curley_sw_03.gif (1967 bytes)   Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .


    Tuyên truyền: Nạn nhân đầu tiên của chiến tranh

  • Nguyễn Văn       

            Bản tường trình của ông Colin Powell trước Liên hiệp quốc tuần trước đã được những người ủng hộ chiến tranh (như chính phủ ông Bush và Tony Blair bên Anh) xem là những bằng chứng hùng hồn cho thấy Iraq không tuân thủ theo nghị quyết 1441 của Liên hiệp quốc, và họ kêu gọi – một lần nữa – chiến tranh chống Iraq.  Nhưng đối với những người còn nghi ngờ động cơ chiến tranh của nhóm ông Bush, bản tường trình của ông Powell không có gì thuyết phục cả.  Pháp, Đức, Trung Quốc, và Nga đều cho rằng Powell chưa trình bày bằng chứng nào có tính thuyết phục cao để gây chiến; những nước này kêu gọi tăng cường thanh tra vũ khí và mở rộng tầm hoạt động của các thanh tra trong Iraq.  Đối với những người dân thường, hay thờ ơ với tình hình thời sự, họ chẳng biết tin vào ai.

     Francis Bacon, một nhà khoa học người Anh rất nổi tiếng trong thế kỉ 17 từng gọi những giả thiết dựa vào cảm tính, mơ tưởng, tình cảm cá nhân là “wishful science”.   Bacon đề nghị phân biệt hai loại khoa học: Khoa học nghiêm túc dựa vào thực tiễn và bằng chứng càng ngày càng thuyết phục theo thời gian; khoa học mơ tưởng chỉ nở rộ khi tác giả của nó đang còn nổi tiếng, nhưng sẽ chìm vào quên lãng khi bằng chứng mới chứng minh nó sai.  Một nhà hùng biện có thể lừa dối được nhiều người trong một thời điểm, hay lừa được một người trong một thời gian dài, nhưng không thể nào lừa nhiều người trong một thời gian dài. 

     Có thể nói những bằng chứng của Powell là thuộc vào loại mơ tưởng này, vì chúng hình như là sản phẩm của cảm tính và tất nhiên là chủ quan.  Chúng đã thuyết phục được nhiều người trong một thời điểm, nhưng không thể thuyết phục nhiều người trong một thời gian dài.  Thật vậy, chỉ sau một tuần ông Powell trình bảy ở Liên hiệp quốc, chúng ta đã có nhiều bằng chứng mới phản biện lại những gì mà ông trình bày, và qua những bằng chứng mới này, chúng ta có thể nói những bằng của ông Powell là thiếu cơ sở và sai.

     Còn nhớ tấm không ảnh được chụp bằng vệ tinh nhân tạo, mà ông Powell mô tả một cách tự tin rằng đó là một hãng sản xuất vũ khí hóa học của Iraq?  Ngay sau khi ông Powell tường trình, kí giả Luke Harding thuộc tờ The Independent tại Iraq đã mướn xe đến tận nơi để biết hư thực ra sao.  Trong một bài báo trên tờ The Independent, số ra ngày 9/2/2003, ông viết: “It emerged that the terrorist factory was nothing of the kind – more a dilapidated collection of concrete outbuildings at the foot of a grassy sloping hill”, và “There is no sign of chemical weapons anywhere – only the smell of paraffin and vegetable ghee used for cooking” (tạm dịch: “Hóa ra cái xưởng khủng bố chẳng phải là xưởng khủng bố gì cả, mà chỉ là một nhóm bin-đin xiêu vẹo ở dưới chân đồi đầy cỏ”, và “Không có dấu hiệu gì về vũ khí hóa học ở bất cứ đâu – chỉ là mùi nến và dầu nấu ăn”.) 

     Những bin-đin này là của nhóm Hồi giáo quá khích có tên là Ansar al-Islam, và nằm ở miền Bắc Iraq, trong địa phận do người Kurd kiểm soát.  Địa phận tự trị này được lập ra dưới sự bảo trợ của Mĩ và Anh sau trận chiến Vùng Vịnh vào đầu thập niên 1990s để người Kurd có một quê hương.   Nhóm Ansar al-Islam chỉ là một nhóm du kích quân được vận động dưới ngọn cờ “Thánh chiến”  chống cả Hussein và chính phủ tự trị người Kurd.   Nhóm này rất nhỏ, là kẻ thù của Hussein, và không thể nào gây đe dọa cho nền an ninh của Mĩ hay Anh.  Do đó, bằng chứng của ông Powell không những sai, mà còn vô lí.

     Còn nhớ cuốn băng thu âm cuộc điện đàm của một người mà ông Powell cho là “Captain Ibrahim” thuộc quân đội Iraq, mà trong đó ông sĩ quan này ra lệnh cho thuộc cấp dấu vũ khí không cho đoàn thanh tra thấy.  Nhưng với những phiên dịch rất khôi hài như “May God preserve you”, “Consider it done sir”, hay rất “Mĩ” như “Okay buddy” làm cho người ta nghi ngờ sự xác thực của cuốn băng. Càng nghi ngờ hơn là cuốn băng cho thấy người nói chuyện hình như biết có người thu lén và cố tình nói những câu chữ rất hợp với những gì Mĩ muốn nghe. 

     Còn nhớ những lời khen ngợi của Powell dành cho cái gọi là hồ sơ Iraq – Iraq Dossier – của chính phủ Anh?  Thực vậy, trong bản tường trình, ông Powell dùng một phần lớn các dữ kiện từ hồ sơ Iraq của Anh.  Nhưng như tờ The Observer (số ra ngày 9/2/2003) tiết lộ cho biết phần lớn hồ sơ đó thực chất là đạo văn từ một luận án tiến sĩ năm của một sinh viên ở California, và luận án này đã bảo vệ từ 12 năm trước đây.  Một điều khá khôi hài là người đạo văn, Alastair Campbell (một chuyên viên về “public relations” của chính phủ Anh), ăn cắp luôn cả những lỗi văn phạm và chính tả của bản luận án mà không buồn sửa lại!  Nói tóm lại, cái cơ sở cho “bằng chứng” của ông Powell, không những chỉ là đạo văn, mà còn là một tài liệu đã 12 năm lạc hậu.

     Còn nhớ tuyên bố hùng hồn của Powell rằng Iraq có đến 18 xe cam nhông và đó chính là những phòng thí nghiệm hóa học lưu động?  Ông Hans Blix, trưởng phái đoàn thanh tra vũ khí thuộc Liên hiệp quốc, đã trả lời một cách gọn gàng (nguyên văn): “There is no mobile lab” – “Không có phòng thí nghiệm lưu động”.  Chúng ta tin ai?   Ông Blix và đồng nghiệp ông đang làm việc tại hiện trường ở Iraq hay ông Powell đang làm việc ở Washington?

     Nói tóm lại, bản tường trình của ông Powell chẳng có gì giá trị bằng chứng, vì nó là tổng hợp của những sự giả tạo, mơ hồ, nhập nhằng, và đạo văn.  Vấn đề chính không phải là đạo văn, mà là sự tín nhiệm của quần chúng.   Trong khi ông Bush, Blair và đồng nghiệp của họ không ngớt kêu gọi chiến tranh, và trưng bày những “bằng chứng” để làm cơ sở cho lập luận của họ, thì chính những lập luận đó lại dựa vào những dữ kiện giả tạo và mơ tưởng.  Làm sao quần chúng có thể tin những gì họ đã nói, đang nói, và sắp nói?

     Chúng ta cần phải nhớ lại một sự kiện truyền thông xảy ra cuộc chiến vùng Vịnh vào đầu thập niên 1990s.  Đó là vào mùa Thu năm 1990, sau khi Iraq xâm lấn Kuwait, Quốc hội Mỹ ở Washington có một cuộc điều trần của một “nhân chứng” về sự tàn bạo của quân đội Iraq.  Theo nhân chứng này, được giới thiệu là một nữ ý tá trong một nhà thương ở Kuwait, khi quân đội Iraq tiến vào Kuwait, họ vào nhà thương, mang trẻ sơ sinh và vất vào lò thiêu sống.  Điều trần của nhân chứng này làm cho các chính trị gia Mỹ động lòng, và họ cho đây là một bằng chứng hùng hồn về sự tàn bạo của chính quyền Hussein, và qua giới truyền thông, câu chuyện trở thành một chứng cớ đầy thuyết phục để tấn công Iraq và giải phóng Kuwait.  Thế nhưng sau đó vài tháng, chúng ta được biết rằng toàn bộ câu chuyện chỉ là một sự bịa đặt.  Câu chuyện được một công ty chuyên về vận động quần chúng, Hill và Kowlton, dàn dựng rất công phu.  “Nhân chứng” chẳng phải là y tá mà là con gái của ông Đại sứ Kuwait tại Mỹ.   Chính phủ Kuwait là một khách hàng lâiu đời của công ty Hill và Knowlton.  Tuy câu chuyện này hoàn toàn bịa đặt nhưng hiệu quả của nó rất lớn, và đã huy động được quần chúng Mỹ trong một thời gian mà chính phủ Mỹ cần.

      Người ta thường nói cái thương vong đầu tiên trong một cuộc chiến là tuyên truyền.  Cuộc chiến chống Iraq chưa khởi sự, nhưng đã có một nạn nhân: tuyên truyền.  Mục đích của tuyên truyền hiện nay là gì?  Trả lời: họ (chính phủ Mĩ và Anh) tìm cách để hợp pháp hóa chiến tranh chống Iraq.  Chúng ta phải nhận thức được cái mục đích này của họ để không phải trở thành những nạn nhân của tuyên truyền.

 

 

Home  |  Top Page | Về trang mục lục

© Thư từ và bài viết cho mục này, xin gởi attachment về email: giaodiem@giaodiem.net

. ..........