curley_sw_03.gif (1967 bytes)   Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .


Tản mạn
Thái độ của một số người Việt ở Mĩ
trước cuộc chiến chống Iraq và bệnh SARS
  • Nguyễn Văn     

       Theo dõi thái độ của một số người Việt ở Quận Cam, và nhất là dư luận báo chí ở phố Bolsa, người ta phải rùng mình trước sự hung hãn đối với Iraq, phải kinh ngạc trước lòng trung thành tuyệt đối với nước Mĩ, và kinh tởm trước thái độ thù nghịch Việt Nam, nơi mà phần lớn họ đã được sinh ra và lớn lên.

           Trước cuộc tấn công của Mĩ hiện nay ở Iraq, đại đa số báo chí Mĩ thường đưa ra những thông tin và lập luận rất giống với quan điểm của chính phủ Mĩ, tuy có vài cơ quan ngôn luận khá nghiêm túc như tờ The New York Times Washington Post  cũng có lúc có vẻ độc lập với chính quyền trong việc bình luận và phân tích tình hình.  Nhưng trong giới truyền thông Việt ngữ ở Mĩ thì các thông tin liên quan đến Iraq tỏ ra rất một chiều: hoàn toàn phản ánh quan điểm của chính phủ ông Bush.  Thật vậy đọc qua những bài bình luận trong vài tờ báo [tiếng Việt] tương đối phổ thông trong cộng đồng người Việt ở phố Bolsa, ai cũng thế thấy họ chỉ đơn giản lặp lại (hay dịch lại) những ý kiến của những cây bút bình luận thời sự trong báo chí Mĩ, mà không thấy họ phát biểu một ý kiến gì mới, và cũng không chứng tỏ được là họ đã chịu khó suy nghĩ và phân tích tình hình cho khách quan. 

            Không những thế, họ còn đi thêm một bước xa hơn giới truyền thông Mĩ và hung hãn tuyên bố đòi “đánh Iraq”, đòi dội bom Iraq trở về thời đại đồ đá.  Hình như những người Việt hung hãn này đã quên cái quá khứ chiến tranh, đã quên những người thân đã bị chết trong cuộc chiến ở Việt Nam, và xem người dân Iraq như cỏ rác.  Người ta phải hỏi không hiểu những người Việt này còn cái nhân tính trong người hay không, bởi vì người Iraq cũng là con người.

            Đứng trên phương diện lí trí mà nói, thái độ thuần phục chính phủ rất nguy hiểm, bởi vì nó không khác gì một quá trình tự nhồi sọ.  Những câu hỏi đơn giản không được đặt ra.  Chẳng hạn như hai lí do mà Chính phủ ông Bush nói đến hết ngày này sang tháng nọ rằng Iraq là mối đe dọa cho nền an ninh nước Mĩ [1], và rằng Saddam Hussein có quan hệ với nhóm Al Qaeda, và Iraq có dính dáng vào biến cố 9/11 ở New York [2], được giới truyền thông Việt ngữ lặp lại y nguyên.  Có thể nói rằng giới truyền thông Việt ngữ ở Mĩ nói chung đã tự biến họ thành những cái loa sắc tộc cho chính phủ Mĩ, và một bộ phận trong guồng máy chiến tranh của Mĩ, thay vì là những người theo đuổi truy tìm sự thật.

           Thái độ “yes man” của giới truyền thông Mĩ thì có thể giải thích được vì họ cùng chia sẻ các lợi ích kinh tế và chính trị với giới quân sự Mĩ.  Nhưng thái độ ngoan ngoãn và quị lụy trước chính phủ ông Bush được thể hiện trong giới truyền thông tiếng Việt quả là ngoạn mục, và khó mà giải thích.  Nó cũng giống như một sự tự kiểm duyệt, nhưng sự tự kiểm duyệt này không phải bắt nguồn từ phía Chính phủ ông Bush mà là tự nguyện của giới báo chí Việt ngữ: tự nguyện loại bỏ những thông tin đi ngược lại quan điểm của chính phủ để, có lẽ, làm chọ chính phủ Mĩ hài lòng, và cũng là một dịp để người Mĩ gốc Việt chứng minh lòng trung thành của mình đến quốc gia Mĩ. 

           Thật vậy, có thể nói đại đa số người Việt ở Mĩ ủng hộ Tổng thống Bush trong cuộc chiến xâm lăng Iraq hiện nay.   Họ có nhiều lí do, nhưng cái lí do mà tôi thường nghe và đọc nhiều nhất là: “Mình là công dân Mỹ và nước Mỹ là đất tạm dung của người Việt, nên chúng ta có nhiệm vụ phải ủng hộ Tổng thống Mỹ.  Nói tóm lại là họ chỉ ủng hộ một cách mù quáng, không cần chất vấn đường lối chính sách của ông Bush có sáng suốt hay không, không cần xem xét ông Bush hành động đúng hay sai, không cần biết cuộc chiến mà ông Bush đang theo đuổi có phù hợp với luật pháp quốc tế hay không.  Cũng may Tổng thống Bush là một chính trị gia tương đối thành công, nên sự ủng hộ của người Việt còn có chút ý nghĩa dân chủ; chứ nếu ông là một tay bạo chúa ngược ngạo, thì sự ủng hộ của người Việt ở Mĩ nó ngớ ngẩn đến cỡ lố bịch và nguy hiểm biết là dường nào.

          Cách đây vài tuần ở California, một nhóm người Việt xuống đường biểu tình ủng hộ chiến tranh chống Iraq của chính phủ Bush.  Có lẽ đây là một cuộc biểu tình duy nhất trong các cộng đồng sắc tộc trên đất Mĩ.  Khi được phỏng vấn tại sao họ đi biểu tình, câu trả lời là họ muốn “trả ơn” nước Mĩ đã cưu mang và tạo cơ hội lập nghiệp cho người tỵ nạn, do đó, họ phải có nghĩa vụ chứng minh lòng trung thành của họ với nước Mĩ.   Và đó cũng là quan điểm của một cựu tướng lãnh ở miền Nam Việt Nam (trước 1975) được thể hiện trong lời kêu gọi các cựu binh sĩ gốc Việt ở Mĩ nên xung phong cầm súng đi đánh Iraq. 

          Nói tóm lại, đây là một cách “trả ơn” gián tiếp, xuất phát từ tình cảm.  Nó thể hiện một sự phá sản tri thức, vì những người này sẵn sàng để cho trái tim ngự trị và điều khiển bộ não.   

            Có lẽ vì thiếu lí trí nên họ có những suy nghĩ và cách phân định kì hoặc.  Đối với những người Việt ủng hộ cuộc chiến chống Iraq của ông Bush, bất cứ ai nói gì khác, chứ chưa nói đến chất vấn, lập luận của chính phủ Mĩ đều bị cho là “Chống Mĩ”, một cụm từ mà họ bắt chước từ báo chí tiếng Anh, “Anti-American”.  Thậm chí, có người còn không ngần ngại cho rằng phê bình Mĩ là đồng nghĩa với “Ủng hộ Saddam Hussein”! 

            Cái trò chơi nhãn hiệu này thể hiện một tình trạng nhược tiểu lí trí, vì họ không đủ khả năng tri thức để nhận thức ra sự khác biệt giữa thái độ chống chiến tranh và thái độ chống Mĩ hay ủng hộ Saddam.  Cố nhiên thái độ này của họ thể hiện một sự lười biếng trong suy nghĩ, vì đầu óc của họ chỉ luẩn quẩn trong cái lưỡng cực trắng/đen, tốt/xấu, bạn/thù của ông Bush (“Hoặc là theo ta, hoặc là chống ta”).  Vì quanh quẩn trong cái chu vi trắng/đen như thế , những người này hành động theo quán tính..  Họ thích một nhãn hiệu đơn giản  và cảm tính (hơn là một lí giải) cho một vấn đề phức tạp.  Hậu quả của sự đơn giản hóa vấn đề là nó làm cho họ trở thành nô lệ với sự tầm thường, với những khuôn sáo đã có sẵn. 

            Trong khi người Việt ở Mĩ hết lòng trung thành với nước Mĩ, họ tỏ ra rất sẵn sàng tìm đủ mọi cách, mọi lúc, mọi cơ hội để gây khó khăn cho Việt Nam, để bày tỏ sự thù hằn với Nhà cầm quyền ở Việt Nam.  Điển hình nhất cho cái ác tính này là câu chuyện chung quanh bệnh hô hấp cấp tính (còn viết tắt bằng tiếng Anh là SARS).  Thế nhưng cũng có một tờ báo Việt ngữ phát hành ở Úc châu gọi đó là “Cúm Hà nội” (sic).  Họ muốn gắn Việt Nam vào căn bệnh, để đánh vào tâm lí đang hoang mang trong đồng hương ở nước ngoài.

            Một số vị bác sĩ lên đài radio, viết báo cảnh báo đồng hương về căn bệnh này, và khuyên đồng hương không nên đi du lịch ở Việt Nam, thậm chí không nên ăn uống thực phẩm nhập cảng từ Việt Nam.  Có vị còn đi xa hơn và khuyên người nhà nên tránh gần gũi những thân nhân vừa về từ Việt Nam ít nhất là hai tuần! 

            Tuy nhiên, ở các nước như Canada và Úc (chưa kể Trung Quốc, Hồng Kông, Thái Lan, Singapore, v.v…), những nơi cũng có trường hợp SARS, nhưng chúng ta không nghe các bác sĩ này khuyến cáo đồng hương không nên đi du lịch ở Canada và Úc.  Những vị gọi là “bác sĩ” này nhìn Việt Nam như là một đất nước dơ bẩn, và đồng hương trong nước như là những người lây  bệnh đến cho họ, những người “văn minh”.  Thái độ của các vị này, do đó, không phải xuất phát từ lòng nhân từ của y giới, mà còn hàm chứa cái tính nhỏ mọn, ganh tị trước sự phát triển du lịch ở Việt Nam.  Họ tìm mọi cách, mọi cơ hội, bất cứ nơi nào, để vặn vẹo, thổi phồng thông tin, nhằm vào mục tiêu cuối cùng là làm cho kinh tế Việt Nam tê liệt để thoả mãn cái tâm tính chống cộng của họ.  

Có thật chứng SARS đang lan tràn ở Việt Nam đến độ chúng ta không nên ghé thăm?  Hay đó chỉ là một thể hiện về sự kém trình độ chuyên môn trong việc xử lí thông tin và hiểu biết bệnh tật.  Tôi có lí do nghiêng về cách giải thích sau hơn. 

            Sự thật là số người mắc bệnh SARS vẫn còn rất nhỏ.   Con số bệnh nhân ở Hồng Kông dù tăng nhanh nhưng cũng không là nhiều so với một dân số 7 triệu; ở Việt Nam, cũng chỉ trên dưới 60 bệnh nhân trong một dân số 80 triệu. Và về mặt tử vong tính chung cho toàn bộ các nơi là dưới 4%, không thay đổi mấy theo vùng riêng biệt.  Con số này phải nói là quá thấp so với một loại bệnh hoàn toàn mới dấy lên và chưa được hiểu biết nhiều, và càng không có chút tương xứng nào với tầm vóc của nó được thổi phồng “căn bệnh chết người", “hiểm hoạ mới”…  Có thể hiện nay chúng ta chưa có phương pháp chữa khỏi bệnh này, nhưng nó không phải là một căn bệnh nguy hiểm đến nổi làm chết mọi bệnh nhân.  Nếu so với dịch sốt xuất huyết do vi rút Ebola đang hoành hành ở châu Phi, tỷ lệ tử vong 70% hay hơn thì SARS chỉ là chuyện “cảm cúm” thực!.  Điều quan trọng cần biết là bệnh này không lây đến độ người ta phải cuống cuồng như hiện nay.  Bệnh thường xảy ra một cách chậm chạp cho đến nay các dữ liệu cho phép có thể kết luận là lây lan qua con đường tiếp xúc gần đến mức “giáp mặt” với các dịch tiết từ cơ thể bệnh nhân, những đối tượng đó là nhân viên y tế và người trong gia đình.  Các chuyên gia y tế công cộng hàng đầu thế giới đều cho rằng bệnh này không lan tràn ồ ạt như báo chí Tây phương đang làm rầm rộ mấy tuần qua. 

          Đây không phải là lần đầu tiên SARS xảy ra.   Kỳ thực nó đã khởi nguồn từ tháng 11 năm ngoái (2002) bên Quảng Đông Trung Quốc.  Nhưng SARS có lẽ là một căn bệnh “mới” trong loạt những bệnh kì quái xuất hiện trên trang đầu của báo chí, để rồi chúng biến mất một cách nhanh chóng sau đó.  Người ta còn nhớ đến vụ bộc phát vi khuẩn Ebola, MRSA, và fasciitis, những bệnh cũng đáng ngại, cũng “nhớp nhúa”, nhưng chỉ ảnh hưởng đến một số rất nhỏ bệnh nhân. 

            Nhưng những câu chuyện kinh hoàng được giới báo chí tô vẽ, với sự phụ họa của những bác sĩ ham nói và ham bi bô kiến thức loại khoa học thường thức, SARS trở thành một căn bệnh khủng khiếp, làm cho người ta quên rằng nguy cơ bị chết vì lái xe hàng ngày còn cao hơn nguy cơ bị chết vì SARS. 

          Câu chuyện SARS, tự nó, là một triệu chứng của một căn bệnh tâm lí trong cái văn hóa sợ hãi đang bộc phát đến độ khó có thuốc chữa ngày nay.  Đó là căn bệnh xảy ra vào thời kì mà công chúng cảm thấy bị cô lập, bất lực, không có khả năng đặt sự hiểm nguy vào bối cảnh thực tại một cách thích hợp.  Cái tâm trạng này còn trầm trọng hơn vì những ý nghĩ về chiến tranh và khủng bố.   Bệnh truyền nhiễm không phải là một căn bệnh của quá khứ như giới y tế Tây phương thường tự hào tuyên bố.  Nhưng giới y tế vẫn có khả năng nhận diện, quản lí, hay chữa trị những căn bệnh này để chúng không trở thành một mối đe dọa cho xã hội.  Do đó, những bệnh này không đe dọa đến tính mạng con người bằng bệnh ung thư hay bệnh tim.  Cái đe dọa đến công chúng hiện nay là sự mất niềm tin và khả năng đối phó với vấn đề bằng lí trí.

          Nhưng tại sao giới truyền thông Việt ngữ ở Mĩ lại có khuynh hướng phục tùng chính phủ đến độ nô lệ như thế?  Có hai giả thuyết có thể được dùng để giải thích hiện tượng này.  Một là giới họ ngu muội và khờ dại hơn chúng ta tưởng.  Hai là họ biết nhưng họ cố tình che đậy sự thật.  Có thể cả hai lí do.  Có thể nói rằng phần lớn giới truyền thông nói chung, và truyền thông Việt ngữ nói riêng, thiếu tinh tế và tri thức phân tích trong các vấn đề thời sự phức tạp.  Thành ra, thay vì đóng vai trò của người canh giữ sự thật, họ trở thành những kẻ tòng phạm dấu diếm sự thật.    

Chú thích:

[1]  Nhưng đây là một phát biểu không đúng sự thật, bởi một lí do đơn giản là Iraq không có đủ thực lực quân sự để đe dọa nước Mĩ, hay thậm chí các nước láng giềng.  Tổng tư lệnh Quân đội Do Thái, tướng Moshe Ya’alon nói “The Iraqi threat does not keep me awake at night” (Mối đe dọa từ Iraq không làm tôi mất ngủ).  Phát biểu của tướng Ya’alon cho thấy Iraq không phải là mối đe dọa an ninh trong vùng.  Có thể nói trên thế giới, Do Thái là “chuyên viên” hàng đầu về Iraq, Do Thái biết Iraq có lẽ nhiều hơn Mĩ biết Iraq.  Thế mà Do Thái không lo sợ Iraq thì hà cớ gì Mĩ lại lo sợ Iraq?  Thực vậy, kể từ cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ nhất (1991) cho đến nay, Iraq đã bị giải giới rất nhiều, và cho đến nay, sau hơn 3 tháng thanh tra vũ khí, các chuyên viên Liên hiệp quốc chưa tìm ra một vũ khí tàn sát hàng loạt của Iraq.  Từ hơn 12 năm qua, trước khi ông Bush tuyên bố tấn công, Iraq đã và đang bị dội bom hàng tuần.  Trong một tình hình bị khống chế như thế thì làm sao Iraq có thể đe doạ đến nước Mĩ?  Một đầu óc bình thường cũng có thể thấy cái luận điệu này của chính phủ ông Bush là không thể tin được. 

[2] Khi các “bằng chứng” của ông Colin Powell [trình bày trước Liên hiệp quốc để thuyết phục thế giới ủng hộ cuộc chiến chống Iraq] bị chứng minh là giả tạo, chính phủ ông Bush quay sang tố cáo rằng Saddam Hussein có quan hệ với nhóm Al Qaeda, và Iraq có dính dáng vào biến cố 9/11 ở New York.  Luận điệu này được báo chí Việt ngữ lặp lại hầu như không thiếu chữ nào.  Vấn đề là trong thực tế, chưa ai chứng minh được mối quan hệ này.  Những ai thông thạo tình hình Trung Đông đều không ngạc nhiên về thất bại trong việc tìm cách chứng minh mối liên hệ giữa Hussein và al Qaeda, bởi vì Hussein và Osama bin Laden là hai kẻ thù không đội trời chung với nhau.  Bin Laden là một người Hồi giáo quá khích (cũng giống như Khomeini của Iran), và ông ta ghét cay ghét đắng những lãnh tụ thế tục thuộc Đảng Xã hội như Saddam Hussein.  Tương tự, Hussein từng thẳng tay đàn áp các nhóm Hồi giáo quá khích ở Iraq.  Ngay cả Tổng giám đốc CIA, khi được hỏi về mối quan hệ, trả lời: “It is simply not there”.

 

arrow.gif (848 bytes)  Về trang Nghiên cứu & đối thoại tháng 2-2003

Home  |  Top Page | Về trang mục lục

© Thư từ và bài viết cho mục này, xin gởi attachment về email: giaodiem@giaodiem.net

. ..........