curley_sw_03.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .
 
  • Hiệp ước nguy hiểm 

Nguyễn Văn

     Ngày 10 tháng 1 năm 2003, Bắc Hàn tuyên bố rút khỏi Hiệp ước hạn chế vũ khí hạt nhân (sẽ gọi ngắn là ?Hiệp ước?, còn gọi là Treaty on the Non-proliferation of Nuclear Weapons).      

       Quyết định này của Bắc Hàn làm xôn xao thế giới Tây phương.  Tòa Bạch Ốc, qua Phát ngôn viên Ari Fleischer, nói "Đây là một vấn đề rất nghiêm trọng", và cảnh cáo Bắc Hàn rằng hành động đó chỉ tự mình làm cô lập với đại thế giới đoàn kết (1).  Cơ quan Nguyên tử  Quốc tế (The International Atomic Energy Agency), một cơ quan có nhiệm vụ thanh tra các địa điểm sản xuất năng lượng hạt nhân trên thế giới, tố cáo Bắc Hàn dùng vũ khí hạt nhân như là một phương tiện để hăm dọa thế giới (2).  Một phóng viên báo chí Tây phương cho rằng Hiệp ước là một văn bản về hòa bình thế giới; do đó, tuyên bố của Bắc Hàn cũng tương đương với một sự tuyên chiến.      

     Điều đáng nói ở đây là trong khi Bắc Hàn bị ?lên lớp?, thì các nước khác cũng có vũ khí hạt nhân, cũng dùng vũ khí để đe dọa thế giới, chẳng bị ai quấy rầy.  Tuy nhiên, Tuyên bố của Bắc Hàn có đoạn viết, "Chúng tôi không có ý định sản xuất vũ khí hạt nhân" (?we have no intention to produce nuclear weapons? (3)).  Nhưng các viên chức trong chính phủ Bush vẫn tìm cách đặt vấn đề và nhắc nhở Bắc Hàn rằng ?Hiệp ước cấm sản xuất vũ khí hạt nhân? (4).

     Ấy thế mà 18 tháng trước, Tổng thống Bush lại chào đón Ấn Độ và Pakistan tái gia nhập đại gia đình thế giới của các nước sản xuất vũ khí hạt nhân.  Sau biến cố tháng 9/11, Tổng thống Bush bãi bỏ lệnh cấm vận Ấn Độ và Pakistan (vì hai nước này có chương trình sản xuất vũ khí hạt nhân) để tranh thủ ủng hộ của hai nước Nam Á này trong chiến dịch chống khủng bố (5).  Hành động của Tòa Bạch Ốc cho người ta thấy Mỹ đặt nặng vào sự hữu dụng của các quốc gia, dù là thù địch hay đồng minh, hơn là các quốc gia đó có vũ khí hạt nhân hay không. 

     Sau tuyên bố của Bắc Hàn, Cơ quan Nguyên tử  Quốc tế lạnh lùng khuyến cáo Bắc Hàn không nên dùng vũ khí hạt nhân để làm phương tiện ngoại giao (6).  Song, vào tháng 3 năm 2002, Tổng thống Bush dọa: ?Tôi xem nguồn vũ khí hạt nhân của chúng tôi là một cách nói cho những người có ý định muốn gây tổn hại cho Mỹ rằng: Đừng làm chuyện đó? (7).  Lúc đó, Cơ quan Nguyên tử Quốc tế trở nên điếc hoặc câm.

     Thế là thế nào?  Tại sao trong khi Bắc Hàn bị cô lập khỏi, thì các quốc gia có bom nguyên tử lại được mời trở lại với, đại gia đình thế giới?  Tại sao đe dọa vũ khí hạt nhân từ Bắc Hàn là một điều không thể chấp nhận được, trong khi mối đe dọa đó đến từ các nước khác thì không sao?  Đây chính là một sự kì thị chính trị mà chính cái Hiệp ước đó gây ra. 

     Có thể nói rằng Hiệp ước hạn chế vũ khí hạt nhân không phải là một hiệp ước vì hòa bình, mà là một hiệp ước phân chia thế giới bằng lằn ranh hạt nhân: các nước có quyền thế muốn có quyền kiểm tra các nước kém quyền thế. 

     Hiệp ước hạn chế vũ khí hạt nhân được kí kết vào nằm 1970, và kể từ đó đến nay, đã có 187 quốc gia đồng thuận và công nhận.  Theo Liên hiệp quốc, Hiệp ước có mục tiêu chính là ngăn ngừa sự bành trướng vũ khí hạt nhân và công nghệ sản xuất vũ khí, đồng thời khuyến khích cộng tác giữa các quốc gia trong việc sử dùng năng lượng hạt nhân vì mục tiêu hòa bình (8).  Đó là một mục tiêu lí tưởng và rất đáng ca ngợi, nhưng trong thực tế nó xảy ra hoàn toàn khác với tinh thần của Hiệp ước. 

     Hiệp ước cấm bất cứ quốc gia nào sản xuất, hay tìm cách sản xuất, vũ khí hạt nhân, ngoại trừ 5 quốc gia đã có vũ khí hạt nhân.  Năm quốc gia này là Mỹ, Anh, Pháp, Nga, và Trung Quốc.  Năm quốc gia này còn là thành viên của Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc, một cơ quan có quyền ra quyết định cuối cùng về chiến tranh.  Điều đáng nói là Hiệp ước cấm  các nước [chịu kí kết] sản xuất vũ khí hạt nhân, nhưng chỉ khuyến khích 5 nước quyền thế trên giải trừ các vũ khí hạt nhân của họ (9-10).  Hai ngôn ngữ khác nhau.

     Trong thực tế, 5 quốc gia thành viên của Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc không những phớt lờ Hiệp ước, làm ngơ trước các nước nhỏ tìm cách sản xuất vũ khí hạt nhân, mà còn giúp đỡ họ về mặt kĩ thuật và để họ có thể chế tạo bom.  Ngay cả các nước như Do Thái và Nam Phi, dù kí kết Hiệp ước, nhưng trong thời Chiến tranh lạnh, đã tiếp nhận kĩ thuật để có thể sản xuất vũ khí hạt nhân mà không cần đến sự giúp đỡ của Mỹ và Anh. 

     Điều 3 của Hiệp ước ủy quyền cho Cơ quan Nguyên tử  Quốc tế thanh tra tất cả các nước chưa có vũ khí hạt nhân (11).  Nói một cách khác, tất cả các nước, chỉ ngoại trừ Mỹ, Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc, là đối tượng cho Cơ quan Nguyên tử  Quốc tế khám xét.  Cơ quan này có quyền hạn rất lớn, họ có thể bất thình lình kiểm tra bất cứ cơ sở nào và bất cứ lúc nào mà không cần báo trước cho quốc gia sở tại, nếu cần thiết (12).

      Tuy nhiên, Điều 10 của Hiệp ước cũng ghi chủ quyền quốc gia của các nước sở tại, và ghi rõ các nước này có quyền quyết định rút ra khỏi Hiệp ước nếu họ cảm thấy chủ quyền quốc gia bị xâm phạm (13).  Ấy thế mà khi Bắc Hàn tuyên bố rút khỏi Hiệp ước vì lí do chủ quyền quốc gia bị xâm phạm, thì thế giới Tây phương lại làm khó họ.  Lớn tiếng nhất trong việc ?làm khó? này có lẽ là Cơ quan Nguyên tử  Quốc tế vì đại diện của Cơ quan này bị đuổi khỏi Bắc Hàn.  (Họ chưa từng bị nước nào đuổi như thế.)

     Mỹ, Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc có lúc cũng hủy diệt một số vũ khí hạt nhân, nhưng sau đó họ lại thay thế bằng các vũ khí khác tiên tiến và nguy hiểm hơn.  Trong thời Chiến tranh lạnh, chính phủ Anh và Mỹ cũng cố gắng tuân thủ theo Hiệp ước (không sản xuất thêm vũ khí hạt nhân), nhưng đến giữa thập niên 1990s, Anh sản xuất tàu ngầm Trident có gắn vũ khí hạt nhân, và trong cùng thời gian, Mỹ sản xuất thêm tên lửa hạt nhân có tầm xa đế 4000 dậm (thay vì 2000 dậm thời trước).

     Hiệp ước hạn chế vũ khí hạt nhân gây chia rẽ giữa các nước được xem là đáng tin cậy và "văn minh" để có quyền có bom, và các nước "mọi rợ" không có quyền có bom, hay có bom thì cần phải chịu kiểm tra.  Nó sản sinh ra một loại giả định đạo đức rằng một số nước có đạo cao đức trọng để sản xuất vũ khí hạt nhân, còn các nước khác thì bị cấm.  Trong quá khứ, nhất vào vào Thế chiến thứ 2, và thời gian mà Mỹ sắp bỏ hai trái bom ở Hiroshima và Nagasaki vào năm 1945, sự phân biệt này hiện diện dưới hình thức kì thị chủng tộc: các nước da màu không thể tin được và không nên có vũ khí hạt nhân.

     Gần đây, lí do để giới hạn hay ngưng sản xuất vũ khí hạt nhân được trình bày bằng một ngôn ngữ đạo đức.  Thế giới được giảng dạy rằng vũ khí tàn sát hàng loạt phải được giữ kín từ các quốc gia phi đạo lí và các tay khủng bố.  Và chính cách nói này cho phép thế giới Tây phương bêu rếu Bắc Hàn là một quốc gia không có quyền để làm chủ vũ khí hạt nhân, nếu không có sự kiểm tra của Cơ quan Nguyên tử Quốc tế.

     Hiệp ước hạn chế vũ khí hạt nhân ban cái đặc quyền sở hữu vũ khí hạt nhân cho các nước hùng mạnh (và đồng minh của họ), trong khi bắt các nước thuộc Thế giới thứ ba phải khuất phục để cho các nước Tây phương kiểm soát và xâm phạm vào chủ quyền quốc gia và bất chấp đến dân chủ bình đẳng.  Cái Hiệp ước này tạo ra một thế giới mà trong đó một số nhỏ quốc gia sai khiến các quốc gia còn lại những gì mà họ nên hay không nên có.  Với cách phân chia như thế, Hiệp ước hạn chế vũ khí hạt nhân trong thực tế là một mối đe dọa cho hòa bình thế giới hơn là những hãng xưởng rỉ sét ở Bắc Hàn.

Chú thích:

(1) "White House: North Korea?s withdrawal from NPT of serious concern", US Department of State, White House, 10 January 2003. 

(2) "IAEA chief denounces North Korea's 'nuclear blackmail", ABC Online, 17 January 2003.

(3) "Text of North Korea?s Statement on NPT Withdrawal", Monterey Institute of International Affairs, 10 January 2003.

(4) 'North Korea and brinkmanship', Syndey Morning Herald, 13 January 2003.

(5) "Bush lifts sanctions on India and Pakistan", Associated Press, 23 September 2001.

(6) IAEA chief denounces North Korea's 'nuclear blackmail', ABC Online, 17 January 2003.

(7) "Bush: Democrats standing in the way of justics". Fox News, 14 March 2002.

(8) "Treaty on the NPT", section of the United Nations website.

(9) See the "Treaty on the Non-Proliferation of Nuclear Weapons".

(10) See the "Treaty on the Non-Proliferation of Nuclear Weapons".

(11) See the "Treaty on the Non-Proliferation of Nuclear Weapons".

(12) See "Factual report on the implementation by Iraq of its obligations", Global Security, March 2002.

(13) See the "Treaty on the Non-Proliferation of Nuclear Weapons".

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

©  Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: hopthu@giaodiem.net

. ..........