curley_sw_03.gif (1967 bytes)   Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw_03.gif (1967 bytes)

.......... .


Người Mĩ tự hào và chủ nghĩa tân đế quốc

  • Nguyễn Văn

            Năm 1864, khi Abraham Lincoln đắc cử tổng thống, Karl Marx đại diện cho Hiệp hội Công nhân Quốc tế (International Workingmen's Association) gửi lời chúc mừng.  Lúc đó, Charles Francis Adams, một bộ trưởng của Mĩ ở Luân Đôn thay mặt Lincoln trả lời Marx: “Chính phủ Mĩ ý thức sâu sắc rằng chính sách của Mĩ, hiện nay cũng như trong quá khứ, là không phản cách mạng, nhưng đồng thời, đường lối của Mĩ sẽ đi sát với chương trình nghị sự đã được vạch ra từ lúc ban đầu: đó là không dính dáng vào các cuộc tuyên truyền hay can thiệp phi pháp ở bất cứ nơi nào.  Chính sách đó phấn đấu cho sự bình đẳng và công lí đúng đắn cho tất cả các nhà nước, tất cả con người  [...] Quốc gia không phải tồn tại chỉ một mình và cho riêng quốc gia đó; Quốc gia tồn tại để cổ vũ cho sự thịnh vượng và hạnh phúc của nhân loại bằng những hợp tác nhân đạo."  Đến thời Tổng thống George W. Bush thì chính sách đó trở thành "Hoặc là các anh theo chúng tôi, hoặc là các anh chống chúng tôi.”   Nhưng tại sao có sự thay đổi đột ngột như thế?

            Chủ nghĩa quốc gia Mĩ luôn luôn xen kẽ hay luân phiên giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lí tưởng.  Chủ nghĩa lí tưởng bị nhóm theo chủ nghĩa hiện thực xem là một mối đe dọa, và họ khai thác tận cùng chủ nghĩa này.  

           Hơn một trăm năm trước, Alexis de Tocqueville mô tả Mĩ như là một quốc gia của những tương phản giữa những gì gắn bó với địa phương và những gì gắn bó với biến chuyển; giữa chủ nghĩa vật chất và tôn giáo; giữa tư hữu và công hữu.  Đặc tính này của nước Mĩ vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.  Mĩ là một “cộng hòa thương mại” như Thomas Jefferson có lần nhận xét một cách xót xa trước khi ông qua đời năm 1826, 5 năm trước khi De Tocqueville ghé thăm Mĩ.  Bản Tuyên ngôn độc lập Mĩ là một văn bản tự phát, chứ không phải là di sản của một chủ trương hay triết lí nào.  Bất cứ ai cũng có thể tham dự vào nước Mĩ nếu đồng ý với các nguyên lí của Bản tuyên ngôn.  Do đó, Mĩ có khả năng hấp thụ, dù không hoàn hảo, các tôn giáo như Kitô giáo La Mã, Phản thệ giáo, Do Thái giáo, người da đen, da trắng, Âu châu, Châu Mĩ Latin, và Á châu.

            Chính phủ hiện nay ở Washington hành động một cách siêu thực.   Chính phủ ông Bush đòi hỏi nhân quyền cho người Iran, rồi yêu cầu một tòa án Mĩ ngưng xử một vụ kiện công ti Exxon bị tố cáo có dính líu vào những vụ đàn áp ở Nam Dương.

             Những ai còn nhớ đến chủ nghĩa Stalin sẽ nhận ngay những triệu chứng này.  Tuy nhiên, Stalin nắm trong tay những phương tiện truyền thông; còn Mĩ thì nhường những phương tiện này cho giới tư bản để thương mại hóa dư luận công chúng.   Chính phủ ông Bush được một nhóm yếm thế sử dụng để mua dư luận công chúng và chính khách trong và ngoài nước Mĩ.  Chế độ ông Bush bao gồm những người thuộc phe Phản thệ giáo chính thống (Protestant fundamentalists), những người tin rằng Mĩ đang đóng vai hiệp sĩ trong thiên anh hùng ca về kẻ thiện chống kẻ ác như mô tả trong Kinh thánh.  Họ tin rằng nước Mĩ được Thượng đế trao quyền để kiềm chế và lãnh đạo thế giới.

            Trong chế độ tương đối hiện đại của ông Clinton, Mĩ liên minh với quốc tế, không nôn nóng làm bá quyền thế giới, và tỏ ra có trách nhiệm, bao dung với xã hội.  Đối với ông Bush, đó là những gì của quá khứ. 

            Có phải Bush là một người nệ cổ, hay là một người theo chủ nghĩa tân thời?  Trong giai đoạn đầu lập quốc của Mĩ, những người theo Đảng Cộng hòa chống lại chính sách nô lệ.  Đảng Cộng hòa lúc đó có mộng bành trướng xuyên lục địa (Lincoln từng phục vụ trong chiến tranh Mễ Tây Cơ), nghiêng về kĩ nghệ hóa, và vô hạn chế di dân từ Âu châu.  Mục tiêu tối hậu của Mĩ là bảo vệ cuộc thí nghiệm xã hội và bảo vệ quyền lợi quốc gia trong một thế giới được xem là nguy hiểm.

             Đến cuối thế kỉ 19, Mĩ thành công với cuộc thí nghiệm xã hội, và bắt đầu nhìn ra thế giới bên ngoài.  Tây phương, sau khi thành công trong cuộc cách mạng kĩ nghệ, còn nhiều năng lực thừa thải để đi chinh phục những thế giới mới.   Dư luận công chúng, cùng với những người sô-vanh theo đuổi chủ nghĩa can thiệp, tuyên chiến với Tây Ban Nha.  McKinley (1897-1901), thuộc Đảng Cộng hòa, dành quyền kiểm soát Phi Luật Tân, mở đầu cho chủ nghĩa đế quốc đạo đức.

Nhà nước của chiến tranh và thịnh vượng

            Khi người Phi Luật Tân nổi dậy đòi quyền độc lập, một phong trào liên minh gồm những người Mĩ bất đồng chính kiến được hình thành, và một cuộc tranh luận gay gắt xảy ra sau đó, làm tiền đề cho những tranh luận sau này về chiến tranh Việt Nam.  Nên nhớ là năm 1968, những “nhà thông thái”, những thành phần thống trị nước Mĩ, chỉ thị cho Lyndon Johnson phải chấm dứt chiến tranh Việt Nam vì tốn nhiều tiền của và làm tê liệt đạo đức Mĩ.  McKinley chỉ còn biết dựa vào chủ nghĩa tư bản bá quyền.  Và thế là chủ nghĩa đế quốc Mĩ ra đời. 

            Chủ nghĩa này được những người nối nghiệp McKinley nuôi dưỡng và phát triển. Theodore Roosevelt (1901-1908) là một nhà cải cách, lèo lái nước Mĩ đến một bến bờ quyền lực lớn.  Ông khuyến kích cuộc cách mạng ở Columbia để tạo nên một quốc gia mới, Panama, và qua đó mà đào con kênh nổi tiếng.  Ông tuyên bố rằng Mĩ chiếm hữu toàn bộ vùng Tây bán cầu, và là “một cảnh sát quốc tế.”

            Chính sách của Roosevelt là một chính sách theo mô hình xã hội đế quốc chủ nghĩa.  Những người sau ông tiếp tục thi hành chính sách này qua mô hình một nhà nước chiến tranh – thịnh vượng (warfare – welfare state).  Nhưng chính sách này cũng gặp phải một vài chống đối từ giới tôn giáo, một bộ phần trí thức phi tôn giáo, và những người theo chủ nghĩa xã hội.  Giới nông dân thuộc phong trào quần chúng tự xem họ là kẻ thù của sự hiện đại hóa ngoài thành thị; họ cho rằng cái đế quốc mới chẳng đem lại lợi ích gì cho họ.  Họ cho ra đời một chủ nghĩa biệt lập, chủ trương không can dự vào cuộc tranh chấp giữa nội bộ Đảng Cộng hòa và giới kĩ nghệ và ngân hàng.

            Sau cùng, Đảng Cộng hòa phản đối chính sách cải cách kinh tế của Roosevelt.  Roosevelt thất cử, Woodrow Wilson (1913-1921), một người cải cách thuộc Đảng Dân chủ lên làm tổng thống.  Wilson là người theo chủ nghĩa Calvinism, sẵn sàng can thiệp vào Châu Mĩ Latin.  Chính phủ Đảng Dân chủ của Wilson tiếp tục thu nhập người di dân, đặc biệt là Thiên chúa giáo, vào chính trị.  Giới theo chủ nghĩa quốc tế chào mừng và ủng hộ Wilson trong cuộc chiến chống Đức.  Đối lập từ nhóm xã hội chủ nghĩa và phong trào quần chúng thuộc Đảng Dân chủ, mà người lãnh đạo là William Jennings Bryan, từ chức Bộ trưởng ngoại giao.

            Nhưng cuộc chiến đem lại sự đoàn kết của nhiều nhóm với những ý thức hệ khác nhau trong chủ nghĩa đế quốc mới, trí thức, tư bản, và phong trào công đoàn, trong một chính phủ liên bang mở rộng.  Với Dự án Wilson [kế hoạch đưa Mĩ thành một thành viên trong Liên minh đa Quốc gia (League of Nations)] thất bại do chống đối từ nhiều nhóm.  Những người theo chủ nghĩa biệt lập thuộc hai đảng Dân chủ và Cộng hòa trả thù cho cuộc chiến mà họ không muốn.  Còn những người thuộc chủ nghĩa đơn phương đòi hỏi một nhà nước tự trị.  Đối thủ lợi hại của Wilson là Thượng nghị sĩ Lodge, một chính trị gia thuộc dòng dõi quí tộc ở tiểu bang New England, người cho rằng giờ điểm quốc gia đã đến: Mĩ là một nước với quyền lực mạnh nhất thế giới.

            Trong những năm sau đó, giới thượng lưu Mĩ nắm quyền ảnh hưởng và hoạch định chính sách ngoại giao, và chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh mới.  Phần lớn giới khoa bảng, ngân hàng, báo chí, luật sư, v.v… thuộc thành phẩn Phản thệ giáo.  Họ thành lập một Hội đồng Ngoại giao (Council on Foreign Relations), và qua Hội đồng này, họ gây áp lực và ảnh hưởng đến đường lối của chính phủ Mĩ.   Họ đặt ra chương trình nghị sự ngoại giao, phân biệt những ý tưởng có trách nhiệm, và những ý tưởng vô trách nhiệm.  John Foster Dulles, từng làm luật sư cho Hitler và cũng là một Bộ trưởng Ngoại giao tương lai dưới thời Dwight Eisenhower (1953-961), là một trong những nhân vật chủ chốt của Hội đồng này.  Henry Kissinger, qua tiến cử của Nelson Rockefeller cũng nằm trong Hội đồng Ngoại giao.

            Thành viên Hội đồng Ngoại giao xâm nhập chính phủ trong cả hai Đảng Cộng hòa và Dân chủ.  Tuy họ có thể bất đồng về đường lối ngoại giao, nhưng họ hoàn toàn nhất trí về tầm quan trọng của quyền lực nước Mĩ.  Dĩ nhiên, nhóm miền Đông và thành phần Wall Street của Đảng Cộng hòa nắm phần chủ chốt.  Họ phải tranh đấu trong nội bộ Đảng Cộng hòa, nhất là với những người theo phong trào quần chúng thuộc vùng Trung Tây nước Mĩ.  Những người Cộng hòa thuộc vùng Trung Tây không tin vào những người miền Đông, và họ trở thành những người theo chủ nghĩa biệt lập.  Sự biệt lập của họ sau này có thêm hai thành phần mới: di dân gốc Đức và Ái Nhĩ Lan, những người nhất định li khai với Anh Quốc.

            Đảng Dân chủ dưới thời Franklin Roosevelt (1933-1945) là một liên minh nhiều thành phần mâu thuẫn nhau, như xã hội chủ nghĩa, công đoàn, kĩ thuật gia, và giới làm ngân hàng.  Đảng Dân chủ lúc đó còn là nơi “trú ngụ” của những người Cộng hòa cấp tiến, những người theo đạo Thiên chúa giáo La Mã, và người Do Thái.  Chủ nghĩa quốc tế của Roosevelt mang dấu ấn chủ nghĩa Wilson, nhưng với một sắc thái dân chủ xã hội.  Tình trạng chia rẽ trong Đảng Dân chủ cũng như Đảng Cộng hòa làm cho ông thất cử vào tay của Harry Truman (1945-1953), một người chủ trương liên minh với giới tư bản và theo đuổi chính sách nhà nước chiến tranh – thịnh vượng.

            Đảng Cộng hòa từ bỏ chủ nghĩa biệt lập vào năm 1941.  Nhưng, dưới hình thức chủ nghĩa McCarthy và sự bất tín Âu châu, họ cung cấp cho miền Trung Tây nước Mĩ và những đơn vị cử tri nhỏ với một chủ nghĩa quốc gia ngỗ ngược.  Người theo Phản thệ giáo ủng hộ những sứ mệnh truyền giáo ở Trung Quốc trong suốt một thế kỉ liền, và đặc biệt thù oán chế độ Cộng sản ở Trung Quốc.  Người theo chủ nghĩa đơn phương trong nội bộ Đảng Cộng hòa cũng không tin tưởng vào những đàm phán về kiểm soát và giới hạn vũ khí, họ cảm thấy hấp dẫn trước những học thuyết thần học về vũ khí hạt nhân, và tinh thần hiếu chiến.  Điều đáng nói là các tổng thống thuộc Đảng Cộng hòa (như Eisenhower, Nixon, Ford, và ngay cả Reagan và Bush cha) dù tuân phục chính sách ngoại giao của những thành phần thuộc Hội đồng Ngoại giao, nhưng họ có vẻ đa phương không kém gì những người Dân chủ.

            Các hoạt động vụng trộm của cơ quan tình báo CIA, các can thiệp về kinh tế, chính trị và quân sự khắp nơi trên thế giới và những mánh khoé tàn bạo là những đặc điểm của cả hai phe Dân chủ và Cộng hòa.  Nhìn lại quá khứ, nhiều điều khác biệt giữa hai đảng này thực ra chẳng có ý nghĩa gì đáng kể. 

Chuyển hướng

            Thế còn ông tổng thống hiện nay khác với những người trước như thế nào?  Ông nội của George W. Bush là Prescott Bush, một người thuộc bang New England và là một đối tác giàu có nhất với Averill Harriman, một người theo đảng Dân chủ.   Prescott, thống đốc và thượng nghị sĩ ở Connecticut, chấp nhận chủ nghĩa quốc tế của Franklin Roosevelt, và hợp đồng xã hội của ông.  Con trai ông, Bush cha, cựu tổng thống Mĩ , rời New England trong thời hậu chiến về Texas, thành công trong thương trường và chính trị ở đây nhờ vào các thế lực tư bản ở Texas.  (Sau này ông trở thành Đại sứ Mĩ ở Trung Quốc và Liên hiệp quốc, và là tổng giám đốc cơ quan CIA trước khi trở thành phó tổng thống cho Reagan, và sau cùng là tổng thống.)  Là một đại diện cho những người Cộng hòa thủ cựu, ông không cảm thấy thoải mái với sự bình dân của Reagan.  Khi vận động tranh cử tổng thống, ông từ chức khỏi Hội đồng Ngoại giao, và có người Cộng hòa nghĩ rằng đó là một âm mưu để kết liễu chủ quyền của nước Mĩ.

            Con trai ông, nay là tổng thống, không có những gò bó nào cả.  George W. Bush thành công trong chính trường ở Texas.  Ông không tấn công nhà nước thịnh vượng.  Ông làm việc với người da đen và người Mĩ gốc châu Mĩ Latin (Hispanics).   Ông đánh bại một ngôi sao sáng chói của Đảng dân chủ, cựu thống đốc Ann Richards, và lắp vào cái khoảng trống ý thức hệ bằng một thứ ngôn ngữ cá nhân và tôn giáo.  Người Dân chủ chế giễu thói gia đình trị của Bush, và ngạo Bush vì họ cho rằng Bush xem chính trị như là một thương trường.   Nhưng Bush nắm được một phần của cái chủ nghĩa tư bản kiểu Mĩ, đó là sự hòa hợp giữa chính phủ và thị trường.  Những đồng minh thương mại của Bush (và cha ông, vẫn còn hoạt động trong lĩnh vực đầu tư, vận động, thậm chí chính khách) dính dáng vào những dịch vụ buôn bán vũ khí, dịch vụ tài chính, dầu hỏa, và công nghệ.  Bush đặt những người đại diện ông vào vị trí lãnh đạo trong các cơ quan chính phủ liên bang.

             Để nâng cao tinh thần quốc gia chủ nghĩa, ông Bush không ngớt so sánh một cách thù địch giữa thế giới ngoài Mĩ và xã hội giàu có trong nước Mĩ.  Chính sách hạn chế các chương trình phúc lợi xã hội trong nước của chính phủ Bush làm khơi dậy một giai đoạn “social imperialism”, chủ nghĩa đế quốc xã hội,  trong những năm 1941 đến 1964.  Một số người Mỉ vẫn cho rằng chủ nghĩa tư bản Mĩ là một hệ thống tội phạm gây khó khăn cho chính phủ duy trì một sự thống nhất trong xã hội.

            Chính phủ Mĩ biết được điều này, và họ cố gắng phát triển tình đoàn kết dân chúng bằng các luận điệu gây chiến tranh với thế giới bên ngoài.  Đảng Dân chủ gắn liền với các thế lực người Do Thái chỉ biết đến chiến tranh với Iraq (và có thể cả Iran) chắc chắn sẽ chẳng phản đối chính sách gây chiến của ông Bush. 

            Đảng Dân chủ đang trải qua một cơn ác mộng về tư tưởng và đường lối chính trị.  Ông Bush gần như không có đối lập.  Ông cai trị như là một tổng thống với thiểu số phiếu, nhưng sau tháng 12 năm 2002 (với sự thất bại thê thảm của Đảng Dân chủ trong kì bầu cử) ông trở thành một người hùng với đa số phiếu.  Biến cố 9/11 là một cơ hội có một không hai cho ông Bush để ông ta chứng tỏ rằng mình cũng có một sứ mệnh rõ ràng: gây chiến tranh.

            Những người dầy công nghiên cứu và tìm cách khai thác biến cố 11/9 là những cựu quan chức trong Chính phủ của Tổng thống Ronald Reagan, thời gian mà các nhóm quá khích hữu khuynh và những cơ quan nghiên cứu chiến lược (“think-tanks”) được thành lập để trả thù cho sự thất bại của Mĩ ở Việt Nam.  Trong thập niên 1990s, họ có thêm một mục mới trong chương trình nghị sự: tìm cách hợp thức hóa một cuộc chiến mới sau thời kỳ Chiến tranh lạnh.  Để nghiên cứu sâu về chủ đề này, một dự án có tên là “Project for the New American Century” (hay còn gọi là PNAC) được thành lập, cùng với các tổ chức nghiên cứu như American Enterprise Institute, Hudson Institute, và vài nhóm nhỏ khác, hiện đang tìm cách thực hiện những tham vọng còn tồn đọng [dưới thời Tổng thống Reagan] trong thời Tổng thống George W. Bush hiện nay.

            Một trong những “nhà tư tưởng” cho George W. Bush's là Richard Perle.  Perle là một trong những sáng lập viên của PNAC, và nay là chủ tịch Hội đồng Quốc phòng Mĩ.  Các sáng lập viên khác gồm những người như Dick Cheney, nay là Phó tổng thống; Donald Rumsfeld, Bộ trưởng quốc phòng; Paul Wolfowitz, Thứ trưởng quốc phòng; I. Lewis Libby, Chánh văn phòng của Cheney; William J. Bennett, Bộ trưởng giáo dục thời Reagan; và Zalmay Khalilzad, Đại sứ Mỹ ở A Phú Hãn.  Ông Perle thích nói về một cuộc chiến tranh toàn diện  (“total war”).   Perle khẳng định rằng không có chiến tranh từng giai đoạn (stages war), mà là chiến tranh toàn diện.  Ông nói thêm: chúng ta đang chiến đấu với nhiều kẻ thù, kẻ thù ở khắp nơi ngoài Mĩ.  Perle muốn Mĩ ôm gọn cả thế giới không phải bằng các phương tiện ngoại giao, mà bằng chiến tranh toàn diện.  Ông mơ tưởng về tương lai, khi mà vài mươi năm sau, thế hệ con cháu ông sẽ ca ngợi sự sáng suốt của tiền nhân như ông.

            Trong một báo cáo tựa đề “Rebuilding America's Defences: strategy, forces and resources for a new century”, nhóm PNAC soạn thảo ra một kế hoạch cho Mĩ trong tương lai.  Hai năm trước đây, tức là trước khi Bush đắc cử, PNAC đề nghị tăng thêm 48 tỉ đô-la cho ngân sách vũ khí để Washington có thể đánh và thắng nhiều cuộc chiến cùng một lúc.  Điều này thực ra đã xảy ra.  Trong báo cáo, PNAC còn đề nghị Mĩ nên phát triển các vũ khí hạt nhân có khả năng truy tầm và xâm nhập vào các hầm trú ẩn (gọi là “bunker-buster nuclear weapons”) và đưa chương trình “Star wars” lên một trong những ưu tiên hàng đầu cho quốc gia.  Chương trình này đang được thực hiện.  Báo cáo còn đặt ra một kế hoạch rằng nếu George W. Bush đắc cử, Iraq phải là mục tiêu quân sự.  Và nay, như chúng ta thấy, Iraq đang là một đối tượng cho Mĩ khởi đầu cuộc chiến ở vùng Vịnh lần thứ hai.

            Về những tố cáo rằng Iraq đang sản xuất các vũ khí tàn sát hàng loạt (weapons of mass destruction), báo cáo của PNAC bác bỏ đó chỉ là những cái cớ.  Bản báo cáo nhận định rằng trong khi chuyện xung đột với Iraq tự nó là một lí do cho một cuộc chiến mới, việc duy trì một lực lượng quân sự Mỹ ở vùng Vịnh sẽ làm cho vấn đề chế độ Saddam Hussein dễ giải quyết hơn.   Chiến lược vĩ mô này được thực thi như thế nào?  Một loạt bài báo trên tờ Washington Post do Bob Woodward (người từng phanh phui vụ Watergate thời Nixon) viết cho thấy biến cố 11/9 đã được khai thác ra sao.

            Sáng ngày 12 tháng 9, năm 2001, dù chưa có bằng chứng nào về gốc gác của nhóm cướp máy bay đâm vào hai tòa nhà ở New York, Donald Rumsfeld yêu cầu Mĩ tấn công Iraq.  Theo Woodward, Bộ trưởng quốc phòng Rumsfeld tuyên bố trước Nội các rằng Iraq nên là một mục tiêu đầu tiên và chủ yếu trong vòng đầu của cuộc chiến chống khủng bố.  Nhưng mục tiêu Iraq tạm thời được bỏ qua bên, vì Bộ trưởng ngoại giao Colin Powell, thuyết phục Tổng thống Bush rằng dư luận công chúng cần phải được uốn nắn trước khí tấn công Iraq (nguyên văn: “public opinion has to be prepared before a move against Iraq is possible”).  A Phú Hãn được chọn làm mục tiêu tấn công.  Nếu ước tính của Jonathan Steele (ký giả của tờ Guardian) đúng thì khoảng 20,000 (20 ngàn) người A Phú Hãn đã bỏ mạng cho những tranh luận và lựa chọn mục tiêu của Tòa Bạch Ốc!

            Hết ngày này sang tháng nọ, biến cố 11/9 được mô tả như là một cơ hội – một “opportunity”.  Theo Nicholas Lemmann viết trên tờ New Yorker (số tháng Tư, 2002), Cố vấn an ninh quốc gia, Condoleezza Rice, báo cáo với ông Bush rằng bà ta đã triệu tập một cuộc mít-tinh gồm các thành viên cao cấp của Hội đồng An ninh Quốc gia (National Security Council) và đặt vấn đề nên tận dụng biến cố 9/11 như thế nào (“to think about 'how do you capitalise on these opportunities'”), mà bà ta so sánh với những biến cố trong những năm 1945 – 1947: thời điểm khởi đầu của cuộc Chiến tranh lạnh.  Kể từ tháng 9 năm 2001, Mĩ đã thiết lập nhiều căn cứ quân sự tại các nước có dầu hỏa, nhất là ở vùng Trung Á.  Công ti dầu hỏa Unocal xây dựng đường ống dẫn dầu ngang qua A Phú Hãn.  Tổng thống Bush không kí vào Tuyên bố Kyoto về môi trường; quay lưng với Tòa án Quốc tế về tội phạm chiến tranh; và không kí hiệp định về hạn chế tên lửa.  Bush còn tuyên bố, nếu cần, ông sẽ dùng vũ khí hạt nhân chống những nước không có vũ khí hạt nhân.  Dưới chiêu bài tuyên truyền về Iraq có vũ khí tàn sát hàng loạt, Chính phủ Bush đang tấn công Iraq, và xem thường các qui ước quốc tế về vũ khí sinh học và vũ khí hóa học.

            Có thể nói chính phủ ông Bush chỉ là một cơ chế thực hiện giấc mơ tân đế quốc mà các cố vấn của ông đã đề ra trước đây.  Mục tiêu A Phú Hãn và Iraq chỉ là hai trong những mục tiêu gây chiến mà những kiến trúc sư của chủ nghĩa này đã vạch ra từ lâu, trước khi George W. Bush trở thành tổng thống.  Sự ngạo mạn và cực đoan của người Mĩ cùng với chủ nghĩa đế quốc của họ là một mối đe dọa cho hòa bình thế giới.

 

arrow.gif (848 bytes)  Về trang Nghiên cứu & đối thoại tháng 4-2003

Home  |  Top Page | Về trang mục lục

© Thư từ và bài viết cho mục này, xin gởi attachment về email: giaodiem@giaodiem.net

. ..........