curley_sw_03.gif (1967 bytes)   Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .


  Triển lãm thơ,
  tôn vinh cái đẹp tâm hồn Việt Nam

 

   Nguyễn đắc Xuân

            Từ sau ngày Hội Nhà văn Việt Nam quyết định lấy ngày lễ Nguyên tiêu hằng năm (Rằm tháng Giêng) làm ngày Thơ Việt Nam, “không khí thơ” ở các địa phương có vẽ nhộn nhịp hơn. Người ta nghĩ đến chuyện đưa thơ vào đời sống văn hóa bằng các hình thức vui chơi giải trí hấp dẫn hơn. Tôi đã có nhiều cuộc trao đổi với các nhà thơ và các nhà văn hóa, các nhà bảo tồn bảo tàng và nhận được một ý kiến chung là việc triển lãm thơ là hấp dẫn và dễ dàng nhất.

            Có nhiều lọai vật tải thơ có thể triển lãm. Vì khuôn khổ một bài báo nên tôi chỉ nêu 7 lọai sau đây:

1. Các tập thơ quý hiếm (xưa và nay)

           Do khí hậu ẩm ướt và trải qua nhiều cuộc chiến tranh hủy diệt kéo dài nên các hiện vật cổ nói chung và các tập thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam ra đời hồi trước chiến tranh nói riêng bị mất mát và hư hại rất nhiều. Do đó các tập thơ xưa còn sót lại là những cổ vật quý hiếm, người thời nay rất muốn xem chơi. Ví dụ bạn đọc nghe nói nhiều đến nhà thơ Hòang tộc Tùng Thiện Vương nhưng mấy ai đã được xem một tập Thương Sơn Thi Tập của Vương ra sao đâu ! Ngay cả nhà thơ Tố Hữu mới đây thôi mà đi tìm cho được tập thơ đầu đời của Anh cũng không phải chuyện dễ. Rồi những bản in đầu tiên các tập Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư, Thơ Thơ của Xuân Diệu, Lửa Thiêng của Huy Cận, Thơ Tố Hữu của Tố Hữu...hấp dẫn biết bao nhiêu. Triển lãm các tập thơ quý hiếm không những giới thiệu nội dung thơ trong các tập ấy mà còn giới thiệu đến nghề in, chất giấy và trình độ mỹ thuật của thời đại mà các tập thơ ra đời.

2. Chân dung và bút tích các nhà thơ tiêu biểu

           Thơ Việt Nam thịnh hành từ thời Lý, đầu thế kỷ thứ XI. Các nhà thơ tiêu biểu làm quan Đại thần như Nguyễn Trải, Phan Huy Ích, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Tư Giản...mới có chân dung truyền thần. Và, những chân dung nầy chỉ để thờ, người yêu thơ trong nước không có mấy cơ hội được chiêm ngưỡng. Không chỉ ngày xưa, đến cuối thế kỷ XIX, khi nghề in và nhiếp ảnh phương Tây đã du nhập vào Việt Nam, chẳng có mấy nhà thơ Việt Nam được chụp ảnh và lưu lại đời sau như các ông Đặng Huy Trứ, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê...Ngay cả những nhà thơ mới, nếu không được hai ông Hòai Thanh và Hòai Chân sưu tập và in trong Thi Nhân Việt Nam thì ngày nay chúng ta cũng khó tưởng tượng được mặt mũi các vị ấy ra sao. Triển lãm chân dung các nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam là một cách biểu dương thơ rất ấn tượng. Người xem chân dung các tác giả sẽ tìm đọc thơ của họ và nhớ lâu. Với kỷ thuật phô-tô-sốp hiện nay, các chân dung cũ bị ẩm mốc phai nhạt có thể phục hồi lại tốt, triển lãm xong in thành sách lưu lại đời sau.

Bên cạnh chân dung các nhà thơ triển lãm bút tích của các nhà thơ. Qua nét bút của các nhà thơ người xem có thể thấy được gân cốt, khí tiết và sự tài hoa của các nhà thơ. Nhiều nhà thơ cổ điển ra đời khi Việt Nam chưa có kỹ thuật nhiếp ảnh, tìm trong di sản của họ để lại ta có thể có được bút tích của các vị như Cao Bá Quát, Nguyễn Hàm Ninh, Nguyễn Văn Siêu....     

3. Thơ với Thư pháp  (callégraphie)

          Khác với nhiều nước, thơ Việt Nam được thể hiện bằng nhiều lọai chữ: chữ tượng hình (Hán, Nôm) và chữ theo vần Alphabet (Quốc ngữ, Pháp, Anh). Từ rất xa xưa, trí thức trong vùng văn hóa Hán, viết chữ tượng hình (chữ Hán) thành những bức tranh thủy mặc để thờ hoặc trang trí trong thư phòng. Cách viết chữ ấy gọi là Thư pháp (callégraphie). Gần đây, nhiều nhà thư pháp Việt Nam, ngòai việc phát huy truyền thống tạo cho mình một thư pháp chữ tượng hình riêng mà còn sáng tạo thêm một lọai thư pháp bằng chữ theo vần Alphabet, thường gọi là thư pháp quốc ngữ. Người đầu tiên “phát minh” ra thư pháp quốc ngữ là nhà thơ Đông Hồ ở Nam Bộ cách đây hơn 30 năm. Thư pháp quốc ngữ - chữ quốc ngữ viết bằng bút lông- trở thành một phong trào ở Huế bắt đầu từ nhà sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh chùa Huyền Không. Trong hai Festival Huế 2000 và 2002, thư pháp quốc ngữ đã được dư luận rất chú ý. Đặc biệt nhà thư pháp Nguyệt Đình đã thực hiện một công trình thư pháp quốc ngữ “vĩ đại” với 2354 câu thơ Truyện Kiều  của Nguyễn Du. Công trình nầy đã trưng bày trong Festival Huế 2002 và đang trưng bày ở quê hương Nguyễn Du. Thư pháp là một lối chơi tao nhã, cổ động cho người cầm bút quan tâm đến cái đẹp của chữ viết. Trong triển lãm thơ, thư pháp làm cho thơ có hồn hơn và đẹp hơn.

4. Thơ trên đồ Sứ cổ

          Những ai từng chơi cổ ngọan hẵn đã biết trên đồ sứ men lam (Bleus de Hué) của vua chúa triều Nguyễn ghi rất nhiều thơ, với nhiều chủ đề khác nhau. 

Chủ đề phong cảnh Huế: Hai bài thơ tả cảnh Huế trên đồ sứ men lam: Ái Lĩnh Xuân VânThuận Hóa Vãn Thị của Đạo Nhân Thư  (tức Nguyễn Phúc Chu - ông chúa Nguyễn thứ sáu). Theo ông Trần Đình Sơn, hai bài thơ nầy được viết trên hai tô sứ, đường kính miệng đo được 18 cm, cao 8 cm, đáy ghi hai chữ Thanh Ngọan theo lối triện, trong hai vòng tròn xanh. Đây là đồ ngự dụng của vua chúa thời Lê Trịnh Nguyễn.

Chủ đề tâm sự của bậc vua chúa quan lại: Tâm sự của Đặng Huy Trứ  khi đi công cán ở nước ngòai:
Tuyết trung vị vấn điều canh sự
Tiên cú bách hoa đầu thượng khai
(Dịch nghĩa: trong lúc tuyết giá chưa hỏi đến việc vua giao phó. Câu đầu tiên dành để ca tụng hoa mai). 

Thơ trên đồ sứ men lam bằng chữ Hán (như trên) và đặc biệt có nhiều bài thơ chữ viết bằng Nôm như:

Tô sứ hiệu chữ Nhật, thời Minh Mạng (1819-1840) (1) (cao 6,7 cm, đường kính miệng 16,5 cm) vẽ tích “Bá Nha-Tử Kỳ” nghi bài ngũ ngôn tứ tuyệt:

Hai kẻ bạn tri âm
Vui thay một khúc cầm
Non cao cùng nước biếc
Rằng để ít ai ngâm(2). Cẩn bái. 

Điếu và bát vẽ Mai Hạc, ghi câu thơ của Nguyễn Du.  

Nghêu ngao vui thú yên hà
Mai là bạn cũ, Hạc là người quen”.
Thơ trên đồ sứ men lam súc tích, hay, quý, có độ bền vững cao nhất so với thơ ghi trên tất cả các lọai vật chất khác (kể cả đá).

5. Thơ khắc trên bia đá

          Lọai hình thơ khắc trên bia đá khá phổ biến ở Huế. Vua Thiệu Trị đã từng làm thơ vịnh 20 cảnh đẹp ở đất Thần Kinh và cho khắc lên bia đá dựng ở những nơi có các cảnh ầy. Hai mươi thắng cảnh đó là: 1.Trùng Minh Viễn Chiếu (Trăng sáng lầu Minh Viễn), 2. Vĩnh Thiệu phương văn (Thưởng hoa vườn Thiệu Phương); 3.Tịnh hồ hạ hứng (Chơi hồ Tịnh Tâm mùa hạ); 4. Thư Uyển xuân quang (Ánh xuân vườn Thư Quang), 5. Ngự viên đắc nguyệt (Vườn ngự trăng soi); 6. Cao các sinh lương ( hóng gió mát ở gác cao); 7. Trường minh thủy điếu (câu cá ở cung Trường Minh); 8. Thường Mậu quang canh (Xem cây ở vườn Thường Mậu), 9. Vân Sơn thắng tính (Cảnh đẹp chùa Túy Vân); 10. Thuận Hải qui phàm (Thuyền về cửa Thuận); 11. Hương Giang Hiểu phiếm (Buổi sớm bơi thuyền trên sông Hương; 12. Bình lãnh đăng cao (Núi Ngự Bình lên cao); 13. Linh Hựu khánh hưởng (Tiếng khánh ở quán Linh Hựu) (mất); 14. Thiên Mụ chung thanh (Tiếng chuông chùa Thiên Mụ); 15. Trạch nguyên tiếu lộc (Nai kêu nguồn trạch); 16. Hải nhi quan ngư (Xem cá đầm Hải Nhi); 17. Giác Hòang phạn ngữ (Tiếng tụng kinh chùa Giác Hòang); 18. Hùynh vũ thư tham (Tiếng đọc sách ở Quốc tử giám) 19. Đồng lâm dực điểu (Bắn chim ở rừng phía đông); 20. Tây lãnh thang hòang (vùng nước nóng ở núi tây).

Những ai đã có một lần đi trên đường chạy trước Kinh thành Huế đều đã thấy phía bên phải Phu Văn Lâu có một nhà bia nhỏ dựng tấm bia mang tên bài thơ Hương Giang Hiểu Phiếm (Buổi sớm bơi thuyền trên sông Hương) của vua Thiệu Trị.

 Phiên âm:

Nhất phái uyên nguyên hộ đế thành
Thanh lưu sấn tảo nhạ lương sinh
Ba bình xuân thủy lung yên sắc
Chu trục thần phong động lỗ thanh
Thiên tửu vị can nhu ngạn thụ
Sơn hoa do luyến kết vân anh
Kỷ hồi hà hiết thương lang khúc
Song khuyết phương thăng thụy nhật minh.

Dịch thơ:

            Ôm lấy Kinh đô nước uốn dòng
            Thả thuyền ban sớm nhẹ thong dong
             Dòng xuân sóng lặng trùm hơi khói
            Nhịp mái thuyền xuôi phủ sóng rung
            Cây cối vấn vương sương vẫn đẫm
            Cỏ hoa quyến luyến mây còn ngưng
            Bao lâu nào rõ lòng chưa dứt         
            Đã thấy trời đông hửng nắng hồng.
                                 (Bản dịch của Phan Thuận An và...)

Thơ về cảnh đẹp lịch sử xứ Huế được khắc lên bia đá là thơ của các bậc vua chúa, súc tích, hay. Trải qua mấy trăm năm các di tích đã biến dạng, qua bài thơ trên bia đá ta có thể hình dung được cảnh đẹp, di tích xưa. Rất tiếc hàng trăm năm qua, ngòai các nhà nghiên cứu, không mấy người yêu thơ được thưởng thức thơ khắc trên bia đá.

6. Thơ viết trên tranh gương

          Tranh gương vẽ phong cảnh hay cảnh sinh họat thể hiện nội dung của một bài thơ ngự chế của vua Thiệu Trị (1841-1847) viết ở một góc bức tranh. Các bài thơ nầy đều có niên đại Thiệu Trị Ất tỵ (1845). Tấm tranh được đặt trong một cái khung chạm khắc tinh vi và thếp vàng rực rỡ. Đây là lọai hình trình bày thơ cự kỳ sang trọng. Lọai tranh gương nhất thi nhất họa nầy do các họa sĩ Trung Quốc thực hiện theo yêu cầu của các vua Nguyễn. Trong điện Hòa Khiêm lăng Tự Đức hiện còn giữ được 12 bức tranh gương nhất thi nhất họa thuộc lọai “trân bảo” của đất nước.

7. Thơ chạm khắc trên các di tích kiến trúc cung đình

          Các vua Nguyễn rất yêu thơ cho nên cũng giống như các vua chúa  các nước trong vùng văn hóa Hán dùng chữ Nho, đã cho chạm khắc nhiều thơ trên các di tích kiến trúc cung đình. Ta có thể thấy thơ của các vua Nguyễn trên kiến trúc cửa Ngọ Môn, điện Thái Hòa, Thái Miếu, điện Long An, lăng các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức.. .Các nhà nhiên cứu cho biết đã đọc được vài ngàn bài thơ trên các ô hộc kiến trúc Nguyễn ở Huế. Về hình thức, vì khuôn khổ của ô hộc kiến trúc, phần lớn thơ trên kiến trúc là lọai thơ Ngũ ngôn tứ tuyệt hay Ngũ ngôn bát cú. Nếu thơ ở cửa Ngọ Môn nói về vương triều mới đang phát huy tác dụng thì thơ ở điện Thái Hòa tán dương sự to lớn của triều đại. Nếu thơ ở các cung điện nói về triều đại thì thơ ở các lăng nói lên ước vọng của từng ông vua, nói về sự vĩnh hằng hòa quyện với cảnh sắc thiên nhiên. Qua số lượng thơ đồ sộ ấy người đọc có thể tìm thấy được tâm hồn nhạy cảm và chiều sâu tư duy của các tác giả.

8. Người nước ngòai làm thơ về Việt Nam và thơ người Việt viết bằng tiếng nước ngòai

          Tôi chưa có dịp nghiên cứu chuyên đề nầy, tuy nhiên “gặp gỡ bất ngờ trên đường nghiên cứu” tôi được biết người nước ngòai làm thơ về Việt Nam khá đông. Riêng thơ của người nước ngòai làm về Huế hồi đầu thế kỷ XX có hai tác giả đó là Henri Guibier và Henri Cosserat (biệt hiệu là Henri Rouvroy). Henri Guibier với bài thơ Nocturne Sur Le Fleuve Des  Parfums rất nổi tiếng. Lệ Chi Nguyễn Vỹ đã dịch bài nầy ra Việt ngữ với tựa đề Điệu hát trên sông Hương và ông Song An Thái Thúc Diễn dịch với tựa đề Đêm trên dòng Hương Giang. Tác giả Henri Rouvroy có riêng một tập thơ với tựa đề Hué ra đời khỏang năm 1927. Mỗi bài thơ trong tập Hué đều được in trong một cái khung vẽ dây lá rất trang trọng. Những bài thơ được ưa thích trong tập HuéHué (Huế), Sur la Rivière des Parfums (Trên sông Hương), Aube sur le Huong-Giang (Bình minh trên Hương Giang), Crépuscule (Hòang hôn), Sentier dans la brume...(Đường đi trong sương), Le Pagodon (Am thờ), Le Sampan (Thuyền), La Moisson (Mùa gặt), Les lucioles (Đom đóm), Le Roy (Ngài Ngự), Le Légende de To-Thi (Sự tích Nàng Tô Thị), Nocture (Đêm), Le coffret (cái tráp), Le pinceau (Ngọn bút lông), Broderie (Đồ thêu) ...Henri Rouvroy sống ở Huế từ năm 23 tuổi (1900) cho đến lúc ông qua đời vào tuổi 67, ông yêu Huế, ông nói tiếng Việt bằng giọng “mệ”, ông nghiên cứu văn hóa Huế, ông hiểu Huế một cách sâu sắc. Con người, cảnh vật và vật dụng trong thơ Henri Rouvroy đều gắn với  Huế. Cách đây trên 10 năm, ông Lê Văn Lân là học trò của Henri Cosserat (tên thật của Henri Rouvroy) đã dịch một số bài trong tập Hué và đăng trên Tiếng Sông Hương (Mỹ) được người Huế có Tây học rất thích. Trong thế kỷ qua lượng người Việt giỏi ngọai ngữ đang sống ở nước ngòai thể hiện hồn thơ Việt bằng ngọai ngữ có lẽ rất đông. Người Việt làm thơ bằng tiếng Tây đầu tiên có thể nói là vua Duy Tân. Trên tạp chí Kiến Thức Ngày Nay tôi đã giới thiệu bài thơ tình của vua Duy Tân (1915) viết tặng người yêu là bà Mai Thị Vàng như sau:

À ma chère bien-aimée
...Et j’écartais sur la fenêtre des anges,
Et je te regardais dormir et  sur les langes
J’effeuillais des jasmins et des oeillets sans bruit
et je priais, veillant sur les paupières closes,
et mes yeux se mouillaient de pleurs
songeant au choses
qui nous attendent  dans la nuit.
                                  Duy Tan.

(DOM (Aix), GOUGAL, Dossier 9588/57, trích lại của VNC)

Bản dịch thơ của NĐX:

          Để tặng người yêu dấu
 
Vén cánh cửa diệu kỳ
Ta ngắm nhìn em  ngủ
Nằm trên làn chăn vải
Không một tiếng động hờ
Ta ngắt những đóa nhài
Và những đóa cẩm chướng
Ta canh chừng bên em
Với đôi mi khép kín
Ta lặng lẽ nguyện cầu
Bổng mắt ta nhòa lệ
Và nghĩ  tới những điều
Chờ hai ta đêm nay.

Trước năm 1975, nhà thơ Phạm Văn Ký làm thơ bằng tiếng Pháp và được giải thưởng của Pháp. Tiến sĩ Triết học Thái Thị Kim Lan (hiện sống ở Đức) làm thơ bằng tiếng Đức và cũng được giải văn học của Đức. Tiến sĩ Phạm Như Khôi (nguyên là Phó Tổng giám đốc Unesco thời ông M’Bow làm Giám đốc) với bút hiệu Phạm Quất Xá tác giả hai tập thơ les Chansons Sous La Lune (Những bài ca dưới trăng) và Hombres Soleils et Ombres đã được giải thưởng về thơ của Viện Hàn Lâm Pháp năm 1993. Phạm Quất Xá  đã sáng tạo thêm nhiều từ Pháp để diễn đạt cho được tâm hồn thơ hài hòa giữa Đông và Tây của ông. Nhiều từ tiếng Pháp của ông quá mới nên chưa có trong từ điển Pháp cũng như từ điển Pháp Việt. Qua thơ, người xem có dịp tự hào về đất nước Việt Nam và tài trí Việt Nam.

*
*       *

Ngòai bảy vật tải thơ trên, có thể nêu thêm một số vật tải thơ khác nữa như: Thơ Phật (Kinh Phật viết có vần như Kinh Pháp cú) thêu trên gấm, thơ khắc trên chuông đồng, thơ viết trên lá, trên vỏ cây của người Khmer Nam Bộ; thơ và chữ viết của các dân tộc ít người.v.v. Lọai hình gần gũi với thơ là câu đối. Trong kho tàng văn hóa Việt Nam có vô số câu đối giống như thơ hết sức súc tích, tinh tế có giá trị như những câu thơ hay. Ngòai giá trị là những câu thơ hay, hình thức của câu đối rất đẹp, thích hợp với việc triển lãm trưng bày.

Tất cả những vật tải thơ trên, với kỹ thuật hiện nay, ta có thể thực hiện một cuộc triển lãm thơ hấp dẫn, gọn nhẹ, ít tốn kém, có thể triển lãm lưu động ở trong và ngòai nước. Nếu muốn gọn nhẹ hơn nữa là thực hiện một cuốn phim tài liệu. Triển lãm thơ để tôn vinh thơ và người làm thơ, tôn vinh văn hóa Việt Nam, tâm hồn người Việt Nam, vừa hấp dẫn khách du lịch vừa có tác dụng giáo dục quần chúng một cách .                                           

                                                          Gác Thọ Lộc, 6 tháng 4 năm 2003

Chú thích:


1  Theo Trịnh Thị Hòa, đây là bài thơ của vua Tự Đức

2  Cao Tư Thanh phiên âm câu 4: Rằng quên để ai ngâm

Tham khảo:
Albert Durier, Decoration Annamite, Paris Librairie des Art Décoratifs
Chu Quang Trứ, Văn hóa Mỹ thuật Huế, Nxb Thuận Hóa, 1998
Henri de Rouveroy, Hué, BAVH, 1927.
Nguyễn Hữu Thông (chủ biên), Mỹ thuật thời Nguyễn trên đất Huế, Nxb Hội nhà văn Hà Nôi 1972.
Nguyễn Hữu Thông, Mỹ thuật Huế nhìn từ góc độ ý nghĩa và biểu tượng trang trí, Nxb Thuận Hóa, Huế 2001.
Phạm Quốc Xá, L es Chansons Sous la Lune (Những Bài Ca Dưới Trăng) Nxb Nouvelle Pléiade Paris.
Phạm Quốc Xá, Hombres Soleils et Ombres, Nxb Nouvelle Pléiade Paris.
Phan Thuận An và..., Thơ Vua Thiệu Trị, Nxb Thuận Hóa, 1997
Thái Văn Kiểm, Cố Đô Huế, Văn Hóa Tùng Thư, SG 1960
Tố Hữu, Thơ, Hội Văn hóa Cứu quốc Việt Nam, HN. 1946
Trần Đình Sơn, Tản Mạn Phú Xuân, Nxb Trẻ 2001
Tùng Thiện Vương, Thương Sơn Thi Tập (Bản chữ Hán)

Mark_03.gif (833 bytes) Về trang Nghiên cứu & đối thoại tháng 6-2003

 

Home  |  Top Page | Về trang mục lục

© Thư từ và bài viết cho mục này, xin gởi attachment về email: giaodiem@giaodiem.net

. ..........