Đồn và cầu các cô hồn phù hộ cho bá tánh đều được tổ chức tại miếu Ba Đồn. Đến nửa đầu Thế kỷ XX, để cầu cho mua may bán đắc, các phổ thợ vàng (Kim Hòan), phổ Thợ may, phổ Chén bát, phổ Nón lá, Phổ Phú Nhơn (trong Kinh Thành)..tự nguyện làm ‘tín đồ” của miếu và xem miếu Ba Đồn là miếu thờ của các Phổ. (Phổ là sổ ghi chép. Ở đây là sổ ghi chép những người cùng ở trong một địa phương, cùng làm một nghề hay cùng buôn bán một mặt hàng). Miếu Ba Đồn trở thành miếu của công chúng.

2. Thờ cúng tại  miếu Ba Đồn

              Việc tế lễ cúng bái tại Ba Đồn được các vua từ Minh Mạng đến Duy Tân rất chú trọng. Ví dụ như thời Thành Thái rất thiếu thốn thế mà lễ vật hằng năm dùng cho việc tế ở Ba Đồn gồm có ba con lợn, 15 đấu nếp, 45 chén gạo, 15 chén muối, và các thứ khác như hương đèn, rượu, cau trầu, đồ vàng bạc bằng giấy. Từ đời Thành Thái - Duy Tân mỗi năm chỉ tế lễ vào ngày Thất thủ Kinh đô 23.5 âm lịch. Đối với dân chúng, hằng năm các phổ tổ chức cúng tế vào ngày 16 tháng Giêng (Minh niên) và ngày 16 tháng Chạp (Tất niên). Từ sau ngày thành lập thêm các Đồn 4,5,6, ngòai việc thờ Thánh, miếu Ba Đồn thờ thêm các cô hồn đã mất trong Biến cố 23 tháng 5 Ất dậu, các phổ lại tổ chức lễ cúng âm hồn nữa. Lễ cúng âm hồn kéo dài cả tuần lễ, bắt đầu từ ngày 23 tháng 5 cho đến cuối tháng 5. Các Phổ tự chọn ngày tế riêng hoặc hợp tế tùy theo năm. So với các miếu tại Huế và trên tòan quốc, không nơi nào thờ cúng một số lượng cô hồn đông đảo như miếu Ba Đồn. Do đó dân chúng nghĩ miếu Ba Đồn rất linh thiêng. Miếu Ba Đồn trở thành nơi bói xăm của bá tánh. Người đóan xăm là người có ăn học, phần lớn là các nhà sư bán thế. Do yêu cầu của thực tế, hằng ngày tại miếu có một nhà sư đóan xăm. Rồi, vì sự có mặt của các nhà sư, miếu Ba Đồn rước thêm Phật về thờ. Miếu Ba Đồn có Phật, có sư dần dần trở thành chùa Ba Đồn. Vì thế cho nên dù chùa Ba Đồn ra đời khá lâu, nhưng chùa chưa bao giờ được Giáo hội Phật giáo công nhận. Chưa được công nhận là chùa Phật nên chùa Ba Đồn không có trụ trì. Vị sư bán thế đóan xăm nổi tiếng của chùa Ba Đồn là ông Mật Giải - em ruột Hòa thượng Bích Phong (1900-1968), trụ trì chùa Quy Thiện (ở gần chùa Ba Đồn). Ông Mật Giải qua đời năm năm 1986 sau 45 năm gắn bó với chùa Ba Đồn. Đồng thời với ông Mật Giải có ông Triệu Bân (?) chủ tiệm vàng Vĩnh Hòa ở Huế, có nhiều công đức trong việc xây dựng chùa Ba Đồn như còn thấy ngày nay.

3. Những bí ẩn ở chùa Ba Đồn

              Chùa Ba Đồn - nơi nương tựa của hàng vạn cô hồn. Vì thế chung quanh chùa Ba Đồn có nhiều điều bí ẩn rất khó giải thích. Một người xuất thân trong gia đình ba đời giữ chùa Ba Đồn kể rằng: Trước đây có một cặp rắn già sống quanh quẩn tấm bia Ân Tứ sau chùa. Về sau tín đồ khấn vái mãi cặp rắn mới biến đi. Thân sinh ông kể với con cháu rằng: Nhiều đêm ông thấy trước bàn thờ Phật, thờ Thánh trong chùa sáng rực lên như có quan quân hiện về lễ bái. Ông phải quỳ xuống lạy khấn vái hiện tượng ấy mới dứt. Ông Phan Bốn- hậu duệ của một dòng họ khai sinh ra Xóm Hành từ thời Gia Long, rất am hiểu về tình hình ở chùa Ba Đồn kể rằng:“Sau ngày giải phóng vài năm, ông Châu Sơn làm trưởng ban thủy lợi, tập trung dân về chùa Ba Đồn để đi đào công trình thủy lợi Nam sông Hương. Một số thanh niên cắm trại ngủ trên bãi cỏ Đồn 1, nửa  đêm họ thấy có người đến đuổi. Các thanh niên nầy không đi, hôm sau đi đào thủy lợi, người thì gảy tay, người gảy chân, người bị sốt phải nghỉ việc. Đêm sau ngủ họ lại thấy có người đến đuổi. Các bạn thanh niên sợ quá bèn chạy vào chùa xin bà mẹ của ông Đinh (người giữ chùa, đời thứ hai) cho vào chùa ngủ không thôi “ngủ trên Đồn người ta đến đuổi dữ quá”. Các thanh niên vào chùa ngủ thì không có việc gì. Sáng mai không thanh niên nào còn dám ở chùa Ba Đồn nữa, họ nhổ trại đi tìm nơi khác cắm. Những thanh niên cứng đầu trong xóm, người lớn dạy không nghe, cứ lên Đồn đá banh đều bị gảy chân, gảy tay phải đi bệnh viện. Vì thế mà nhiều đời nay không một người địa phương nào dám đùa trên các Đồn. Trước năm 1975, có một chiếc trực thăng thấy Cồn mồ rộng rải đáp xuống, sau đó bay lên không được phải nhờ xe cần cẩu đến cẩu về Phú Bài. Chuyện ông Phan Bốn kể nhiều người ở địa phương đều biết và có cùng một lời giải thích là các vong linh ở Ba Đồn trừng phạt những người dám khuấy động nơi an nghỉ của họ.

Vùng chùa Ba Đồn là một vùng đồi, tại sao các cồn mồ (tức các Đồn) lại bằng phẳng như vậy? Tôi tham khảo tài liệu của L.Sogny và tài liệu điền dã thì được biết: Sau khi thành lập các cồn mồ, triều Nguyễn giao cho làng Bình An - làng thành lập bởi dân chúng 8 làng di dời từ bắc sông Hương lên, cúng lễ hằng năm và chăm sóc mồ mã. Dân làng Bình An được giao nhiệm vụ nầy vì hai lẽ: Một: Người nằm dưới Ba Đồn là dân tám làng tổ tiên của dân làng Bình An, Hai: Đất lập Ba Đồn là đất của làng Bình An mới được thành lập sau năm 1803. Để tránh xương cốt người chết bị lòi ra (do trâu bò dẫm đạp lên làm trụt đất hoặc do cuốc đất dẫy cỏ chạp mộ hằng năm), làng Bình An sức dân gánh đất đắp lên các cồn mồ tạo thành một cái đàn rộng rãi như còn đến ngày nay.

 Về hiện tượng vì sao các Đồn chỉ có độc nhất một lòai cỏ chỉ có thể mọc trên ấy, có nhiều cách giải thích. Một nhà sư bán thế làm Phật sự ở vùng nầy lâu năm giải thích rằng: Các vong linh họ ở dưới đất, chỉ cho lọai cỏ chỉ mọc lên để giữ đất chứ không cho bất cứ một lọai cây gì mọc lên cả. Đồng thời người ta cũng giải thích rằng: hàng ngàn xác chết nằm dưới đó, xác chết phân hủy sinh ra khí phốt-pho, khí nầy rất nóng không một lọai cây gì có thể mọc lên được. Hồi đầu thế kỷ, một người giữ các cồn mồ lại giải thích với L.Sogny rằng:“..le sel avait été autrefois répandu en de si grandes quantités qu’aucune végétation n’y pousse plus, même l’herbe ordinaire” (ngày xưa người ta vải muối lên Cồn mồ nhiều đến nổi chẳng còn một cây nào sống được, ngay cả cỏ cũng vậy).   

4. Hiện vật văn hóa chùa Ba Đồn

              Chùa Ba Đồn hậu thân của miếu Ba Đồn, ra đời đã ngót 200 năm. Nhưng trải qua nhiều cuộc chiến tranh và không có người trách nhiệm chủ chốt nên hầu hết các hiện vật cổ của chùa không còn gì. Căn cứ trên tài liệu của L.Sogny ( BAVH, 1915), chùa Ba Đồn từng có một Đại hồng chung và một trống lớn. Đặc biệt trên lưng hồng chung ngòai việc khắc tên người cúng và số tiền cúng, có một đọan ghi bằng tiếng Pháp: “Offerte à la pagode de Ba Đồn par un groupe de marchands de porcelaine antique pour être affectée au culte des “Esprits”(Một nhóm thương nhân đồ sành sứ cổ cúng các vong linh thờ tại chùa Ba Đồn). Ở gian giữa có treo một bức hòanh sơn son thếp vàng khắc bốn chữ: “  Vạn tải linh hồn”, do một thương nhân Trung Quốc tên là Hòang Châu Nguyên cúng vào năm Thành Thái thứ 17 (1905). Hiện nay tất cả những “cổ vật” trên không biết lưu lạc phương nào.

5. Những bí ẩn chờ khám phá

              Sử nhà Nguyễn cho biết, khi ra lịnh cho dân 8 làng dời nhà cửa mồ mã để lấy đất xây dựng Kinh thành, vua Gia Long đã có chính sách đền bù cho dân rất thỏa đáng. Mồ mã của dân 8 làng đều có họ hàng, bà con đứng ra lảnh tiền cải táng đầy đủ. Vậy thì những mồ mã không có người thừa nhận còn lại đó từ nguồn nào mà nhiều đến nổi hợp táng thành một cô mộ rộng đến 50m, dài đến 150m tại Đồn 1 như thế ?  

Đọc lịch sử Thuận Hóa Phú Xuân có lẽ không ai có thể quên trên mảnh đất 8 làng xây dựng Kinh thành Huế hiện nay, vào tháng 5 Bính Ngọ (1786), đã diễn ra sự kiện người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ làm tiết chế quân thủy bộ từ Qui Nhơn ra giải phóng Phú Xuân trong tay quân Trịnh do Hòang Đình Thể và Phạm Ngô Cầu chỉ huy. Hàng ngàn quân Trịnh bị quân Tây Sơn giết đã vùi xác trong làng Phú Xuân và các làng kế cận. Tiếp đến, Phong trào Tây Sơn làm chủ Phú Xuân hơn 14 năm (1786-1801), quan quân nhà Tây Sơn chết trong thời gian 14 năm đó chắc chắn có nhiều người táng trong khuôn viên 8 làng ấy. Phải chăng tại Đồn 1 của Ba Đồn (táng hài cốt dời từ 8 làng) có nhiều hài cốt của người Bắc Hà và quan quân nhà Tây Sơn ?

Và, theo nghiên cứu của chúng tôi, khu vực chùa Thiền Lâm, khu vực đàn Nam Giao ngày nay ở gần cung điện Đan Dương (về sau là lăng Đan Dương) của vua Quang Trung cũng là nơi đóng quân của quan quân nhà Tây Sơn. Trong thời gian hơn 14 năm trú đóng tại đây, những người không may qua đời chắc chắn đã gởi nắm xương tàn ở khu vực nầy. Phải chăng những cô mộ không người thừa nhận được cải táng (tại đồn 2 và đồn 3) để làm đàn Nam Giao cũng có nhiều ngôi của quan quân nhà Tây Sơn ?

- Năm 1915, ông Sogny viết bài “Cồn mồ vùng lân cận Nam Giao” (Les Ossuaires des Environs du Nam Giao) cho biết người ta đã cố ý dùng búa và đá ghè xóa phần lớn các lạc khỏan trên các tấm bia đá dựng ở các đồn. Có lạc khỏan ghi tổng số mộ được táng tại đồn chỉ bị ghè xóa chữ số hàng chục và hàng đơn vị (Bia đồn số 2) hoặc bị ghè xóa con số hàng đơn vị (bia đồn số 3); cũng có bia bị xóa lạc khỏan ghi ngày tháng dựng bia (Bia đồn số 2) hoặc xóa luôn cả lạc khỏan bên trái. Không rõ người ta cố tình làm việc bôi xóa những lạc khỏan đó để làm gì (?) Và, không rõ từ năm nào, người ta đã đánh cắp 10 tấm bia đá dựng từ Đồn 2 đến Đồn 10 và Am Phổ Thế Am như đã trích ở trên. Mười tấm bia đá đó đã bị phá hủy hay đang được cất giữ nơi đâu, người viết bài nầy rất mong được mách bảo để nghiên cừu.

5. Chùa Ba Đồn và Cồn mồ Ba Đồn - một di tích lịch sử

              Dọc theo chiều thẳng đứng hai “trụ biểu” ở cửa ngỏ chùa Ba Đồn hiện nay có đôi câu đối:

Phiên âm:

"Chinh chiến kỷ năng hồi, linh tích thiên thu bằng thử địa
Thân sơ vô dị trí, tâm hương nhất triện vấn thùy nhân

NTĐ dịch:

(Chính chiến mấy người về, dấu linh ngàn thu nương đất nầy
   Thân sơ không đến lạ, tâm hương một nén, hỏi ai người ? )

Không rõ đôi câu đối nầy làm từ thời nào, nhưng ý nghĩa của nó gắn với di tích chùa và vùng Cồn mồ Ba Đồn. Câu đối gợi nhớ đến câu thơ màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan “Thời chiến chinh mấy người đi trở lại” Họ không trở lại nhà, họ bỏ xác ở chiến trường và được lưu giữ ở đây đến ngàn sau. Không nghĩ đến chuyện thân sơ, ai là người đã có một nén hương lòng ở chốn nầy ? Ai đó chính là những người đã xây dựng nên ngôi chùa Ba Đồn nầy và kể cả những người đã đến viếng chùa nầy.

Các Đồn 1,2,3 là nơi hợp táng hài cốt của dân tám làng đã nhường đất cho triều Nguyễn xây dựng Kinh thành. Ngày nay Kinh thành được công nhận là di sản thế giới, việc tìm hiểu và tôn tạo các di tích nầy để tưởng nhớ và cám ơn những “chủ đất” cũ là một việc làm của kẻ uống nước nhớ nguồn.

Năm 1897, thời Pháp thuộc khắc nghiệt nhất mà một nhà Nho nào đó trong lúc giúp ông bà Nguyễn Hữu Tạo - Lê Thị Điếu viết hộ văn bia ở Am Thế Phổ nêu trên đã tế nhị nhắc đến công lao của những người đã hy sinh trong biến cố đánh Tây năm 1885 : “Trong số người quá cố có những  người hy sinh cho danh dự, có người chết vì trung nghĩa”. Hy sinh vì danh dự gì ? Đó là danh dự của đất nước. Trung nghĩa với ai ? Chỉ có trung nghĩa với những người có công dựng nước và giữ nước và chỉ có nghĩa với đồng bào. Chính ông trùm mật thám Pháp L Sogny cũng phải công nhận, ba đồn 4,5,6 là nơi hợp táng của: các sĩ quan, binh lính, dân chúng đã chết trong biến cố 23 tháng 5 Ất dậu. Thế thì, theo tiêu chí lịch sử dân tộc hiện nay: Chùa và  Cồn mộ Ba Đồn là một Nghĩa Trang Liệt Sĩ mở đầu thời chống xâm lược Pháp.

Cuộc kháng Pháp khởi đi từ năm 1885, kết thúc ở Điện Biên Phủ năm 1954. Lúc người Pháp thua trận rút về, Việt Nam chia hai. Mừng thắng lợi thắng Pháp chỉ tổ chức ở miền Bắc. Huế của Miền Nam chưa được hưởng chiến công thắng Pháp thì lại bắt đầu cuộc kháng chiến mới chống Mỹ. Năm 1975, thắng Mỹ, hai miền Nam Bắc vui chuyện thắng Mỹ thống nhất đất nước chứ ít người nghĩ đến chuyện đau thương trước đó 90 năm (1885-1975) ở Huế.

Hiện nay chánh phủ Pháp đang bàn đến chuyện chuẩn bị kỷ niệm 50 năm chấm dứt chiến tranh Đông Dương (1954-2004), nên chăng đề xuất với phía Pháp hãy tỏ một cử chỉ thiết thực đối với những người đã chết vì cuộc xâm lược của Pháp hồi cuối thế kỷ XIX ? Chuyện ấy còn phải bàn. Tuy nhiên dưới con mắt của người làm du lịch hiện nay, chùa và khu Cồn mộ Ba Đồn là một di tích rất lạ với mười cồn mộ hợp táng lớn nhất nước. (Không rõ trên thế giới có khu mộ hợp táng nào lớn hơn thế không ?). Di tích chùa Ba Đồn lại nằm sau lưng núi Bân (nơi Hòang đế Quang Trung lên ngôi năm 1788) và gần Đàn Nam Giao của triều Nguyễn. Trùng tu tôn tạo chùa Ba Đồn tạo thành một cụm ba di tích Núi Bân- Đàn Nam Giao- Chùa Ba Đồn để phục vụ khách du lịch có lẽ sẽ rất hấp dẫn.

                                                Gác Thọ Lộc, 20.3.2003

(1) Đàn là cái đài làm bằng đất và gỗ để tế lễ hoặc làm hội hè (theo Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh)

(2)  Tức phu nhân của Đại thần Phan Đình Bình

(3) Bia đá đã mất nhưng am vẫn còn và đổi tên là Hàn Lâm Phước Trủng, sát phía tây Đồn 10, cách phía đông đàn Nam Giao chừng 30m

 

arrow.gif (848 bytes) Về trang Nghiên cứu & đối thoại tháng 5-2003

 

Home  |  Top Page | Về trang mục lục

© Thư từ và bài viết cho mục này, xin gởi attachment về email: giaodiem@giaodiem.net

. ..........