Những nhà
nước chư hầu
Nguyễn Văn
Trong cuộc tấn
công vào Iraq vừa qua, một số nước như Anh, Úc, Ba Lan, v.v... tự nhận họ
là "đồng minh" của Mĩ. Hai
chữ "đồng minh" này làm cho nhiều người ngạc nhiên, bởi vì Mĩ
làm gì có đồng minh; Mĩ chỉ có những người bạn đường phục vụ cho
quyền lợi của Mĩ trong một giai đoạn hay thời điểm nào đó mà thôi. Khi cần tranh thủ dư luận thế giới,
Mĩ sẵn sàng thu nhận bất cứ nước nào có cùng quan điểm với Mĩ là
"đồng minh"; nhưng khi cần tấn công họ để kiểm soát nguồn lợi
kinh tế, Mĩ cũng sẵn sàng quay mặt 180 độ.
Iraq là một nước như thế. Pakistan
có thể sẽ là một trường hợp khác.
Không một đế
quốc nào có đồng minh; đế quốc chỉ có chư hầu. Đây là một sự thật lịch sử mà phần
đông chính phủ các quốc gia trên thế giới hoặc không chịu ghi nhận, hoặc
đã quên. Trong bối cảnh của cuộc
chiến ở Iraq, khi Washington gây áp lực cho các quốc gia mà họ gọi là
"đồng minh" tham gia vào cuộc chiến đóng Iraq, chúng ta thấy lãnh
tụ của những nước này tự nguyện giáng cấp quốc gia của họ xuống
thành những nhà nước vệ tinh của Mĩ.
Người ta phải
hỏi cái gì làm cho bối cảnh chính trị quốc tế thay đổi sau ngày 11
tháng 9 năm 2001. Thực ra, câu trả lời
cũng không khó gì nếu chúng ta chịu khó đọc qua tài liệu của Washington
mới vừa được công bố về "Chiến lược an ninh quốc gia cho
Mĩ" (1). Cấu trúc của địa chính
trị (geopolitics) trên thế giới ngày nay có một cái đỉnh mới: đó là Mĩ,
siêu đế quốc với sức mạnh quân sự chưa từng có trong lịch sử con người
và có khả năng hành động đơn phương, nếu cần, để tự vệ bằng cách
tấn công trước. Tức là, khi một
đe dọa nào đó được phát hiện, Mĩ sẽ hành động chống lại mối đe
dọa đó, trước khi nó trở thành một lực lượng thù địch thực sự.
Học thuyết
"ra tay trước" này tái thiết lập quyền "chiến tranh phòng ngừa"
mà Hitler từng sử dụng năm 1941 chống lại Liên Xô, và Nhật cũng từng dùng
trong cuộc tấn công vào Trân châu cảng cùng năm. Thuyết này còn đơn phương hủy bỏ những
nguyên lí căn bản của luật pháp quốc tế được thiết lập cùng với
Hiệp ước Westphalia năm 1648, mà trong đó có qui định rằng một nhà nước
có chủ quyền không được can thiệp, đặc biệt là can thiệp quân sự,
vào nội bộ của một nhà nước có chủ quyền khác (một nguyên lí đã bị
chà đạp khi NATO can thiệp vào Kosovo năm 1999).
Học thuyết của
Washington cũng làm đảo lộn [hay chấm dứt] trật tự thế giới hình
thành từ sau Thế chiến thứ hai (1945) do Liên hiệp quốc trông nom. Kể từ 1989, khi bức tường Bá Linh sụp
đổ, Washington gánh vác và đóng vai trò lãnh đạo thế giới. Và, họ
hành xử một cách vừa khinh miệt, vừa kiêu ngạo. Chỉ vài năm gần đây thôi, ai dám nói đến
hai chữ "đế quốc" (hay "empire") đều bị xem là "Chống
Mĩ" – "Anti-American", nhưng
ngày nay, chữ “Empire” đã trở thành một ngôn từ thông dụng trong giới
cầm quyền của chính phủ ông Bush.
Trong tài liệu
chiến lược của Washington, Liên hiệp quốc chỉ được đề cập đến một
cách tối thiểu, thậm chí bị loại ra ngoài và được xem là đóng vai
trò phụ tá cho Washington. Điều này cũng
dễ hiểu, bởi vì một đế quốc không tuân theo một luật lệ nào, ngoại
trừ luật lệ mà đế quốc đó tự đặt ra cho nó. Luật của đế quốc là luật phổ quát,
là luật cho toàn thế giới. Và, cái
sứ mệnh đế quốc là bảo đảm mọi người phải tuân thủ theo luật của
nó, bằng vũ lực, nếu cần.
Do không nhận
thức được sự thay đổi quan trọng này, lãnh tụ các quốc gia Âu châu
(như Anh, Ý, Tây Ban Nha, Hòa Lan, Bồ Đào Nha, Đan Mạch, và Thụy Điển) phản
ứng trước những yêu sách của Mĩ giống như những thân phận nô lệ của
những nước chư hầu trước những đòi hỏi của đế quốc. Trong quá trình phục vụ đế quốc, họ dần
dần trở nên mất chủ quyền quốc gia, mất độc lập, và hủy diệt nền
dân chủ. Họ đã vượt qua lằn ranh
phân biệt giữa một đồng minh và một chư hầu; họ đã tự giáng cấp
vai trò của một thành viên để trở thành vai trò của những kẻ bù
nhìn.
Cái mà những
lãnh tụ tay mơ này hi vọng là một vài giọt dầu hỏa sau khi Mĩ bình định
Iraq, bởi vì đằng sau những lí do mà Mĩ tuyên bố cho cuộc chiến (2), ai
cũng biết rằng dầu hỏa là đối tượng chủ yếu của cuộc chiến chống
Iraq. Nếu Bush kiểm soát nguồn dầu hỏa
lớn vào hàng thứ hai trên thế giới ở Iraq, ông ta hoàn toàn có thể làm
thay đổi thị trường dầu hỏa thế giới.
Dưới sự bảo hộ của Mĩ, Iraq sẽ nhanh chóng tăng gấp đôi
sản lượng dầu hỏa, và sẽ làm cho giá dầu giảm xuống, và làm cho nền
kinh tế Mĩ hồi sinh.
Một vài thế
chiến lược khả dĩ khác sẽ được thực hiện sau khi việc kiểm soát dầu
hỏa đã hoàn tất. Thứ nhất,
Washington sẽ đánh bại Tổ chức các nước xuất khẩu dầu hỏa
(Organisation of Petroleum Exporting Countries, hay OPEC), một tổ chức Mĩ cực kì
ghét, vì những thành viên trong tổ chức này như Libya, Iran và Venezuela là
những nước mà Mĩ không ưa.
Thứ hai, Mĩ sẽ
kiểm soát nguồn dầu hỏa ở Iraq và giảm tình trạng lệ thuộc vào nguồn
dầu hỏa ở Saudi Arabia, một nước được xem là thủ đô của giới Hồi
giáo cực đoan. Theo một kế hoạch
chiến lược cho Trung Đông (3), mà Phó tổng thống Dick Cheney tuyên bố,
Saudi Arabia có thể sẽ tan rã, và khu vực có nhiều dầu hỏa thuộc vùng
Hassa (nơi mà dân số chủ yếu là người theo đạo Hồi phái Shi'ite) sẽ
trở thành một nước độc lập do Mĩ bảo hộ.
Trong viễn cảnh
đó, chiến tranh chống Iraq chỉ là một cuộc chiến mở đầu cho một cuộc
chiến chống Iran sau này, mà Tổng thống Bush đã nhận diện là một trong
ba nước thuộc “trục ma quỉ” (axis of evil).
Nguồn dầu hỏa ở Iran sẽ là một chiến lợi phẩm tuyệt vời
cho Mĩ.
Thế giới có
khả năng đối kháng trước hiểm họa này không? Câu trả lời là “Có thể”. Bằng cách nào?
Trước hết, dùng quyền phủ quyết (mà Pháp và Anh có) trong Hội
đồng Bản an Liên hiệp quốc. Sau đó,
ngăn chận những can thiệp quân sự qua NATO mà Washington đang trông đợi để
bành trướng mộng bá quyền của Mĩ, nhưng việc sử dụng NATO còn tùy thuộc
vào phê chuẩn của các chính phủ Âu châu (4).
Trong cả hai trường hợp, các chính phủ thế giới nên hành động
với tư cách là những đối tác, chứ không nên hành xử như những kẻ
chư hầu.
Chú thích:
[1] Toàn bộ văn bản có thể
đọc tại www.whitehouse.gov/nsc/nssall.html.
[2]
Những tố cáo về chế độ Iraq cũng có thể áp dụng cho các
chế độ được xem là đồng minh của Mĩ.
Chẳng hạn như Do Thái đã và đang bất chấp, không tuân theo
các Nghị quyết của Liên hiệp quốc hơn 35 năm; Do Thái có vũ khí sinh học,
vũ khí hóa học, và vũ khí hạt nhân tàn sát hàng loạt; Do Thái đã và
đang đóng chiếm lãnh thổ của ngoại quốc từ 1967. Pakistan duy trì hệ thống vũ khí hạt
nhân, bất chấp mọi Nghị Quyết của Liên hiệp quốc, và yểm trợ các
thế lực khủng bố chống lại Ấn Độ.
[3] Thổ Nhĩ Kì phản đối đường
hướng này, bởi vì Thổ Nhĩ Kì không đồng ý với một nhà nước Kurd
trong vùng.
[4]
Xem William Pfaff, "NATO's Europeans could say no", International
Herald Tribune, 25 Tháng Bảy, 2002.
Về
trang Nghiên cứu & đối thoại tháng 7-2003
Home | Top Page | Về trang mục lục