curley_sw_03.gif (1967 bytes)  Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .

nv-jusecret-RJMatson.JPG (22634 bytes)Cuộc chiến bí mật Mỹ chống Iraq đang diễn ra (*)

   Trong khi đại đa số giới truyền thông Tây phương mô tả Tổng thống George W. Bush đang do dự về một cuộc chiến sắp tới ở Trung Đông, thì trong thực tế Mỹ và Anh đã và đang tấn công Iraq.  Chính phủ của Thủ tướng Tony Blair nói rằng họ chưa quyết định gì cả thì Lực lượng Không quân Hoàng gia Anh và chiến đấu cơ thuộc không lực Mỹ đã bí mật dội bom xuống Iraq, để chuẩn bị cho một cuộc chiến mới lớn hơn và bao rộng hơn.

 

Lượng bom mà Mỹ và Anh thả xuống Iraq tăng gấp 300 phần trăm so với vài tháng trước đây.  Trong thời gian tính từ tháng 3 cho đến tháng 11 năm nay (2002), theo thông báo của Bộ Quốc Phòng Anh trong một trả lời cho Quốc hội, thì không lực Anh đã dội 124 tấn bom xuống Iraq.

 

Từ tháng 8 đến tháng 12 năm nay, không quân Mỹ và Anh đã hoàn hành 62 phi vụ tấn công Iraq bằng F-16 và Tornadoes.  Nói một cách khác, cứ mỗi 2 ngày có một cuộc dội bom xuống các mục tiêu ở Iraq.  Trong các thông cáo chính thức, những cuộc dội bom này nhắm vào mục tiêu quân sự của Iraq, nhưng trong thực tế bom lại rơi xuống các vùng đông dân cư và chết chóc là điều không thể tránh khỏi.

 

Theo Hiến chương Liên hiệp quốc và các Qui luật quốc tế về chiến tranh, những cuộc tấn công của không quân Anh và Mỹ có thể xem là những hành động cướp (acts of piracy).  Về mặt nguyên lý, các cuộc tấn công của Anh và Mỹ cũng chẳng khác gì việc Đức dùng Luftwaffe dội bom xuống Tây Ban Nha thời thập niên 1930s để làm tiền đề cho một cuộc xâm lăng vào Âu châu. 

 

Cuộc dội bom là một cuộc chiến dịch bí mật, ít khi nào trở thành những bản tin trong báo chí Tây phương.  Kể từ 1991, và đặc biệt là trong vòng 4 năm trở lại đây, cuộc tấn công bằng bom xuống Iraq không ngừng nghỉ và đã trở thành một chiến dịch lâu dài nhất do Anh – Mỹ cầm đầu.

 

Chính phủ Mỹ và Anh cho rằng họ được Liên hiệp quốc ủy nhiệm để kiểm soát những vùng “cấm bay” (“no-fly zones”) mà họ tuyên bố từ khi kết thúc cuộc chiến vùng Vịnh vào đầu thập niên 90s.  Họ cho rằng đó là những “vùng” được qui định trong Nghị quyết 688 của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc. 

 

Nhưng đây là một sự lừa dối.  Trong Nghị quyết 688, không có một đoạn văn nào đề cập đến những vùng cấm bay.  Để chắc chắn về vấn đề này, tôi đã hỏi Tiến sĩ Boutros Boutros-Ghali, nguyên Tổng thư ký Liên Hiệp quốc từ năm 1992 khi Nghị quyết 688 được thông qua.  Ông nói: “Vấn đề vùng cấm bay không hề được nêu lên và do đó không ai bàn thảo về vấn đế này: không một chữ nào cả.” Ông nói tiếp “Họ [Mỹ và Anh] không có ủy nhiệm nào của Liên hiệp quốc để dùng chiến đấu cơ tấn công Iraq.”

 

Năm 1999, Tony Blair phát biểu rằng những vùng cấm bay tạo điều kiện cho Mỹ và Anh tiến hành những công tác nhân đạo nhằm bảo vệ người Kurds ở miền Bắc và người thiểu số Ả Rập Marsh ở miền Nam Iraq.  Nhưng trong thực tế, chiến đấu cơ của Anh và Mỹ tạo điều kiện cho Thổ Nhĩ Kỳ xâm lấn vào miền Bắc Iraq để tiêu diệt người Kurds, một nhóm dân mà Thổ Nhĩ Kỳ cho là khủng bố.

 

Thổ Nhĩ Kỳ là một đồng minh then chốt của Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố và trong “trật tự thế giới mới”.   Thổ Nhĩ Kỳ, một thành viên của NATO, nằm giữa những giếng dầu của Trung Đông và Trung Á, và từng nhận hàng tỷ đô la viện trợ quân sự từ Mỹ.  Thổ Nhĩ Kỳ cũng là căn cứ cho không quân Mỹ và Anh. 

 

Những cuộc nổi dậy của người Kurds ở Thổ Nhĩ Kỳ được Hoa Thịnh Đốn xem là một mối đe dọa đến tình trạng ổn định và nền “dân chủ” của Thổ Nhĩ Kỳ, một nước được thế giới đánh giá là có “thành tích” nhân quyền tồi đến nổi EU (Liên hiệp Âu châu) từ chối đơn xin gia nhập của Thổ Nhĩ Kỳ.   Hàng trăm ngàn người Kurds bị bắt bớ, giam cầm, tống khứ, và khoảng 30 ngàn người đã bị giết chết.  Nhưng không giống như Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ là “người bạn của chúng ta”, một “our friend”.

 

Năm 1995 và 1997, có đến 50 ngàn quân Thổ Nhĩ Kỳ, được yểm trợ bằng xe tăng, chiến đấu cơ, tiến chiếm những vùng an toàn dành cho người Kurds.  Họ khủng bố làng xã người Kurds và thảm sát cư dân.  Tháng 12 năm 2000, họ quay trở lại những “vùng an toàn” này và tiếp tục những hành động khủng bố, giết người trong làng xã của người Kurds.

 

Để tưởng thưởng cho việc Thổ Nhĩ Kỳ tham gia vào liên minh chống Iraq, Mỹ viện trợ cho Thổ Nhĩ Kỳ 6 tỷ đô la.  Những hành động khủng bố, tàn sát của Thổ Nhĩ Kỳ không khi nào được báo chí Tây phương tường thuật. 

 

Tháng 3 năm ngoái (2001), một số phi công thuộc không lực Anh kiểm tra những “vùng cấm bay” (thuộc miền Bắc Iraq) phàn nàn rằng công tác “bảo vệ” của họ bị giới hạn vì lực lượng của Thổ Nhĩ Kỳ.  Các phi công này báo cáo là họ được lệnh phải quay về các căn cứ ở Thổ Nhĩ Kỳ để cho không quan Thổ dễ bề dội bom xuống những vùng dân cư Kurds mà đáng lẽ họ phải bảo vệ.  Các phi công Mỹ bay chung với phi công Anh cũng báo cáo tương tự.  Thổ Nhĩ Kỳ còn bận rộn hơn cả Anh và Mỹ trong những công tác “nhân đạo” ở miền Bắc Iraq.  Họ (không quân Thổ) dội bom, đốt cháy làng mạc của người Kurds. 

 

Những cuộc dội bom do không lực Anh và Mỹ tiến hành ở Iraq rất đáng được ghi nhận.  Chỉ trong vòng 18 tháng (tính đến tháng 1, 1999) chiến đấu cơ Mỹ bay hơn 36,000 sorties trên Iraq, kể cả 24,000 phi vụ chiến đấu.

 

Thực ra, hai chữ “chiến đấu” (hay “combat”) cũng rất là gượng ép, bởi vì Iraq hầu như không có một lực lượng không quân, và không có hệ thống không thủ.  Thành ra, “chiến đấu” ở đây có nghĩa là dội bom, bắn tên lửa vào những cơ sở đã bị tiêu hủy thành tro bụi từ 12 năm về trước.

 

Tờ The Wall Street Journal, được xem như là tiếng nói chính thức của giới quyền uy ở Mỹ, mô tả một thế “tiến thối lưỡng nan” mà Mỹ đang gặp phải trước vấn đề Iraq.   Sau 8 năm kiểm soát những vùng cấm bay thuộc miền Nam và Bắc Iraq số đối tượng để dội bom chẳng còn lại bao nhiêu.  Một giới chức Mỹ nói: “Chúng ta đã làm cỏ đến căn nhà cuối cùng.”

 

Tôi đã thấy hậu quả của những cuộc tấn công này.  Ba năm trước đây, khi lái xe từ thành phố Mosul thuộc miền Bắc Iraq, tôi chứng kiến những mảnh sắt vụn từ một cái máy cày và một máy bơm nước với đầy lỗ đạn, miểng bom đầy đường, một chiếc giầy, và hàng trăm bộ xương của những con cừu đã chết khô tự bao giờ. 

 

Cũng tại đây, một gia đình gồm 6 người, một cha (người chăn cừu), một mẹ, và 4 người con bị bom hay tên lửa giết sạch, thân sát họ biến thành “thịt da nát tan”.  Ở đây không có cây cối, mà chỉ là một vùng đất trống không.  Từ trên không nhìn xuống, gia đình 6 người này chắc chắn là một mục tiêu rất dễ nhìn thấy.

 

Anh của người chăn cừu, Hussain Jarsis, đồng ý gặp tôi tại nghĩa trang nơi mà em của anh ta được chôn cất.  Anh ta và người góa phụ khác đến đó bằng một chiếc xe van cũ kỹ hiệu Toyota.  Người góa phụ trùm khăn đầu, với khuôn mặt đau khổ của người có người thân vừa mất, bồng một đứa bé, ngồi xuống vành đá, nơi mà bốn cái mộ của bốn đứa trẻ vừa mới chôn.   Người góa phụ gào thét: “Tôi muốn gặp người phi công đã giết con tôi.”

 

Anh của người chăn cừu nói cho tôi biết “Tôi nghe một tiếng nổ lớn, khi tôi chạy đến tìm em tôi và gia đình nó, máy bay lượn qua lượn lại trên đầu, tôi chạy đến đầu đường thì cuộc dội bom lần thứ tư lại bắt đầu.  Hai trái bom trước bắn trúng gia đình nó.”  

 

“Lúc đó tôi không biết chuyện gì xảy ra.  Chiếc máy cày bùng cháy, và tan thành từng mảnh vụn.  Không còn gì ngoài cái vỏ xe và bản số.”

 

“Tôi thấy ba cái xác, nhưng phần còn lại chỉ là những bộ phận của cơ thể rải rác khắp nơi.  Với trái bom sau cùng, tôi thấy mấy con cừu bị tung lên trời và rớt xuống từng mảnh một."

 

Lúc đó không ai biết máy bay của Mỹ hay Anh là thủ phạm của vụ tàn sát này.  Khi chi tiết cuộc tàn sát bị tiết lộ, và một ký giả đặt câu hỏi cho Bộ quốc phòng Anh ở Luân Đôn, một giới chức thuộc Bộ này nói, “Chúng tôi dành quyền hành động một cách mạnh mẽ khi bị đe dọa.”  Cuộc tàn sát này được Liên hiệp quốc chú ý đến.  Một viên chức cao cấp của Liên hiệp quốc, ông Hans Von Sponeck, tự mình lái xe từ Baghdad đến tận hiện trường để điều tra.

 

Ông Von Sponeck khẳng định rằng không có một căn cứ quân sự nào ở gần nơi mà gia đình bị tàn sát.

 

Ông Von Sponeck viết báo cáo về những điều mắt thấy tai nghe trong một tài liệu mật chỉ lưu truyền trong nội bộ Liên hiệp quốc, có tên là “Air Strikes in Iraq”.  Ông cũng cho biết rằng đã có hàng tá trường hợp tương tự xảy ra trong làng dân đánh cá, dân làm ruộng đã được ghi nhận.  Những cuộc tấn công này xảy ra một cách hết sức thường xuyên đến nổi ông ta phải ra lệnh cho các xe tải của Liên hiệp quốc tránh di chuyển vào buổi chiều.

 

Qua việc thi hành nhiệm vụ của mình, Von Sponeck, một nhân viên cao cấp của Liên hiệp quốc với một sự nghiệp xuất sắc trên thế giới và đại diện của Liên hiệp quốc ở Iraq, đã trở thành kẻ thù của những thế lực ở Hoa Thịnh Đốn và Luân Đôn.  Người Mỹ yêu cầu ông Kofi Annan, Tổng thư ký Liên hiệp quốc, sa thải von Sponeck.  Nhưng ngạc nhiên thay, Annan chẳng những không sa thải, mà còn ủng hộ việc làm công minh của, von Sponeck. 

 

Tuy nhiên, vài tháng sau, von Sponeck cảm thấy ông không thể nào điều hành những chương trình giúp đỡ nhân đạo ở Iraq trong bối cảnh bị đe dọa từ Mỹ và Anh và những đợt dội bom liên tục.  Ông từ chức trong tinh thần phản đối.  Von Sponeck không phải là người duy nhất từ chức như thế, mà trước đó một người tiền nhiệm khác là ông Denis Halliday, một Phó bí thư Liên hiệp quốc, cũng từng từ chức để phản đối chính sách của Mỹ và Anh đối với Iraq mà ông ta gọi là chính sách “diệt chủng” (“genocidal”).

 

Bây giờ, qua các văn thư của chính phủ Mỹ và Anh, người ta càng ngày càng thấy rõ hai nước này đang chuẩn bị tiến hành một cuộc giết người khác ở Iraq.  Chủ thuyết “Liên hiệp Hành quân Đo thị” (Doctrine for Joint Urban Operations) của Ngũ giác đài cho rằng ngoại trừ trường hợp Baghdad thất thủ nhanh chóng, thành phố này sẽ là mục tiêu của hỏa lực tràn ngập.  Cuộc kháng chiến ở Thành phố Stalingrad trong Thế chiến thứ II được xem là một bài học.

 

Bom chùm (cluster bomb), bom xâm nhập (deep penetration bomb), và bom uranium chắc chắn sẽ được đem ra sử dụng trong cuộc chiến sắp tới ở Iraq.  Bom uranium là một vũ khí tàn sát hàng loạt (WMD hay weapon of mass destruction).  Loại bom này được gắn trên tên lửa và đạn xe tăng, sức nổ và khả năng tàn phá của bom rất lớn; ngoài ra nó còn có thể gây phóng xạ trong một diện tích rộng, nhất là trong vùng sa mạc.

 

Giáo sư Doug Rokke, một Nhà vật lý thuộc quân đội Mỹ phụ trách phần quét sạch uranium ở Kuwait nói với tôi rằng: “Tôi giống như phần đông dân miền Nam Iraq, mang trong người một độ phóng xa cao gấp 5000 lần độ an toàn.  Cái mà chúng ta nhìn thấy bây giờ, như các vấn đề về hô hấp, thận, ung thư ... là hậu quả trực tiếp [của chiến tranh].”

 

“Còn những tranh cãi chung quanh câu hỏi có phải uranium là nguyên cớ gây ra những bệnh tật này hay không thì chỉ là một câu hỏi được dựng lên.  Tình trạng sức khỏe của tôi hiện nay là một bằng chứng về sự tác hại của uranium.”

 

Hậu quả của vũ khí tàn sát hàng loạt vừa được đề cập đến một cách ngắn ngủi trong tuần qua.  Quỹ Nhi đồng thuộc Liên hiệp quốc (UNICEF) vừa công bố một báo cáo về tình trạng sức khỏe của trẻ em trên thế giới.  Cái giá mà con người phải trả cho việc bế môn tỏa cảng Iraq của Mỹ được đề cập đến trong báo cáo bằng những con số thống kê mà có lẽ không cần diễn dịch ai cũng hiểu. 

Bản báo cáo viết, “So với năm 1990, tỷ lệ tử vong trong trẻ em ở Iraq ngày nay tăng gấp 3 lần, và với tỷ lệ này, Iraq được xếp vào hạng các nước kém phát triển nhất trên thế giới.”

 

“Tình trạng tụt hậu của Iraq trong vòng một thập niên qua được ghi nhận là tồi tệ nhất trong số 193 quốc gia được khảo sát qua.  Hiện nay, một phần tư trẻ em Iraq được coi là thiếu cân và hơn một phần năm là còi cọc vì thiếu dinh dưỡng.”

Theo các qui định trong chính sách bế môn tỏa cảng, mỗi người Iraq được phép có khoảng £100 (100 bảng Anh) để sống cho cả năm.

 

Cho đến nay, cái giá của việc dội bom xuống Iraq một cách phi pháp và bí mật là một tỷ bảng Anh.

 

(*) Nguyễn Văn lược dịch từ bài “The secret war: the US war against Iraq is well underway” của John Pilger, đăng trên tờ The Mirror, ngày 20 tháng 12, 2002.

flash-5sac.gif (367 bytes) đọc tiếp: Mỹ sau ngày 9/11 Nguyễn Văn

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........