curley_sw_03.gif (1967 bytes)   Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .


Quá trình chuyển tiếp của đế quốc (*)

 

      Khi Tướng Jay Garner đặt chân đến Baghdad, thành phố bị bom tơi tả và hôi của đầy đường, hoang sơ, ông tuyên bố: "Hôm nay là một ngày vĩ đại" ("This is a great day".)  Làm như sự có mặt của ông giải quyết hết một nghìn lẻ một vấn đề rối beng làm khổ sở cái trung tâm văn minh của nhân loại: vùng Lưỡng Hà.  Điều lạ lùng đáng nói ở đây không phải là lời phát biểu tục tĩu của ông, nhưng là sự lãnh đạm đối với người mà giới truyền thông mô tả là vị thống đốc đầu tiên của Mĩ tại Iraq.  Làm như là không có luật pháp quốc tế.  Làm như là thế giới đã quay trở lại cái thời "chính phủ ủy nhiệm" (1).  Làm như là việc tiến cử một ông tướng về hưu trong quân đội Mĩ để cai trị một nhà nước có chủ quyền là một chuyện bình thường đối với Washington.

      Quyết định tiến cử một cựu sĩ quan cao cấp trong quân đội để điều khiển một quốc gia bị đánh bại mà không cần tham vấn đến cái-gọi-là “liên minh” bóng ma gợi cho chúng ta một thói quen của các chính quyền thuộc địa:  Clive ở Ấn Độ, Kitchener ở Sudan và Lyautey ở Morocco.  

      Mĩ cho rằng trường hợp Iraq khác với các trường hợp trên, và chế độ chuyển tiếp ở Iraq nên được so sánh với chế độ của Tướng Douglas MacArthur ở Nhật sau 1945.  Nhưng nếu quả vậy thì điều này càng gây hoang mang cho nhiều người.  Mĩ phải cần đến hai quả bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki vào năm 1945 để tiến cử một tướng lãnh quản lí một nhà nước bị đánh bại, ngay lúc mà Liên hiệp quốc chưa hoạt động.  Còn ngày nay, ít ra là trên lí thuyết, Liên hiệp quốc vẫn có mặt đấy và vẫn đang hoạt động (2).  Và sự xâm chiếm Iraq bằng quân sự chưa phải là hồi kết của một cuộc thế chiến (Tổng thống Bush và tùy tùng xem biến cố 11/9/2001 là tương đương với một thế chiến).

      Tướng Garner cho biết ông sẽ không ở lại Iraq vĩnh viễn.  “Chúng tôi sẽ ở đây đến khi nào cần thiết.  Chúng tôi sẽ rời Iraq một cách nhanh chóng”. (3)   Nhưng lịch sử dạy cho chúng ta rằng cái cụm từ “đến khi nào cần thiết” (“as long as it takes”) có thể là một thời gian dài.  Khi Mĩ xâm chiếm Phi Luật Tân và Puerto Rico vào năm 1898 dưới cái cớ của chủ nghĩa vị tha là “giải phóng” họ và dân tộc họ khỏi sự đô hộ của Tây Ban Nha, Mĩ lập tức thay đổi guồng máy chính phủ cũ.  Phi Luật Tân, sau khi đè bẹp một phong trào kháng chiến địa phương, Mĩ ở lại đó mãi đến năm 1946. Ngay cả sau khi "rời" Phi Luật Tân, Mĩ vẫn tiếp tục can thiệp vào nội bộ của chính quyền Phi.  Trong mỗi kì bầu cử Mĩ chỉ ủng hộ những ứng cử viên mà họ ưa thích, kể cả nhà độc tài Ferdinand Marcos, cầm quyền từ năm 1965 đến 1986.  Và Mĩ vẫn còn chiếm đóng Puerto Rico.  Ngay cả ở Nhật và Đức, sau 58 năm kết thúc thế chiến lần thứ hai, Mĩ vẫn duy trì một đội quân đội rất qui mô.

      Do đó, khi Tướng Garner cùng đoàn tùy tùng 450 người của ông đến Baghdad, làm sao mà chúng ta có thể không nghĩ đến một nước Mĩ, trong giai đoạn của chủ nghĩa đế quốc kiểu mới, đang đóng cái vai trò mà Nhà văn Rudyard Kipling thường gọi là “the white man's burden” – gánh nặng của người da trắng.  Nó còn gợi lại cho chúng cái quan điểm đã ăn sâu vào tủy xương của các thế lực thực dân Tây phương thời đầu thế kỉ 20: sứ mạng thiêng liêng của họ là đem ánh sáng văn minh đến cho những dân tộc được xem là lạc hậu, không bắt kịp cuộc sống trong thế giới hiện đại.

      Chủ nghĩa đế quốc mới của Mĩ còn làm sống lại cái quan niệm thời La Mã về một sự thống trị đạo đức, dựa vào lập trường cho rằng tự do thương mại, toàn cầu hóa, và truyền bá văn minh Tây phương là nhằm đem lại lợi ích cho thế giới.  Nhưng sự thống trị về quân sự và truyền thông trên các dân tộc được xem là chậm tiến cũng được duy trì một cách chặt chẽ (5).

      Sau khi lật đổ Saddam Hussein, chính phủ Mĩ hứa rằng họ sẽ thành lập một thể chế dân chủ kiểu mẫu cho Trung Đông ở Iraq, dưới sự bảo trợ của đế quốc mới, và qua chế độ dân chủ kiểu mẫu này, các chế độ độc đoán khác (kể cả các chế độ ở Saudi Arabia và Ai Cập) sẽ dần dần ngã quị (6).

      Một hứa hẹn như thế có đáng tin cậy không?  Rõ ràng là không.  Bộ trưởng quốc phòng, Donald Rumsfeld, vội vã đính chính rằng ngay cả nếu phần đông người dân Iraq muốn có một chế độ Hồi giáo ở Iraq, Mĩ cũng sẽ không chấp nhận: “Điều đó sẽ không xảy ra” (7).  Đây là một qui luật rất xưa của lịch sử: các đế quốc áp đặt luật của họ cho đối phương bị đánh bại.  Nhưng còn có một qui luật khác: những kẻ nào sống theo đế quốc sẽ chết theo đế quốc.

 

Chú thích:

(*)  Nguyễn Văn lược dịch từ “Transition to an empire,” của Ignacio Ramonet, đăng trên tờ Le Monde Diplomatique, số tháng 4 năm 2003.

(1)  Ý tưởng “chế độ ủy nhiệm” (mandate regime) là do sáng kiến của Tổng thống Woodrow Wilson sau khi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-18) vừa chấm dứt.  Wilson cho rằng chế độ bảo hộ (protectorate) quá thuộc địa, nên mới thay đổi bằng chế độ ủy nhiệm.

(2) Ngay cả những thành phần diều hâu nhất như Richard Perle cũng tiên đoán một sự sụp đổ. Xem Le Figaro, 11 Tháng Tư 2003.

(3) The Guardian, London, 21 Tháng Tư 2003.

(4) Xem Yves Lacoste, Dictionnaire de géopolitique, Flammarion, Paris, 1993.

(5)  Pháp và Đức phản đối cuộc chiến chống Iraq làm cho cuộc chiến này không nằm trong cái thuyết "xung đột văn minh " dưới mắt người Ả Rập.

(6) International Herald Tribune, Paris, 8 Tháng Tư 2003.

(7) International Herald Tribune, Paris, 26 Tháng Tư 2003.

 

Mark_03.gif (833 bytes) Về trang Nghiên cứu & đối thoại tháng 7-2003

Home  |  Top Page | Về trang mục lục

© Thư từ và bài viết cho mục này, xin gởi attachment về email: giaodiem@giaodiem.net

. ..........