- Theo đoàn Sinh viên Huế
- tham quan con đường “gặt
bão”
- của anh em ông Ngô Đình
Diệm ở Sài Gòn tháng 11/63
- Để tưởng
nhớ Nguyễn Thiết,
- Trần
Quang Long và Vĩnh Kha.
“Cuộc cách mạng 1.11.1963” thành công,
một tuần sau, tướng Dương Văn Minh đưa tàu bay ra miền Trung mời
đại diện sinh viên tranh đấu Huế vào Sài Gòn nghe chuyện quân đội tổ
chức lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Nhận được lời mời quá gấp
nên chúng tôi không thể họp khoáng
đại để đề cử đại diện được mà chỉ kịp chọn một số anh chị
em đã tham gia tranh đấu chống Diệm từ đầu, đã bị “kế hoạch nước
lũ” của Ngô Đình Nhu bắt giam từ sáng 21.8.1963, và một số bạn bè đã
tham gia tranh đấu khác. Đoàn gồm có các thành viên Trần Quang Long - Nguyễn
Đắc Xuân (ban Việt Hán, Đại học Sư phạm), Nguyễn Thiết - Nguyễn Đình
Hiển (Luật khoa), Hoàng Phủ Ngọc Tường - Thái Thị Kim Lan - Thái Thị Ngọc
Dư - Nguyễn Thị Kim Xuyến (Văn khoa); Phạm Thị Xuân Quế - Lê Quang Tái -
Lê Thị Thảo - Nguyễn Thị Kim Tri (Khoa học và Y khoa), Lý Văn Nghiên (Viện
Hán hoc) và nhiều người nữa mà đến nay tôi không còn nhớ tên.
Máy bay
đưa chúng tôi đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất vào sáng ngày 11.11.1963 và
về nhà nghỉ tại một doanh trại quân đội trên đường Lê Thánh Tôn.
Ngay trưa hôm ấy chúng tôi được mời vào Bộ Tổng Tham Mưu gặp các tướng
lãnh trong “Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng” và nghe họ kể lại từ đầu
đến cuối cuộc hành quân đảo chánh lật đổ chế độ “Ngô triều”.
Chiều hôm đó chúng tôi được đưa đi tham quan “Thành Cộng hoà” (nơi
trú đóng của lực lượng bảo vệ trung thành nhất của chế độ Diệm),
thăm đơn vị Thủy Quân Lục Chiến - đơn vị đã trực tiếp tấn công
vào Dinh Gia Long. Sáng hôm sau, 12.11. 1963, chúng tôi đi tham quan Dinh Gia Long và
tham quan con đường “gặt bão” của hai anh em ông Ngô Đình Diệm và ông
Ngô Đình Nhu. Chương trình tham quan ngày 12.11.1963 rất ấn tượng, đã để
lại trong tôi nhiều chuyện không thể nào quên.
Dinh Gia Long
rộng khoảng 2ha, ở trung tâm thành phố Sài Gòn, nằm giữa 4 con đường:
Gia Long (trước), Lê Thánh Tôn (sau), Pasteur (bên phải) và Công Lý (bên
trái), do Kiến trúc sư Pháp Alfres Foulhoux thiết kế, xây dựng từ năm 1885
đến năm 1890. Kiến trúc đồ sộ và rất đẹp nầy lúc đầu dùng làm Bảo
tàng Thương Mại, nhưng sau chuyển thành Dinh Gia Long dành làm nhà ở cho Thống
Đốc Nam Kỳ. Bởi thế sau nầy, khi dinh Độc Lập bị hai phi công Phạm
Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử dội bom
hư hại nặng (27.2.1962), Ngô Đình Diệm và bầu đoàn thê tử của Ngô Đình
Nhu dọn sang Dinh Gia Long ở. Dinh Gia Long trở thành Dinh Tổng thống và dinh
thất của gia đình họ Ngô tại Sài Gòn. Không rõ năm 1962, anh em nhà họ
Ngô có biết rằng trước đó 17 năm, trong cuộc đảo chính 9.3.1945, quân đội Phù tang đã vào dinh nầy bắt
sống Thống đốc Nam kỳ Hoefel đem bỏ tù không, chứ theo cụ Vương Hồng
Sển thì dân Sài Gòn biết rất rõ và cho rằng anh em nhà họ Ngô đem nhau
vô Dinh Gia Long ở đã là một dấu hiệu không lành.
Chúng tôi
vào tham quan Dinh Gia Long đúng mười hôm sau ngày hai ông Diệm Nhu chạy trốn
khỏi nơi đây, Dinh vẫn còn do lực lượng Thủy quân lục chiến canh giữ.
Bên trong Dinh bàn ghế, giấy má, bản đồ, chai lọ, đồ làm tóc, áo quần
vẫn còn ngỗn ngang trên sàn nhà. Các sĩ quan Cộng hoà hướng dẫn chúng
tôi cho biết cả tuần qua nhiều đoàn đã vào thăm và họ đã lấy đi không
biết bao nhiêu của cải. Suốt tuần qua báo chí Sài Gòn đăng nhiều phóng
sự điều tra về những bí mật trong Dinh Gia Long, đặc biệt là những
hình ảnh sex mà họ gán cho là của bà Trần Thị Lệ Xuân- vợ cố vấn
Ngô Đình Nhu - người tự mệnh danh là đệ nhất phu nhân của Việt Nam Cộng
Hoà. Do đó khi được vào tham quan, chúng tôi đến ngay phòng ngủ của bà
Lệ Xuân phía gần đường Pasteur. Cái phòng nầy bị dân chúng phá tanh
banh. Các sĩ quan chỉ cho chúng tôi hệ thống kính soi được lắp kín bốn
mặt tường và họ giải thích rằng: Bà Lệ Xuân lắp hệ thống kính như
thế để mọi hoạt động thân thể riêng tư của bà trong phòng nầy bà
có thể ngắm được từ nhiều phía. Và người ta cũng hướng dẫn cho chúng
tôi rằng phòng riêng của Tổng thống Diệm gần phòng riêng của cô em
dâu. Ông Ngô Đình Nhu muốn vào phòng riêng của vợ phải đi qua phòng của
anh trai ông. Không rõ thực hư như thế nào, cho đến bây giờ tôi vẫn chưa
hiểu có đúng như thế không và tại sao lại như vậy.
Sau ngày
2.11.1963, báo chí Sài Gòn cũng đưa nhiều tin tức về con đường hầm bí
mật nối liên Dinh Gia Long với một cơ sở của Diệm trên đường Lê
Thánh Tôn, và vào chiều tối ngày 1.11.1963, anh em ông Diệm đã thoát ra
ngoài bằng đường hầm ấy. Nhưng sự thực không đúng như thế, chuyện
đơn giản hơn nhiều. Chúng tôi được một viên sĩ quan Thủy quân lục
chiến đem xuống xem một đoạn đường hầm dài chừng 15 m, miệng hầm
ở ngay trong Dinh Gia Long và hướng ra phía đường Pasteur. Họ cho biết vào
khoảng 8 giờ tối ngày 1.11.1963, anh em Diệm Nhu rời Dinh Gia Long từ căn hầm
nầy bằng một chiếc Citroen do ông Cao Xuân Vỹ đưa tới. Hai ông mặc quần
áo ngủ, còn đồ lớn xếp mang theo.
Ông Diệm xách một cái cặp tài sản quý của riêng ông.
Tham quan chỗ
xuất phát rồi, chúng tôi lên xe đi lại lộ trình anh em ông Diệm đã đi
qua lần cuối cùng. Trước khi rời Dinh Gia Long, chúng tôi chụp một kiểu
ảnh để ghi lại cảnh trí Dinh Gia Long vừa bị tấn công tơi tả cách đó
hơn một tuần với những người sĩ quan đã chỉ huy thủy quân lục chiến
đánh vào sào huyệt của anh em Diệm Nhu và những sĩ quan hướng dẫn chúng
tôi đi tham quan. [Kiểu ảnh kỷ niệm ấy may mắn được một người đi
trong đoàn giữ kỹ, sau ngày thống nhất đất nước (1975), gia đình người
bạn tặng lại cho tôi xem như một món quà mừng tôi chín năm đi kháng chiến
được bình yên trở về.]
Chụp ảnh
xong, một số thành viên trong đoàn, đa số là các cô nữ sinh, tranh thủ
đi thăm bà con bạn bè ở Sài Gòn hoặc đi phố mua hàng chứ không đi tham
quan tiếp. Riêng những anh chị em sinh viên đã quá đau khổ vì chế độ
Diệm thì hăng hái đi xem cho đến cùng.
Xe đưa chúng
tôi đi theo đường Pasteur đến đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị
Minh Khai) thì rẽ trái. Theo kế hoạch ban đầu hai ông Diệm Nhu định đến
ngã tư Hồng Thập Tự -Lê Văn Duyệt (Cách mạng Tháng tám ngày nay) sẽ rẽ
phải để về nhà thờ Ba Chuông ở đường Trương Minh Ký - cuối đường
Trương Minh Giảng (nay là đường Lê Văn Sĩ). Nhưng rồi ông Diệm đổi ý
kiến, cho xe rẽ trái chạy lên đường Đồng Khánh (Trần Hưng Đạo B ngày
nay) về hướng nhà thờ Cha Tam ở miệt Chợ Lớn. Trên đường đi ông Nhu
sực nhớ đến Mã Tuyên - Bang trưởng Triều Châu, một người làm ăn kinh
tế với gia đình ông Nhu và đang là Thủ lãnh Thanh niên Cộng hoà người
Việt gốc Hoa tại khu vực Chợ Lớn. Ông Nhu cho rằng chín mười giờ đêm
mà đến nhà thờ Cha Tam không tiện nên đề nghị tạm dừng chân tại
nhà Mã Tuyên. Ông Diệm đồng ý. Gia đình Mã Tuyên đón tiếp anh em ông Diệm
rất ân cần theo nghi lễ truyền thống của người Trung Hoa. Anh em ông Diệm
ở đó cho đến gần 4 giờ sáng 2.11.1963 mới thay đồ lớn, thắc cà-vạt,
đi giày da nâu cho có uy thế trước khi đến nhà thờ Cha Tam. Xe chúng tôi
dừng lại trước nhà Hoa kiều Mã Tuyên nhưng không được vào. Vì lúc đó
Mã Tuyên đã bị bắt và tài sản của Mã Tuyên đã bị tịch thu hết. Xe
đưa chúng tôi vào nhà thờ Cha Tam ở đường Học Lạc.
Nhà thờ
Cha Tam do người Hoa xây dựng từ đầu thế kỷ XX. Nhà thờ nhỏ nhưng kiến
trúc đẹp ở trong một khu dân cư yên tĩnh và có vẻ nghèo so với các khu
vực khác của Hoa kiều Chợ Lớn. Nhà thờ có tên Francisco Xavier, nhưng Cha
Tam (tên thật là Đàm A- Tô-Tam Assou) người Hồng Kông đến làm cha xứ
ở Chợ Lớn từ cuối thế kỷ trước. Ông chết và xây mộ trong khuôn
viên nhà thờ nên giáo dân thường gọi nhà thờ Francisco Xavier là nhà thờ
Cha Tam.
Vì sao ông
Diệm lại đến Nhà thờ Cha Tam ?
Các nhà
nghiên cứu sau nầy giải thích rằng sau năm 1948, ông Diệm còn lận đận,
ở với anh ông là Giám mục Ngô Đình Thục ở Vĩnh Long, mỗi lần lên
Sài Gòn ông hay đến ẩn mình ở nhà thờ Cha Tam cho nên đến giờ phút
lâm nguy tối ngày 1.11.1963, ông lại nhớ đến nhà thờ Cha Tam. Lúc nầy
Cha Tam đã chết, linh mục tiếp hai ông là một người Pháp tên là Jean.
Linh mục Jean nói tiếng Việt rất giỏi. Khi đoàn đại diện Sinh viên Huế
chúng tôi đến tham quan, cha Jean kể đại ý: Hai anh em ông Diệm và ông Nhu
đến lúc trời còn tối. Lại vào sáng thứ bảy nên bổn đạo chưa ai đến.
Chỉ mới có mấy cây nến trên bàn thờ đỏ lửa, còn cả khu vực nhà thờ
vẫn tối om. Nghe có người lạ đến xem lễ một cách bất thường, cha
Jean vội vã ra xem thì thấy hai anh em ông Diệm lặng lẽ quỳ ở dãy ghế
cuối cùng phía bên trái hướng mặt về phía
bàn thờ chúa cầu nguyện. Đứng sau là sĩ quan cận vệ (sau nầy
tôi biết tên là Đại úy Đỗ Thọ) với nét mặt đăm chiêu. Chưa bao giờ
gặp anh em Diệm Nhu nhưng khi thấy hai ông, cha Jean biết ngay là “Tổng thống
với ông Cố vấn chính trị” nên rất vui mừng. Cha Jean mời hai ông vô
nhà khách nghỉ và nếu cần thì cho hai ông tị nạn, vì nhà thờ là nước
Chúa không ai dám xâm phạm. Hai ông do dự một chút rồi cũng vô nhà khách
nghỉ. Sau đó cha Jean trở lại nhà thờ làm khoá lễ đầu. Không hiểu sao
hai ông lại theo chân cha Jean ra nhà thờ dự lễ lần thứ hai và hai ông đã
“rước mình thánh chúa” (ăn bánh thánh). Bấy giờ đã hơn 6 giờ sáng
2.11.1963, trong nhà thờ đã có bổn đạo đến xem lễ. Dự lễ lần thứ
hai xong, hai ông trở lại nhà khách nghỉ. Không rõ do ai loan báo, trẻ con
trong khu vực nhà thờ kéo nhau đến chỉ vào cái nút ruồi trên má ông Diệm
mà hô hoán lên rằng: “Tổng thống bây ơi ! Tổng thống bây ơi !”. Khi
đoàn sinh viên chúng tôi đến tham quan, dân chúng tò mò đến và bảo: Ngay
sau khi phát hiện ra “Tổng thống có cái nút ruồi trên mặt” có người
đã đi báo cho “Hội đồng Quân nhân Cách mạng biết”. Không rõ có phải
vì biết mình đã bị lộ nên khi trở lại nhà nghỉ của nhà thờ Cha Tam,
anh em ông Diệm đã dùng điện thoại của nhà thờ thương thuyết với những
người làm đảo chánh và yêu cầu họ đưa xe đến đón hai ông về Tổng
tham mưu (bản doanh lãnh đạo cuộc đảo chánh) bàn chuyện hai ông chuyển
giao quyền hành. Nhận được điện của ông Diệm, tướng Dương Văn Minh
cử một đoàn quân xa đi đón, gồm một xe Jeep chở Đại tá Dương Ngọc
Lắm dẫn đầu, một chiếc Jepp thứ hai chở Thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa và
Đại úy Nguyễn Hoà Hiệp, sau cùng là một thiết giáp M.113 chở Đại úy
Nguyễn Văn Nhung (cận vệ của tướng Dương Văn Minh). Đoàn quân xa ra khỏi
Tổng tham mưu, tướng Mai Hữu Xuân đi riêng một xe Jepp nữa đuổi theo
sau. Tướng Xuân đi rồi, tướng Trần
Văn Đôn chuẩn bị hai phòng riêng tại Tổng tham mưu để đón “Tổng thống
với ông Cố vấn”.
Đoàn xe đến
nhà thờ Cha Tam, ông Nhu không chịu lên xe thiết giáp với lời trách móc nặng
nề :“Đi đón Tổng thống bằng xe M.113 à ?”. Đã xảy ra một cuộc đấu
khẩu rất gay gắt giữa anh em ông Diệm và Đại úy Nhung. Cuối cùng, hai
ông bị đẩy lên xe thiết giáp, nắp xe M.113 từ từ kéo lên. Chệ độ Ngô
Đình Diệm dụp đổ từ đây.
Đoàn tham
quan của chúng tôi rời nhà thờ Cha Tam lên xe đi lại con đường mà chiếc
M.113 chở hai anh em ông Diệm đã đi qua trước đó đúng 10 hôm. Xe đến Ngã
sáu Cộng hoà nhập vào đường Hồng Thập Tự. Xe chạy quá phía hông Bệnh
viện Từ Dũ đến gặp một cái chấn đường sắt cắt ngang đường Hồng
Thập Tự, xe dừng lại. Các sĩ quan Cộng hoà chỉ cái chấn đường sắt
và bảo chúng tôi: “Anh em ông Diệm đã bị Đại úy Nhung bắn chết bằng
súng lục ngang khúc đường nầy đây”. Không hiểu sao, cả đoàn chúng
tôi lặng người. Mỗi người trầm ngâm theo ý nghĩ riêng của mình.
Về cái chết
của anh em ông Diệm là chuyện thời sự của báo giới và sinh viên tranh
đấu ở miền Nam suốt những tháng cuối năm 1963 đến cả năm 1964. Nhiều
nguồn tin nói cái chết của hai anh em Diệm Nhu đã được 9/10 người trong
“Hội đồng Quân nhân Cách mạng” quyết định trong đêm 1.11.1963 rồi.
Đa số những tướng đã bảo nhau “nhổ cỏ phải nhổ cho tận rễ” để
trừ hậu hoạ. Người có quyền thi
hành quyết định “nhổ tận rễ” đó là tướng Big Minh (Minh lớn), người
trực tiếp truyền lịnh là tướng Xuân (đi xe chạy đuổi theo sau) và người
thực hiện là Đại úy Nhung- cận vệ tin cẩn nhất của tướng Minh đi
trong xe thiết giáp M.113. Trong những thông tin đến với tôi lúc ấy, tôi
nhớ nhất là những lời tường thuật của ông P.D.Đ.- bác sĩ săn sóc sức
khoẻ cho tướng Trần Văn Đôn và luôn đi bên cạnh tướng Đôn. Bác sĩ
Đ. kể:
“Vào chiều
ngày 1.11, ông Diệm điện thoại cho tướng Đôn nói chuyện gì đó, tướng
Đôn trả lời trên điện thoại: “ Dạ thưa Tổng thống, để tôi trình
lại với Trung tướng Dương Văn Minh...” Tướng Minh ngồi gần đó, nghe
thế liền nổi nóng chạy đến giật điện thoại trên tay tướng Đôn và
quăng xuống bàn với lời quở trách rất nặng: “Giờ nầy mà Đôn còn
thưa với trình Tổng thống nữa sao ?” Tướng Đôn biết lỗi nên lặng
đi. Có lẽ ở đầu giây bên kia ông Diệm nghe thế biết
chuyện không xong nên cũng tắt luôn. Vào sáng 2.11, trong lúc Hội đồng Quân
nhân Cách mạng đang ngồi chờ đoàn quân xa đi đón hai ông Diệm Nhu về
thì nghe máy truyền tin báo. Tướng Dương Văn Minh cầm ống nghe, có tiếng
nói ở đầu dây bên kia của Đại úy Nhung: “Hai ông Diệm Nhu mua chuộc
tôi không được, họ quay qua hành hung tôi, tôi bắn hai ông chết rồi !”.
Tướng Dương Văn Minh sửng sốt đáp: “Ai cho phép mầy bắn ? Nhưng bắn
rồi thì biết làm sao được nữa !” - Kể đến đó bác sĩ Đ. nói tiếp:
“ Có lẽ thấy bắn chết anh em ông Diệm rồi cũng chẳng sao nên đến lúc
đó Đại úy Nhung mới quay lại bóp cò kết liễu cuộc đời hai ông.
Chính vì thế mà sau đó các ông trong “Hội đồng Quân nhân Cách mạng”
dùng hai chữ accidental Suicide (tự sát vì rủi ro) để nói về
cái chết của hai anh em ông Diệm chăng.”
Bốn mươi
năm qua, biết bao tài liệu trong Nam, ngoài Bắc, bên ta, bên Tây, bên Mỹ
nói về cái chết của anh em ông Diệm, nhưng chung quanh cái chết ấy vẫn
còn nhiều bí ẩn đang chờ khám phá. Duy có một điều không ai chối cãi
được là: Anh em ông Diệm nắm chính quyền Sài Gòn 9 năm, thiết lập đầy
đủ các cơ quan hành pháp, lập pháp, tư pháp nhưng chính quyền Diệm đã
hành xử một cách mờ ám đối với những người đối lập, cho nên cuối
cùng hai anh em ông cũng chết trong sự mờ ám.
Nghe nói
Nguyễn Văn Nhung là một ngươi đẹp trai, can trường đã trừng trị quân
Bình Xuyên bằng biện pháp tàn bạo của Bình Xuyên , tướng Dương Văn
Minh đã sử dụng Nguyễn Văn Nhung để giết chính anh em Diệm thì quả là
đắc sách. Và cũng vì ân oán giang hồ như thế cho nên không lâu sau đó,
vào ngày 31.1.1964, các tướng Nguyễn Khánh - Nguyễn Chánh Thi làm “chỉnh
lý” cuộc “Cách mạng 1.11.1963”, người bị bắt và bị giết đầu tiên
không ai khác là Nguyễn Văn Nhung. Không rõ giết để trả thù cho anh em
ông Diệm hay giết để bịt đầu mối thì chưa thấy tài liệu nào nói
rõ.
Trưa hôm
12.11.1963, chúng tôi trở lại Tổng tham mưu, đứng trên bãi cỏ mà chiếc
xe M.113 chở hai cái xác đầm đìa máu me của hai anh em Diệm Nhu về đậu
cách đó mới hơn một tuần, chúng tôi có cảm giác như còn mùi tanh của
máu đâu đây. Nguyễn Thiết đề nghị các sĩ quan Cộng hoà cho đi xem mộ
của hai ông. Nhưng bị từ chối vì lẽ phải giữ bí mật. Nếu không,
dân Sài Gòn biết được họ sẽ tìm cách bới xác các ông lên như chơi.
Cho đến lúc đó chúng tôi không thể nào lý giải được những việc vừa
nghe thấy. Hai vị “anh minh” của đảng Cần lao Nhân vị, Thanh niên Cộng
hoà, Phụ nữ Liên đới, Phụ nữ Bán quân sự
mới rầm rầm rộ rộ đó sao giờ đây lại đen tối đến cái
mức một nấm mồ của hai ông cũng không dám công khai trước dân ? Đầu
óc tôi tự nhiên căng thẳng quá chừng nên tôi không còn nhớ để hỏi thử
sau khi hai anh em ông Diệm bị đẩy lên xe thiết giáp M.113 thì cái cặp da
tài sản riêng của ông Diệm mang theo ai giữ và trong ấy gồm có những
gì ? Suốt mấy chục năm qua tôi chưa tìm được tài liệu nào giải đáp
được cái thắc mắc đó cả. Giữa những ngỗn ngang của sự đời, một
người nào đó đi trong đoàn bình luận: “Kẻ gieo gió thì phải gặt bão”.
- *
- *
*
Những
thành viên trong đoàn sinh viên Huế đi tham quan ngày ấy, hiện nay vẫn còn
ở Huế khá đông như nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, bác sĩ Phạm Thị
Xuân Quế, anh Lý Văn Nghiên, ở Đà nẵng có bác sĩ Lê Quang Tái, ở TP Hồ
Chí Minh có Tiến sĩ Thái Thị Ngọc Dư, nhà giáo Nguyễn Đình Hiển, ở Đức
có Tiến sĩ Thái Thị Kim Lan, ở Pháp có Lê Thị Thảo; ở Mỹ có Nguyễn
Thị Kim Tri, ở Úc có Nguyễn Thị Kim Xuyến v.v. Ba thành viên chủ chốt
trong đoàn nay không còn nữa là Nhà thơ Trần Quang Long (ra trường năm
1965), tham gia kháng chiến và hy sinh ở chiến trường Tây Ninh năm 1968; Nguyễn
Thiết đang học năm thứ ba thì thoát ly, phụ trách Thanh niên Thành ủy Huế,
hy sinh năm 1968; Vĩnh Kha, về sau làm Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Huế,
lãnh đạo sinh viên phát động các cuộc đấu tranh chống các chính quyền
Diệm mà không có Diệm. Kha mất vì bệnh gan vào giữa những năm Tám mươi.
Viết lại
đoạn hồi ức nầy tôi không có mục đích để phục vụ cho việc nghiên
cứu hình thành một tua tham quan du lịch nhân 40 năm cáo chung của chế độ
Ngô Đình Diệm (1963-2003). Đối với tôi, sự kiện đấu tranh năm 1963 là
bước ngoặt quan trọng của sinh viên miền Nam, trong đó có tôi, mở ra
Phong trào đấu tranh đô thị từ 1963 đến 1975, nhiều sinh viên thanh niên
bình thường đã trở thành chiến sĩ yêu nước có tên tuổi. Trong số những
người còn tại thế, chắc cũng có người đang viết hồi ký về cái giai
đoạn bi hùng ấy của đời mình. Riêng tôi, viết lại đoạn ức trên
không những để ghi lại bước ngoặt quan trọng của đời mình mà còn để
nhớ lại những bạn bè đã mất không còn cơ hội cầm bút nữa. Và, nếu
chữ nghĩa có một tác động nào đó thì xin gởi vào tương lai cho con cháu
sau nầy một thể nghiệm điển hình về cái chân lý: Đã gieo gió thì có
ngày sẽ gặt bão.
Gác Thọ Lộc, Huế-mùa
Xuân-2003
Home | Top Page | Về trang mục lục