curley_sw_03.gif (1967 bytes)   Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .


Tiêu chuẩn kép (*)

nv-busblair .JPG (22239 bytes)   Trong luật chơi của ‘tiêu chuẩn nước đôi’ (double standard) cần phải có hai mặt, như Bush và Blair... để có lúc anh ngã thì em nâng!   Caption by GĐ       

            Tòa bạch ốc và Ngũ giác đài vừa tình cờ khám phá công dụng của công pháp quốc tế.   Washington có thể khởi động một cuộc chiến phi pháp chống lại một nhà nước có chủ quyền; có thể tìm cách hủy diệt tất cả những hiệp ước nào có khả năng làm hạn chế nỗ lực cai trị thế giới của Mĩ, nhưng khi năm người lính Mĩ bị bắt và điệu trước ống kính của đài truyền hình al Jazeera hôm Chủ Nhật tuần qua, Tổng thống George W. Bush và Bộ trưởng quốc phòng Donald Rumsfeld lập tức phàn nàn một cách giận dữ rằng hành động của Chính phủ Saddam Hussein là vi phạm Qui ước Geneva (Geneva Convention).

            Dĩ nhiên ông Rumsfeld nói đúng.  Điều 13 trong Qui ước Geneva đề cập đến việc đối xử với tù nhân chiến tranh viết rằng các tù nhân “phải được bảo vệ bất cứ lúc nào … để tránh những sỉ nhục, xúc phạm, và tò mò của công chúng.”  Qui ước này, được cả hai chính phủ Mĩ và Iraq thông qua và kí tên vào vào năm 1956, còn viết thêm rằng nhà nước nào vi phạm điều khoản này có thể bị truy tố ra tòa án quốc tế với tội phạm chiến tranh.

            Và đúng như thế, Iraq đã vi phạm Qui ước Geneva.  Nhưng còn Mĩ thì sao?  Ông Bush và Rumsfeld đáng lẽ nên nhìn lại sau lưng mình trước khi phàn nàn.  Thật vậy, là người đứng đầu bộ máy chiến tranh Mĩ, một bộ máy đã nhiều lần gây ra biết bao tan tóc, hàng loạt tội phạm đủ để, nếu ông phải ra trước vành móng ngựa, ông có thể phải tiêu ra cả đời còn lại sau tấm cửa sắt của nhà tù.

            Trại tù ở Vịnh Guantanamo (Cuba) của ông Rumsfeld, nơi mà 641 người đang bị giam giữ, vi phạm ít nhất là 15 điều khoản trong Qui ước Geneva.   Chính phủ Mĩ vi phạm mục một trong Điều khoản 13, vì khi đến trại tù nhân bị điệu ra trước ống kính y chang như Iraq đã làm vào tuần qua đối với tù nhân Mĩ.  Các tù nhân ở Guantanamo còn bị bắt quì xuống đất với hai tay bị trói sau lưng, bị bịt mắt, và bịt cả hai lỗ tai.  Chính phủ Mĩ vi phạm Điều khoản 18, vì tù nhân bị cởi truồng, và không cho họ có quần áo riêng.  Sau đó, tù nhân bị biệt giam trong phòng tối (vi phạm Điều 22), nơi mà họ bị tước đi các phương tiện vệ sinh cá nhân (vi phạm Điều khoản 26), căng-tin để ăn uống (vi phạm Điều 28), thiếu nơi thờ phụng (vi phạm Điều 34), không có cơ hội tập thể dục (vi phạm Điều 38), không có cơ hội đọc Qui ước Geneva (vi phạm Điều 41), bị tước quyền viết thư về nhà (vi phạm Điều 70 và 71), và không được tiếp tế thức ăn từ ngoài (vi phạm Điều 72).

            Những tù nhân ở Guantanamo vẫn còn bị giam dù cuộc chiến đã chấm dứt (vi phạm Điều 118), vì chính phủ Mĩ cho rằng họ chưa thẩm vấn xong, và thẩm vấn có thể tiết lộ nhiều chi tiết quan trọng về hoạt động của nhóm al Qaeda.  Điều khoản 17 của Qui ước Geneva viết rằng tù nhân có quyền chỉ cung cấp tên họ, cấp bậc trong quân đội, ngày tháng năm sinh, và cấm không cho phép người giam giữa ép buộc hay làm áp lực để lấy lời khai của tù nhân.  Nhưng trong thực tế, để khai thác và bẻ gãy ý chí của các tù nhân Guantanamo, chính phủ Mĩ dùng nhiều thủ thuật được gọi là “torture lite” (tra tấn nhẹ) trên tù nhân, như làm cho tù nhân thức giấc bất ngờ (không cho ngủ yên giấc) và chiếu điện sáng một cách liên tục.  Do đó, không ai ngạc nhiên khi biết có nhiều tù nhân tìm cách tự tử bằng cách đập đầu vào tường hay cắt mạch máu bằng những thìa và nĩa plastic.

            Chính phủ Mĩ cho rằng những tù nhân ở Guantanamo không phải là “tù nhân chiến tranh” mà chỉ là những “người tham chiến phi pháp” (“unlawful combatants”), và do đó Mĩ không có nghĩa vụ phải tuân hành Qui ước Geneva đối với những người này.  Nhưng nếu điều này đúng thì Chính phủ Iraq cũng có đầy đủ lí do để cho rằng những tù binh Mĩ bị bắt chỉ là những “người tham chiến phi pháp”, bởi vì lính Mĩ đang xâm lăng Iraq một cách bất hợp pháp.  Tuy nhiên, cái “định nghĩa mới” này vi phạm Điều 4 của Qui ước Geneva.  Điều khoản này phát biểu rằng những người bị giam giữ vì tình nghi là thành viên của một tổ chức dân quân (như Taliban chẳng hạn) hay một tổ chức tình nguyện (như al Qaeda) phải được đối xử như là những tù nhân chiến tranh.

            Nếu tư cách pháp lí của người bị giam còn trong vòng nghi vấn, thì họ vẫn được bảo vệ bằng Điều 5 của Qui ước cho đến khi tình trạng và thân thế của họ đã được xác nhận bằng một hội đồng xét xử.  Nhưng khi các luật sư đại diện cho 16 người bị giam giữ trong trại Guantanamo yêu cầu một hội đồng như thế, Tòa án Phúc thẩm của Mĩ bác bỏ, vì họ cho rằng Guantanamo không thuộc về chủ quyền của nước Mĩ, và do đó những tù nhân này không hưởng qui chế của luật pháp Mĩ.  Nhiều tù nhân trong trại Guantanamo là thầy giáo, kĩ sư, tình nguyện viên, cứu trợ viên ở A Phú Hãn.  Nếu Chính phủ Mĩ đưa họ ra tòa để xử hay phóng thích họ, thì quả là một sự xấu hổ vì thiếu bằng chứng để giam giữ và buộc tội.

            Những ai còn tin rằng tù nhân ở trại Guantanamo này không mấy may mắn lắm sẽ đổi ý nếu họ biết được những gì xảy ra cho các tù nhân khác cũng bị Mĩ và đồng minh bắt trong cuộc chiến ở A Phú Hãn.  Ngày 21 tháng 11 năm 2001, ở Konduz khoảng 8000 lính Taliban và dân Pashtun ra đầu hàng với Liên quân Bắc phương (Northern Alliance) một đồng minh của Mĩ dưới quyền chỉ huy của tướng Abdul Rashid Dostum.  Rất nhiều tù nhân không bao giờ trở về quê họ, vì bị thảm sát.  Một kí giả người Anh, Jamie Doran, bỏ ra nhiều tháng trời để điều tra và đúc kết thành một phim thời sự có tên là “Afghan Massacre – Convoy of Death” (Cuộc tàn sát A Phú Hãn), mà trong đó ông cho biết hàng ngàn tù nhân được kéo lên xe vận tải, đóng kính mít bốn bên, rồi để ngoài trời dưới cái nắng hàng 40 độ C trong nhiều ngày liền.  Họ bị chết vì đói khát và ngạt. 

            Lực lượng đặc nhiệm của Mĩ chứng kiến tất cả những cuộc tàn sát này, và thậm chí còn ra chỉ thị cho lính của Dostum tiêu diệt tù nhân trước khi bị ống kính vệ tinh thu được.  Ông Doran phỏng vấn lính của Dostum và được biết có khi chính lính Mĩ tự tay giết chết tù nhân bằng cách bẻ cổ, và bắn súng.  Lính của Dostum nói lính Mĩ muốn làm gì thì làm, chẳng ai ngăn cản họ cả. 

            Nhiều người còn sống sót thì được vận chuyển đến một địa điểm sa mạc có tên là Dasht-i-Leili.  Trước mắt của khoảng 30 đến 40 lính đặc nhiệm Mĩ, những tù nhân này bị đổ vứt xuống rãnh như đổ rác.  Bất cứ ai còn sống sót và chuyển động đều bị bắn chết.  Tờ báo Đức, Die Zeit, điều tra vấn đề này và kết luận “Không ai còn nghi ngờ gì cả, lính Mĩ có tham dự vào những cuộc tàn sát này, và cuộc tàn sát có thể thực hiện theo chỉ thị của cấp trên”.  Sau này, các cơ quan nhân quyền đi tận hiện trường và phát hiện nhiều cơ thể con người, phù hợp với những điều tra của Doran và nhân chứng.

            Không cần phải chỉ ra là những hành động dã man này đi ngược lại và vi phạm Qui ước Geneva.  Điều mỉa mai là Ngũ giác đài tìm mọi cách ngăn chận không cho phim của Doran chiếu ở Mĩ (nhưng phim này được chiếu trên khắp thế giới) trong khi đó Dostum ra sức truy lùng và thủ tiêu các nhân chứng.

            Thành ra, không có gì khó khăn để hiểu tại sao Chính phủ Mĩ tìm mọi cách để ngăn chận việc thành lập Tòa án Hình sự Quốc tế (International Criminal Court) để bảo đảm quân lính của họ không phải ra trước vành móng ngựa quốc tế.  Năm người lính Mĩ bị điệu ra trước ống kính của truyền hình al Jazeera và Iraq nên cảm thấy mình còn may mắn, vì họ không phải là tù nhân của người Mĩ đang đem ánh sáng văn minh cho nhân loại, mà là tù binh của người Iraq “man rợ và vô nhân đạo.”

(*) Nguyễn Văn lược dịch từ “One rule for them … Does the US support the Geneva Convention or does it not?”  của George Mombiot, The Guardian, ngày 25 Tháng Ba, năm 2003.

Ghi thêm của người dịch:  Seymour Hersh, một kí giả độc lập người Mĩ thường viết cho tờ New Yorker, còn tiết lộ nhiều thông tin quan trọng liên quan đến những tội phạm của quân đội Mĩ.  Trong một bài báo dài trên tờ New Yorker vào tháng 5 năm 2000, Hersh cho biết tháng 3 năm 1991, tức chỉ hai ngày sau khi kết thúc cuộc chiến vùng Vịnh lần đầu, một nhóm lính Mĩ, dưới quyền chỉ huy của tướng Barry McCaffrey (nay đã về hưu với quân hàm đại tướng), đã tàn sát gần cả sư đoàn lính Iraq ở ngoại ô thành phố Basra.  Ngoài ra, còn có tường thuật về tù binh Iraq bị xử tử bằng súng.   Cuộc tàn sát này trở thành một xì-căng-đan trong Ngũ giác đài, nhưng không ai theo đuổi và đưa ra công lí hành động này của lính Mĩ. 

Cố nhiên, Hersh còn là kí giả đã tường thuật đầy đủe về cuộc thảm sát ở Mỹ Lai 35 năm trước đây.  Ngày 16 Tháng 3 Năm 1968, một nhóm lính Mĩ vào làng Mỹ Lai và tàn sát hơn 400 người dân làng, kể cả trẻ em, phụ nữ, và người già.  Chẳng có tòa án quốc tế nào xử vụ này.

Ấy thế mà Tòa bạch ốc và Ngũ giác đài lại nói đến chuyện công lí quốc tế.  Thật là một thái độ “double standard”!

 

arrow.gif (848 bytes)  Về trang Nghiên cứu & đối thoại tháng 4-2003

Home  |  Top Page | Về trang mục lục

© Thư từ và bài viết cho mục này, xin gởi attachment về email: giaodiem@giaodiem.net

. ..........