curley_sw_03.gif (1967 bytes)   Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .


Theo đoàn Sinh viên Huế
tham quan con đường “gặt bão”
của anh em ông Ngô Đình Diệm ở Sài Gòn tháng 11/63
Để tưởng nhớ Nguyễn Thiết,
Trần Quang Long và Vĩnh Kha.
  • Hồi ký - Nguyễn Đắc Xuân

            “Cuộc cách mạng 1.11.1963” thành công,  một tuần sau, tướng Dương Văn Minh đưa tàu bay ra miền Trung mời đại diện sinh viên tranh đấu Huế vào Sài Gòn nghe chuyện quân đội tổ chức lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Nhận được lời mời quá gấp nên chúng tôi không thể  họp khoáng đại để đề cử đại diện được mà chỉ kịp chọn một số anh chị em đã tham gia tranh đấu chống Diệm từ đầu, đã bị “kế hoạch nước lũ” của Ngô Đình Nhu bắt giam từ sáng 21.8.1963, và một số bạn bè đã tham gia tranh đấu khác. Đoàn gồm có các thành viên Trần Quang Long - Nguyễn Đắc Xuân (ban Việt Hán, Đại học Sư phạm), Nguyễn Thiết - Nguyễn Đình Hiển (Luật khoa), Hoàng Phủ Ngọc Tường - Thái Thị Kim Lan - Thái Thị Ngọc Dư - Nguyễn Thị Kim Xuyến (Văn khoa); Phạm Thị Xuân Quế - Lê Quang Tái - Lê Thị Thảo - Nguyễn Thị Kim Tri (Khoa học và Y khoa), Lý Văn Nghiên (Viện Hán hoc) và nhiều người nữa mà đến nay tôi không còn nhớ tên.

        Máy bay đưa chúng tôi đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất vào sáng ngày 11.11.1963 và về nhà nghỉ tại một doanh trại quân đội trên đường Lê Thánh Tôn. Ngay trưa hôm ấy chúng tôi được mời vào Bộ Tổng Tham Mưu gặp các tướng lãnh trong “Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng” và nghe họ kể lại từ đầu đến cuối cuộc hành quân đảo chánh lật đổ chế độ “Ngô triều”. Chiều hôm đó chúng tôi được đưa đi tham quan “Thành Cộng hoà” (nơi trú đóng của lực lượng bảo vệ trung thành nhất của chế độ Diệm), thăm đơn vị Thủy Quân Lục Chiến - đơn vị đã trực tiếp tấn công vào Dinh Gia Long. Sáng hôm sau, 12.11. 1963, chúng tôi đi tham quan Dinh Gia Long và tham quan con đường “gặt bão” của hai anh em ông Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu. Chương trình tham quan ngày 12.11.1963 rất ấn tượng, đã để lại trong tôi nhiều chuyện không thể nào quên.

        Dinh Gia Long rộng khoảng 2ha, ở trung tâm thành phố Sài Gòn, nằm giữa 4 con đường: Gia Long (trước), Lê Thánh Tôn (sau), Pasteur (bên phải) và Công Lý (bên trái), do Kiến trúc sư Pháp Alfres Foulhoux thiết kế, xây dựng từ năm 1885 đến năm 1890. Kiến trúc đồ sộ và rất đẹp nầy lúc đầu dùng làm Bảo tàng Thương Mại, nhưng sau chuyển thành Dinh Gia Long dành làm nhà ở cho Thống Đốc Nam Kỳ. Bởi thế sau nầy, khi dinh Độc Lập bị hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử  dội bom hư hại nặng (27.2.1962), Ngô Đình Diệm và bầu đoàn thê tử của Ngô Đình Nhu dọn sang Dinh Gia Long ở. Dinh Gia Long trở thành Dinh Tổng thống và dinh thất của gia đình họ Ngô tại Sài Gòn. Không rõ năm 1962, anh em nhà họ Ngô có biết rằng trước đó 17 năm, trong cuộc đảo chính 9.3.1945,  quân đội Phù tang đã vào dinh nầy bắt sống Thống đốc Nam kỳ Hoefel đem bỏ tù không, chứ theo cụ Vương Hồng Sển thì dân Sài Gòn biết rất rõ và cho rằng anh em nhà họ Ngô đem nhau vô Dinh Gia Long ở đã là một dấu hiệu không lành.  

        Chúng tôi vào tham quan Dinh Gia Long đúng mười hôm sau ngày hai ông Diệm Nhu chạy trốn khỏi nơi đây, Dinh vẫn còn do lực lượng Thủy quân lục chiến canh giữ. Bên trong Dinh bàn ghế, giấy má, bản đồ, chai lọ, đồ làm tóc, áo quần vẫn còn ngỗn ngang trên sàn nhà. Các sĩ quan Cộng hoà hướng dẫn chúng tôi cho biết cả tuần qua nhiều đoàn đã vào thăm và họ đã lấy đi không biết bao nhiêu của cải. Suốt tuần qua báo chí Sài Gòn đăng nhiều phóng sự điều tra về những bí mật trong Dinh Gia Long, đặc biệt là những hình ảnh sex mà họ gán cho là của bà Trần Thị Lệ Xuân- vợ cố vấn Ngô Đình Nhu - người tự mệnh danh là đệ nhất phu nhân của Việt Nam Cộng Hoà. Do đó khi được vào tham quan, chúng tôi đến ngay phòng ngủ của bà Lệ Xuân phía gần đường Pasteur. Cái phòng nầy bị dân chúng phá tanh banh. Các sĩ quan chỉ cho chúng tôi hệ thống kính soi được lắp kín bốn mặt tường và họ giải thích rằng: Bà Lệ Xuân lắp hệ thống kính như thế để mọi hoạt động thân thể riêng tư của bà trong phòng nầy bà có thể ngắm được từ nhiều phía. Và người ta cũng hướng dẫn cho chúng tôi rằng phòng riêng của Tổng thống Diệm gần phòng riêng của cô em dâu. Ông Ngô Đình Nhu muốn vào phòng riêng của vợ phải đi qua phòng của anh trai ông. Không rõ thực hư như thế nào, cho đến bây giờ tôi vẫn chưa hiểu có đúng như thế không và tại sao lại như vậy.

        Sau ngày 2.11.1963, báo chí Sài Gòn cũng đưa nhiều tin tức về con đường hầm bí mật nối liên Dinh Gia Long với một cơ sở của Diệm trên đường Lê Thánh Tôn, và vào chiều tối ngày 1.11.1963, anh em ông Diệm đã thoát ra ngoài bằng đường hầm ấy. Nhưng sự thực không đúng như thế, chuyện đơn giản hơn nhiều. Chúng tôi được một viên sĩ quan Thủy quân lục chiến đem xuống xem một đoạn đường hầm dài chừng 15 m, miệng hầm ở ngay trong Dinh Gia Long và hướng ra phía đường Pasteur. Họ cho biết vào khoảng 8 giờ tối ngày 1.11.1963, anh em Diệm Nhu rời Dinh Gia Long từ căn hầm nầy bằng một chiếc Citroen do ông Cao Xuân Vỹ đưa tới. Hai ông mặc quần áo ngủ, còn  đồ lớn xếp mang theo. Ông Diệm xách một cái cặp tài sản quý của riêng ông.

Tham quan chỗ xuất phát rồi, chúng tôi lên xe đi lại lộ trình anh em ông Diệm đã đi qua lần cuối cùng. Trước khi rời Dinh Gia Long, chúng tôi chụp một kiểu ảnh để ghi lại cảnh trí Dinh Gia Long vừa bị tấn công tơi tả cách đó hơn một tuần với những người sĩ quan đã chỉ huy thủy quân lục chiến đánh vào sào huyệt của anh em Diệm Nhu và những sĩ quan hướng dẫn chúng tôi đi tham quan. [Kiểu ảnh kỷ niệm ấy may mắn được một người đi trong đoàn giữ kỹ, sau ngày thống nhất đất nước (1975), gia đình người bạn tặng lại cho tôi xem như một món quà mừng tôi chín năm đi kháng chiến được bình yên trở về.]

        Chụp ảnh xong, một số thành viên trong đoàn, đa số là các cô nữ sinh, tranh thủ đi thăm bà con bạn bè ở Sài Gòn hoặc đi phố mua hàng chứ không đi tham quan tiếp. Riêng những anh chị em sinh viên đã quá đau khổ vì chế độ Diệm thì hăng hái đi xem cho đến cùng.

        Xe đưa chúng tôi đi theo đường Pasteur đến đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai) thì rẽ trái. Theo kế hoạch ban đầu hai ông Diệm Nhu định đến ngã tư Hồng Thập Tự -Lê Văn Duyệt (Cách mạng Tháng tám ngày nay) sẽ rẽ phải để về nhà thờ Ba Chuông ở đường Trương Minh Ký - cuối đường Trương Minh Giảng (nay là đường Lê Văn Sĩ). Nhưng rồi ông Diệm đổi ý kiến, cho xe rẽ trái chạy lên đường Đồng Khánh (Trần Hưng Đạo B ngày nay) về hướng nhà thờ Cha Tam ở miệt Chợ Lớn. Trên đường đi ông Nhu sực nhớ đến Mã Tuyên - Bang trưởng Triều Châu, một người làm ăn kinh tế với gia đình ông Nhu và đang là Thủ lãnh Thanh niên Cộng hoà người Việt gốc Hoa tại khu vực Chợ Lớn. Ông Nhu cho rằng chín mười giờ đêm mà đến nhà thờ Cha Tam không tiện nên đề nghị tạm dừng chân tại nhà Mã Tuyên. Ông Diệm đồng ý. Gia đình Mã Tuyên đón tiếp anh em ông Diệm rất ân cần theo nghi lễ truyền thống của người Trung Hoa. Anh em ông Diệm ở đó cho đến gần 4 giờ sáng 2.11.1963 mới thay đồ lớn, thắc cà-vạt, đi giày da nâu cho có uy thế trước khi đến nhà thờ Cha Tam. Xe chúng tôi dừng lại trước nhà Hoa kiều Mã Tuyên nhưng không được vào. Vì lúc đó Mã Tuyên đã bị bắt và tài sản của Mã Tuyên đã bị tịch thu hết. Xe đưa chúng tôi vào nhà thờ Cha Tam ở đường Học Lạc.

        Nhà thờ Cha Tam do người Hoa xây dựng từ đầu thế kỷ XX. Nhà thờ nhỏ nhưng kiến trúc đẹp ở trong một khu dân cư yên tĩnh và có vẻ nghèo so với các khu vực khác của Hoa kiều Chợ Lớn. Nhà thờ có tên Francisco Xavier, nhưng Cha Tam (tên thật là Đàm A- Tô-Tam Assou) người Hồng Kông đến làm cha xứ ở Chợ Lớn từ cuối thế kỷ trước. Ông chết và xây mộ trong khuôn viên nhà thờ nên giáo dân thường gọi nhà thờ Francisco Xavier là nhà thờ Cha Tam.    

        Vì sao ông Diệm lại đến Nhà thờ Cha Tam ?

        Các nhà nghiên cứu sau nầy giải thích rằng sau năm 1948, ông Diệm còn lận đận, ở với anh ông là Giám mục Ngô Đình Thục ở Vĩnh Long, mỗi lần lên Sài Gòn ông hay đến ẩn mình ở nhà thờ Cha Tam cho nên đến giờ phút lâm nguy tối ngày 1.11.1963, ông lại nhớ đến nhà thờ Cha Tam. Lúc nầy Cha Tam đã chết, linh mục tiếp hai ông là một người Pháp tên là Jean. Linh mục Jean nói tiếng Việt rất giỏi. Khi đoàn đại diện Sinh viên Huế chúng tôi đến tham quan, cha Jean kể đại ý: Hai anh em ông Diệm và ông Nhu đến lúc trời còn tối. Lại vào sáng thứ bảy nên bổn đạo chưa ai đến. Chỉ mới có mấy cây nến trên bàn thờ đỏ lửa, còn cả khu vực nhà thờ vẫn tối om. Nghe có người lạ đến xem lễ một cách bất thường, cha Jean vội vã ra xem thì thấy hai anh em ông Diệm lặng lẽ quỳ ở dãy ghế cuối cùng phía bên trái hướng mặt về phía   bàn thờ chúa cầu nguyện. Đứng sau là sĩ quan cận vệ (sau nầy tôi biết tên là Đại úy Đỗ Thọ) với nét mặt đăm chiêu. Chưa bao giờ gặp anh em Diệm Nhu nhưng khi thấy hai ông, cha Jean biết ngay là “Tổng thống với ông Cố vấn chính trị” nên rất vui mừng. Cha Jean mời hai ông vô nhà khách nghỉ và nếu cần thì cho hai ông tị nạn, vì nhà thờ là nước Chúa không ai dám xâm phạm. Hai ông do dự một chút rồi cũng vô nhà khách nghỉ. Sau đó cha Jean trở lại nhà thờ làm khoá lễ đầu. Không hiểu sao hai ông lại theo chân cha Jean ra nhà thờ dự lễ lần thứ hai và hai ông đã “rước mình thánh chúa” (ăn bánh thánh). Bấy giờ đã hơn 6 giờ sáng 2.11.1963, trong nhà thờ đã có bổn đạo đến xem lễ. Dự lễ lần thứ hai xong, hai ông trở lại nhà khách nghỉ. Không rõ do ai loan báo, trẻ con trong khu vực nhà thờ kéo nhau đến chỉ vào cái nút ruồi trên má ông Diệm mà hô hoán lên rằng: “Tổng thống bây ơi ! Tổng thống bây ơi !”. Khi đoàn sinh viên chúng tôi đến tham quan, dân chúng tò mò đến và bảo: Ngay sau khi phát hiện ra “Tổng thống có cái nút ruồi trên mặt” có người đã đi báo cho “Hội đồng Quân nhân Cách mạng biết”. Không rõ có phải vì biết mình đã bị lộ nên khi trở lại nhà nghỉ của nhà thờ Cha Tam, anh em ông Diệm đã dùng điện thoại của nhà thờ thương thuyết với những người làm đảo chánh và yêu cầu họ đưa xe đến đón hai ông về Tổng tham mưu (bản doanh lãnh đạo cuộc đảo chánh) bàn chuyện hai ông chuyển giao quyền hành. Nhận được điện của ông Diệm, tướng Dương Văn Minh cử một đoàn quân xa đi đón, gồm một xe Jeep chở Đại tá Dương Ngọc Lắm dẫn đầu, một chiếc Jepp thứ hai chở Thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa và Đại úy Nguyễn Hoà Hiệp, sau cùng là một thiết giáp M.113 chở Đại úy Nguyễn Văn Nhung (cận vệ của tướng Dương Văn Minh). Đoàn quân xa ra khỏi Tổng tham mưu, tướng Mai Hữu Xuân đi riêng một xe Jepp nữa đuổi theo sau. Tướng Xuân đi rồi,  tướng Trần Văn Đôn chuẩn bị hai phòng riêng tại Tổng tham mưu để đón “Tổng thống với ông Cố vấn”.

        Đoàn xe đến nhà thờ Cha Tam, ông Nhu không chịu lên xe thiết giáp với lời trách móc nặng nề :“Đi đón Tổng thống bằng xe M.113 à ?”. Đã xảy ra một cuộc đấu khẩu rất gay gắt giữa anh em ông Diệm và Đại úy Nhung. Cuối cùng, hai ông bị đẩy lên xe thiết giáp, nắp xe M.113 từ từ kéo lên. Chệ độ Ngô Đình Diệm dụp đổ từ đây.

        Đoàn tham quan của chúng tôi rời nhà thờ Cha Tam lên xe đi lại con đường mà chiếc M.113 chở hai anh em ông Diệm đã đi qua trước đó đúng 10 hôm. Xe đến Ngã sáu Cộng hoà nhập vào đường Hồng Thập Tự. Xe chạy quá phía hông Bệnh viện Từ Dũ đến gặp một cái chấn đường sắt cắt ngang đường Hồng Thập Tự, xe dừng lại. Các sĩ quan Cộng hoà chỉ cái chấn đường sắt và bảo chúng tôi: “Anh em ông Diệm đã bị Đại úy Nhung bắn chết bằng súng lục ngang khúc đường nầy đây”. Không hiểu sao, cả đoàn chúng tôi lặng người. Mỗi người trầm ngâm theo ý nghĩ riêng của mình.

        Về cái chết của anh em ông Diệm là chuyện thời sự của báo giới và sinh viên tranh đấu ở miền Nam suốt những tháng cuối năm 1963 đến cả năm 1964. Nhiều nguồn tin nói cái chết của hai anh em Diệm Nhu đã được 9/10 người trong “Hội đồng Quân nhân Cách mạng” quyết định trong đêm 1.11.1963 rồi. Đa số những tướng đã bảo nhau “nhổ cỏ phải nhổ cho tận rễ” để trừ hậu hoạ.  Người có quyền thi hành quyết định “nhổ tận rễ” đó là tướng Big Minh (Minh lớn), người trực tiếp truyền lịnh là tướng Xuân (đi xe chạy đuổi theo sau) và người thực hiện là Đại úy Nhung- cận vệ tin cẩn nhất của tướng Minh đi trong xe thiết giáp M.113. Trong những thông tin đến với tôi lúc ấy, tôi nhớ nhất là những lời tường thuật của ông P.D.Đ.- bác sĩ săn sóc sức khoẻ cho tướng Trần Văn Đôn và luôn đi bên cạnh tướng Đôn. Bác sĩ Đ. kể:

        “Vào chiều ngày 1.11, ông Diệm điện thoại cho tướng Đôn nói chuyện gì đó, tướng Đôn trả lời trên điện thoại: “ Dạ thưa Tổng thống, để tôi trình lại với Trung tướng Dương Văn Minh...” Tướng Minh ngồi gần đó, nghe thế liền nổi nóng chạy đến giật điện thoại trên tay tướng Đôn và quăng xuống bàn với lời quở trách rất nặng: “Giờ nầy mà Đôn còn thưa với trình Tổng thống nữa sao ?” Tướng Đôn biết lỗi nên lặng đi. (1) Có lẽ ở   đầu giây bên kia ông Diệm nghe thế biết chuyện không xong nên cũng tắt luôn. Vào sáng 2.11, trong lúc Hội đồng Quân nhân Cách mạng đang ngồi chờ đoàn quân xa đi đón hai ông Diệm Nhu về thì nghe máy truyền tin báo. Tướng Dương Văn Minh cầm ống nghe, có tiếng nói ở đầu dây bên kia của Đại úy Nhung: “Hai ông Diệm Nhu mua chuộc tôi không được, họ quay qua hành hung tôi, tôi bắn hai ông chết rồi !”. Tướng Dương Văn Minh sửng sốt đáp: “Ai cho phép mầy bắn ? Nhưng bắn rồi thì biết làm sao được nữa !” - Kể đến đó bác sĩ Đ. nói tiếp: “ Có lẽ thấy bắn chết anh em ông Diệm rồi cũng chẳng sao nên đến lúc đó Đại úy Nhung mới quay lại bóp cò kết liễu cuộc đời hai ông. Chính vì thế mà sau đó các ông trong “Hội đồng Quân nhân Cách mạng” dùng hai chữ accidental Suicide  (tự sát vì rủi ro) để nói về cái chết của hai anh em ông Diệm chăng.”

        Bốn mươi năm qua, biết bao tài liệu trong Nam, ngoài Bắc, bên ta, bên Tây, bên Mỹ nói về cái chết của anh em ông Diệm, nhưng chung quanh cái chết ấy vẫn còn nhiều bí ẩn đang chờ khám phá. Duy có một điều không ai chối cãi được là: Anh em ông Diệm nắm chính quyền Sài Gòn 9 năm, thiết lập đầy đủ các cơ quan hành pháp, lập pháp, tư pháp nhưng chính quyền Diệm đã hành xử một cách mờ ám đối với những người đối lập, cho nên cuối cùng hai anh em ông cũng chết trong sự mờ ám.

Nghe nói Nguyễn Văn Nhung là một ngươi đẹp trai, can trường đã trừng trị quân Bình Xuyên bằng biện pháp tàn bạo của Bình Xuyên , tướng Dương Văn Minh đã sử dụng Nguyễn Văn Nhung để giết chính anh em Diệm thì quả là đắc sách. Và cũng vì ân oán giang hồ như thế cho nên không lâu sau đó, vào ngày 31.1.1964, các tướng Nguyễn Khánh - Nguyễn Chánh Thi làm “chỉnh lý” cuộc “Cách mạng 1.11.1963”, người bị bắt và bị giết đầu tiên không ai khác là Nguyễn Văn Nhung. Không rõ giết để trả thù cho anh em ông Diệm hay giết để bịt đầu mối thì chưa thấy tài liệu nào nói rõ.

        Trưa hôm 12.11.1963, chúng tôi trở lại Tổng tham mưu, đứng trên bãi cỏ mà chiếc xe M.113 chở hai cái xác đầm đìa máu me của hai anh em Diệm Nhu về đậu cách đó mới hơn một tuần, chúng tôi có cảm giác như còn mùi tanh của máu đâu đây. Nguyễn Thiết đề nghị các sĩ quan Cộng hoà cho đi xem mộ của hai ông. Nhưng bị từ chối vì lẽ phải giữ bí mật. Nếu không, dân Sài Gòn biết được họ sẽ tìm cách bới xác các ông lên như chơi. Cho đến lúc đó chúng tôi không thể nào lý giải được những việc vừa nghe thấy. Hai vị “anh minh” của đảng Cần lao Nhân vị, Thanh niên Cộng hoà, Phụ nữ Liên đới, Phụ nữ Bán quân sự   mới rầm rầm rộ rộ đó sao giờ đây lại đen tối đến cái mức một nấm mồ của hai ông cũng không dám công khai trước dân ? Đầu óc tôi tự nhiên căng thẳng quá chừng nên tôi không còn nhớ để hỏi thử sau khi hai anh em ông Diệm bị đẩy lên xe thiết giáp M.113 thì cái cặp da tài sản riêng của ông Diệm mang theo ai giữ và trong ấy gồm có những gì ? Suốt mấy chục năm qua tôi chưa tìm được tài liệu nào giải đáp được cái thắc mắc đó cả. Giữa những ngỗn ngang của sự đời, một người nào đó đi trong đoàn bình luận: “Kẻ gieo gió thì phải gặt bão”.

*
*        *

        Những thành viên trong đoàn sinh viên Huế đi tham quan ngày ấy, hiện nay vẫn còn ở Huế khá đông như nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, bác sĩ Phạm Thị Xuân Quế, anh Lý Văn Nghiên, ở Đà nẵng có bác sĩ Lê Quang Tái, ở TP Hồ Chí Minh có Tiến sĩ Thái Thị Ngọc Dư, nhà giáo Nguyễn Đình Hiển, ở Đức có Tiến sĩ Thái Thị Kim Lan, ở Pháp có Lê Thị Thảo; ở Mỹ có Nguyễn Thị Kim Tri, ở Úc có Nguyễn Thị Kim Xuyến v.v. Ba thành viên chủ chốt trong đoàn nay không còn nữa là Nhà thơ Trần Quang Long (ra trường năm 1965), tham gia kháng chiến và hy sinh ở chiến trường Tây Ninh năm 1968; Nguyễn Thiết đang học năm thứ ba thì thoát ly, phụ trách Thanh niên Thành ủy Huế, hy sinh năm 1968; Vĩnh Kha, về sau làm Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Huế, lãnh đạo sinh viên phát động các cuộc đấu tranh chống các chính quyền Diệm mà không có Diệm. Kha mất vì bệnh gan vào giữa những năm Tám mươi.

        Viết lại đoạn hồi ức nầy tôi không có mục đích để phục vụ cho việc nghiên cứu hình thành một tua tham quan du lịch nhân 40 năm cáo chung của chế độ Ngô Đình Diệm (1963-2003). Đối với tôi, sự kiện đấu tranh năm 1963 là bước ngoặt quan trọng của sinh viên miền Nam, trong đó có tôi, mở ra Phong trào đấu tranh đô thị từ 1963 đến 1975, nhiều sinh viên thanh niên bình thường đã trở thành chiến sĩ yêu nước có tên tuổi. Trong số những người còn tại thế, chắc cũng có người đang viết hồi ký về cái giai đoạn bi hùng ấy của đời mình. Riêng tôi, viết lại đoạn ức trên không những để ghi lại bước ngoặt quan trọng của đời mình mà còn để nhớ lại những bạn bè đã mất không còn cơ hội cầm bút nữa. Và, nếu chữ nghĩa có một tác động nào đó thì xin gởi vào tương lai cho con cháu sau nầy một thể nghiệm điển hình về cái chân lý: Đã gieo gió thì có ngày sẽ gặt bão.                                     

Gác Thọ Lộc, Huế-mùa Xuân-2003 

(1) Theo KTS Nguyễn Hữu Đống-người đại diện dân sự độc nhất có mặt bên cạnh tướng Dương Văn Minh lúc ấy cho biết tướng Minh đã nạt nộ tướng Trần Văn Đôn rằng: "André ! Giờ nầy mà anh còn muốn phản tôi hả ? Nhung (cận vệ của tướng Minh) đưa súng đây !".  Tướng Đôn sợ quá muốn xỉu luôn.            

Home  |  Top Page | Về trang mục lục

© Thư từ và bài viết cho mục này, xin gởi attachment về email: giaodiem@giaodiem.net

. ..........